Phát triển nông nghiệp bền vững ở một số nền kinh tế chuyển đổi bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN KHOÁT

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN:

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở MỘT SỐ
NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN KHOÁT

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN:

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở MỘT SỐ
NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc Tế
Mã số: 62.31.01.06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân
đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này.

Hà Nội, Ngày

tháng

năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Xuân Khoát


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án ................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án .................................................... 4
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án ............................... 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án.............................................................. 7
7. Kết cấu của luận án .............................................................................................. 8
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ............................... 9
1.1. Tổng quan các nguồn tài liệu ............................................................................ 9
1.1.1. Về vai trò của nông nghiệp ............................................................................ 9
1.1.2. Về các quốc gia chuyển đổi và nông nghiệp bền vững ................................ 12
1.1.3. Về phát triển nông nghiệp và các chính sách phát triển nông nghiệp ........ 15
1.2. Những vấn đề đã thống nhất, các vấn đề còn tranh luận, các vấn đề còn bỏ
ngỏ liên quan đến luận án ...................................................................................... 18
1.3. Các câu hỏi nghiên cứu chính ......................................................................... 21

3.3.1. Các chính sách chuyển đổi và cải cách, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền
vững ở Nga ............................................................................................................. 86
3.3.2. Thành tích đạt được về phát triển nông nghiệp bền vững ở Nga ................ 95
3.3.3. Một số vấn đề tồn tại về phát triển nông nghiệp bền vững ở Nga............... 99
3.4. Đánh giá về phát triển nông nghiệp bền vững trong quá trình chuyển đổi, một
số vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc, Ba Lan và Nga ......................................... 100
3.4.1. Đánh giá về phát triển nông nghiệp bền vững trong quá trình chuyển đổi
đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của Trung Quốc, Ba Lan và
Nga ....................................................................................................................... 100
3.4.2. Một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay.......................................... 103
CHƢƠNG 4: PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC, BA LAN VÀ
NGA ..................................................................................................................... 106
4.1. Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế ......................................................................................... 106
4.1.1. Các chính sách chuyển đổi và cải cách, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền
vững ...................................................................................................................... 106
4.1.2. Thành tích đạt được về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam ...... 111
4.1.3. Một số tồn tại và nguyên nhân ................................................................... 119
4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ kinh nghiệm phát triển nông nghiệp
bền vững ở Trung Quốc, Ba Lan, Nga và một số gợi mở các giải pháp áp dụng bài
học kinh nghiệm ở Việt Nam ............................................................................... 129
4.2.1. Bài học kinh nghiệm cho phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam ... 129
4.2.2. Một số gợi mở các giải pháp áp dụng bài học kinh nghiệm phát triển nông
nghiệp bền vững ở Việt Nam ............................................................................... 135
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 147


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT


Bất động sản

CAP

Common Agricultural
Policy

Chính sách nông nghiệp

Central European Free

Hiệp định thương mại tự do

Trade Agreement

Châu Âu

EU

European Union

Liên minh Chấu Âu

EUROSTAT

Statistical Office Of The

Văn phòng thống kê của Hội


Gross National Product

Tổng sản phẩm quốc dân

HTX
IMF

Hợp tác xã
International Monetary

Quĩ tiền tệ quốc tế

Fund
KHCN

Khoa học - công nghệ

LHQ

Liên hiệp quốc

NDT

Nhân dân tệ


NXB
ODA

Nhà xuất bản


Phát triển nông nghiệp bền
vững

RPRP

Rural Poverty Reduction

Dự án Giảm nghèo Nông

Project

thôn

SXKD

Sản xuất kinh doanh

SXNN

Sản xuất nông nghiệp

UN

United Nations

Liên hiệp quốc

UNCED



phát triển thế giới

UNDP

Development
WTO
XHCN

World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới
Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số TT
Bảng 3.1

Tên bảng
Sản lượng lương thực của

Trang
62

Trung Quốc năm 2006 - 2015

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Số TT
Sơ đồ 2.1


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất khởi đầu của quá trình sản xuất vật chất,
quyết định sự tồn tại, phát triển của loài người và phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia. Vai trò của nông nghiệp là rất quan trọng, vì đây là nguồn cung
cấp lương thực thực phẩm cho toàn xã hội; cung cấp các yếu tố đầu vào cho
phát triển công nghiệp và đô thị; góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường
(BVMT). Ngoài ra nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu đem lại nguồn thu
nhập ngoại tệ.
Trên thế giới, nhiều nước có nền kinh tế chuyển đổi, các nước có nền kinh
tế chuyển đổi như Công hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), Cộng hòa Ba
Lan (Ba Lan) hay Liên bang Nga (Nga) đã có sự thay đổi lớn về mọi mặt của
đời sống kinh tế, chính trị, xã hội kể từ khi bắt đầu quá trình cải cách, mở cửa.
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở các nước này bắt đầu từ năm 1978 (Trung
Quốc), năm 1989 (Ba Lan) và khi Liên bang Xô viết sụp đổ, trường hợp nước
Nga năm 1991. Quá trình thực hiện chuyển đổi, cải cách, mở cửa đều hướng
tới nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Ở các nước này, nông nghiệp đã
được tập thể hóa trước khi quá trình giải thể được thực hiện. Quá trình cải cách
nông nghiệp gồm phi tập thể hóa, tư nhân hóa hay cho thuê đất và tài sản, điều
chỉnh giá và tự do hóa thị trường lao động, kêu gọi đầu tư nước ngoài, cải cách
về thể chế, chính sách,… ở những nước này đã có tác động rất mạnh đến phát
triển nông nghiệp (PTNN). So với quá trình cải cách chính sách ở các nước
phương Tây, cuộc cải cách và điều chỉnh ở các nước này là khác nhau bởi vì
nhiều chính sách được thực hiện đồng thời, một số trường hợp còn được thực
hiện mạnh mẽ. Tuy nhiên, tốc độ và mức độ thực hiện có sự khác nhau rất lớn
giữa các nước, hơn nữa, do cùng thực hiện các chính sách và ở các mức độ
khác nhau, do đó một số chính sách cải cách hỗ trợ cho nhau, một số chính
1


thu nhập quốc nội (GDP). Sự

PTNN thời gian qua chưa bảo đảm cho tăng trưởng bền vững, nền nông nghiệp
vẫn theo quy mô nhỏ, manh mún, chưa áp dụng triệt để lợi thế công nghệ hiện
đại, khoa học - kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nên hiệu quả kinh tế thấp, tình
trạng thực phẩm bẩn, ô nhiễm môi trường còn nặng nề, chưa đáp ứng được với
nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ nông hộ nghèo và nguy cơ tái
nghèo còn cao, các nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa được quản lý và khai
2


thác tốt dẫn tới mất cân bằng hệ sinh thái, ảnh hưởng tới môi trường. Xây dựng
nông thôn mới và phát triển nông thôn bền vững có vai trò rất quan trọng. Phát
triển bền vững (PTBV), trong đó có phát triển nông thôn bền vững là định
hướng, yêu cầu và xu hướng đang được thực hiện ở nhiều quốc gia, trong đó
có Việt Nam. PTNNBV là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược
chung đó. Vì vậy, để nông nghiệp PTBV, đạt giá trị lớn hơn về kinh tế, đảm
bảo an ninh lương thực, an sinh xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, hạn chế
ô nhiễm môi trường, vấn đề đặt ra là PTNN theo cách thức nào lại trở thành
chủ đề rất cấp bách đối với Việt Nam hiện nay. Đó cũng là lý do cần đặt vấn
đề nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Sau 30 năm “Đổi mới”, Việt Nam bên cạnh những thành tựu đạt được vô
cùng to lớn thì thực tiễn cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức cần phải được
giải quyết ngay không thể chậm chễ. Nhận thức được vấn đề này, Văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ X (2006) đã khẳng định: “Hiện nay và trong những năm tới,
vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan
trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghịêp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa
dạng, phát triển nhanh và bền vững”.

Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào các đối tượng PTNNBV ở Trung Quốc, Ba Lan, Nga
và Việt Nam, nghiên cứu thực trạng và các chính sách PTNNBV. Nghiên cứu
được xem xét, tiếp cận từ góc độ thực tiễn: đảm bảo nhịp độ tăng trưởng, giải
quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường, xây dựng nền nông nghiệp bền vững
trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung đi sâu về thực trạng, các chính sách PTNNBV từ cải cách, mở
cửa, chuyển đổi nền kinh tế ở Trung Quốc (từ 1978), Ba Lan (từ 1989), Nga
(từ 1991) và đổi mới ở Việt Nam (từ 1986), đặc biệt là những thời điểm
chuyển đổi có tính bước ngoặt ở mỗi nước về PTNNBV, nhưng không đi sâu
vào những vấn đề có tính vi mô của từng ngành, từng địa phương cụ thể.
4


Nông nghiệp được nghiên cứu ở đây trong phạm vi theo nghĩa hẹp (không
bao gồm lâm nghiệp và ngư nghiệp).
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Về phương pháp luận:
Trong quá trình thực hiện, để nghiên cứu PTNNBV ở một số nền kinh tế
chuyển đổi, tác giả đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, được thực hiện một cách toàn diện trong
các giai đoạn từ khi chuyển đổi nền kinh tế ở mỗi nước, đặc biệt là các mốc
quan trọng đánh dấu bước ngoặt của quá trình PTNNBV cho tới nay. Đồng
thời tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích thống kê, lôgic, so
sánh, phân tích tổng hợp.
Về phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nghiên cứu trên, tác giải đã sử dụng các phương pháp tiếp
cận hệ thống của kinh tế học vĩ mô, kinh tế phát triển, kinh tế nông nghiệp,
kinh tế học thể chế, kinh tế quốc tế, cách thức tiến hành nghiên cứu như sau:

sánh, hệ thống hóa, kế thừa, khảo sát thực tiễn để kiểm nghiệm kết quả và làm
sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm vi đề tài.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Về lý luận: Đề tài đi sâu luận giải, bổ sung và hoàn thiện khái niệm PTNNBV,
bổ sung về mặt lý thuyết thông qua việc:
- Phân tích và làm rõ nội dung PTNNBV ở Trung Quốc, Ba Lan, Nga và
Việt Nam trong trong quá trình chuyển đổi, tổng kết một số vấn đề cơ bản
trong quá trình PTNNBV của mỗi nước, từ đó gợi mở cho Việt Nam trong quá
trình hoạch định chính sách PTNNBV.
- Phân tích và làm rõ các yếu tố tác động đến PTNNBV ở các nền kinh tế
chuyển đổi gồm: điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu (BĐKH); an ninh lương
thực; khoa học kỹ thuật, công nghệ; vấn đề đô thị hóa; sử dụng phân bón, chất
bảo quản và hội nhập quốc tế.
- Làm rõ các chỉ tiêu đánh giá PTNNBV gồm các chỉ tiêu thể hiện tính
bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.
6


- Đánh giá tác động của PTNNBV đến việc tạo nguồn cung cấp lương
thực ổn định lâu dài cho xã hội, đảm bảo an toàn cho phát triển của nền kinh
tế; giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tạo và giữ ổn định việc làm cho
lao động nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo một cách bền vững.
- Mối quan hệ giữa PTNNBV và PTBV của mỗi quốc gia.
Về thực tiễn: Qua nghiên cứu thực trạng, đề tài đã tổng kết những vấn đề thực
tiễn về PTNNBV ở Trung Quốc, Ba Lan, Nga và Việt Nam làm tài liệu nghiên
cứu và học tập tại các trường đại học và những người quan tâm. Đồng thời góp
phần bổ sung những kinh nghiệm PTNNBV cho Việt Nam (những bài học
thành công mà Việt Nam có thể học tập và những bài học không thành công
cần né tránh), làm tài liệu tham khảo cho cá nhà hoạch định chính sách PTNN
nói riêng và phát triển kinh tế nói chung của Việt Nam.

PTNNBV: (1) Các khái niệm và tổng quan về lý thuyết PTBV; (2) Lý luận
chung về PTNNBV.
Chương 3: Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở Trung Quốc, Ba
Lan và Nga trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Chương này tập trung về
thực trạng và các chính sách PTNNBV của mỗi nước. Trong đó: (1) Nghiên
cứu các chính sách chuyển đổi và cải cách, thúc đẩy PTNNBV; (2) Thực trạng
PTNNBV ở mỗi nước; (3) Đánh giá những thành công và thất bại trong quá trình
chuyển đổi và một số vấn đề đặt ra hiện nay đối với các nước.
Chương 4: Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam và những bài học
kinh nghiệm từ Trung Quốc, Ba Lan và Nga. Từ kết quả nghiên cứu của các
chương trên, chương bốn sẽ nghiên cứu thực trạng PTNNBV, bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam từ kinh nghiệm PTNNBV ở Trung Quốc, Ba Lan,
Nga và một số gợi mở các giải pháp áp dụng bài học kinh nghiệm nhằm thúc
đẩy PTNNBV thời gian tới.

8


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nguồn tài liệu
1.1.1. Về vai trò của nông nghiệp
PTNN nói chung và PTNNBV nói riêng đã được nghiên cứu từ lâu. Các
nghiên cứu về vai trò của nông nghiệp thường được tiếp cận theo hai cách khác
nhau:
Cách tiếp cận truyền thống, nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp thông qua
các kênh liên kết thị trường như: (1) Cung cấp lao động cho công nghiệp hóa,
đô thị hóa; (2) Cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân số ngày càng tăng và
nhu cầu ngày càng cao. Hạn chế lệ thuộc vào nhập khẩu vì có thể dẫn tới lệ

con người, phát triển tài nguyên con người theo chiều sâu hỗ trợ trực tiếp tăng
hiệu quả sản xuất, kìm hãm quá trình di cư cũng tác động tích cực đến năng
suất lao động; (4) Liên kết với các “nhân tố điều kiện”, ví dụ như quyền sở
hữu, có vai trò quyết định giúp sản xuất nông nghiệp (SXNN) đạt tới mức thu
nhập bình quân tối ưu.
Với cách tiếp cận mới và những mô hình phát triển đã được kiểm chứng,
có thể hoàn thiện vai trò mới của nông nghiệp đốì với nền kinh tế, để xuất
những chính sách đúng đắn và động lực tích cực đầu tư vào nông nghiệp để
bảo đảm an ninh lương thực, giảm tỷ lệ đói nghèo ở cả thành thị và nông thôn,
giảm bất bình đẳng trong xã hội và cải thiện môi trường.
P. Timmer và A. de Janvry là hai học giả nổi tiếng có rất nhiều công trình
nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn. Trong các công trình gần đây có thể kể
đến “Chuyển dịch cơ cấu và vai trò của nông nghiệp vối phát triển kinh tế:
thực tiễn và khuyến nghị chính sách” năm 2008, “Nông nghiệp và tăng trưởng
cận nghèo: triển vọng cho châu Á” năm 2005, “An ninh lương thực và tăng
trưỏng kinh tế: triển vọng châu Á” năm 2004, đã chỉ ra rằng, mô hình cổ điển
về vai trò của nông nghiệp trong phát triển dựa trên bài học kinh nghiệm của
các nước phương Tây và lý thuyết kinh tế tân cổ điển của các học giả như
10


Arthur Lewis, Mellor, Adelman hay Kuznets coi nông nghiệp đóng vai trò hỗ
trợ công nghiệp hóa và vai trò này sẽ giảm bớt khi công nghiệp trở thành trọng
tâm của phát triển kinh tế. Mô hình lý thuyết này đã dẫn đến áp dụng các chính
sách đề cao công nghiệp hóa thông qua nền kinh tế mở không dựa vào nông
nghiệp, làm cho PTNN bị lãng quên trong vòng khoảng 20 năm (1985 - 2005).
Trong giai đoạn đó, mặc dù có nhiều thất bại của thị trường trên toàn thế giới,
nhưng các quốc gia vẫn giảm mạnh chi tiêu công và viện trợ tự phát triển cho
nông nghiệp. Vì vậy, công tác xóa đói, giảm nghèo đã chuyển từ các khoản thu
nhập tạo ra từ bên trong sang dựa vào hỗ trợ từ bên ngoài.

mới (mô hình mới, quản trị mới).
Michael Porter sau khi nghiên cứu tại nhiều quốc gia trên thế giới đã hoàn
thiện một mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia hiện đại, vừa có tính kế thừa,
vừa có tính bổ sung cho những lý thuyết cổ điển. Theo ông, lợi thế cạnh tranh
của một quốc gia hoàn toàn có thể tạo ra chứ không phải chỉ là yếu tố kế thừa
những điều kiện sẵn có như tài nguyên, lao động hay nguồn vốn. Lợi thế cạnh
tranh trong một ngành của một quốc gia được tạo ra bởi bốn thuộc tính của
quốc gia đó. Chúng gắn kết và củng cố lẫn nhau trong một cấu trúc chặt chẽ.
Đó là: (i) Vị thế của quốc gia về các yếu tố sản xuất đầu vào (lao động được
đào tạo, cơ sở hạ tầng,...); (ii) Đặc tính của nhu cầu trong nước đối với sản
phẩm hoặc hàng hóa của ngành; (iii) Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên
quan; (iv) Những điều kiện thành lập tổ chức và quản lý doanh nghiệp, cũng
như đặc tính của cạnh tranh trong nước. Mô hình này đã có đóng góp trong
PTNN của các nước.
1.1.2. Về các quốc gia chuyển đổi và nông nghiệp bền vững
Với luận điểm PTNNBV, đây là luận điểm tương đối hiện đại, quan tâm
và đề cập nhiều hơn đến môi trường và các yếu tố xã hội, chúng được thể hiện
trong các nghiên cứu gần đây của nhiều tổ chức quốc tế như FAO, UNDP,
OECD và các nghiên cứu thuộc lĩnh vực PTBV. Đi kèm với luận điểm này là
các mô hình nông nghiệp mới như: nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông
minh, nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp hữu cơ,… thay thế cho các mô hình
nông nghiệp truyền thống.
12


Với Trung Quốc, nông nghiệp, nông thôn, nông dân luôn được sự quan
tâm của nhiều học giả, kể như: “Chuyên gia nông nghiệp Trung Quốc bàn về
“tam nông” và xây dựng nông thôn khá giả toàn diện” do Trương Căn Sinh
chủ biên; “Nông thôn Trung Quốc cải cách và biến đổi: 30 năm lịch trình và
kinh nghiệm cải cách” của nhóm tác giả Vương Đức Văn, Đô Dương, Thái

nghiệp và xã hội nông thôn hiện nay; (iii) Làm rõ cơ sở lý luận trong đường
lối, chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông thôn toàn
diện hài hoà trong điều kiện phát triển mới của đất nước.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về PTBV được đề cập nhiều, tuy nhiên PTBV
trong nông nghiệp vẫn ít được đề cập một cách toàn diện. Qua tìm hiểu tác giả
thấy có một số công trình nổi bật có liên quan như: “Góp phần phát triển bền
vững nông thôn Việt Nam” của Nguyễn Xuân Thảo; “Phát triển bền vững ở
Việt Nam - Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng” của Nguyễn Quang
Thái và Ngô Thắng Lợi; “Phát triển nông thôn bền vững: Những vấn đề lý
luận và kinh nghiệm thế giới” của Trần Ngọc Ngoạn. Trong công trình nghiên
cứu của Nguyễn Xuân Thảo tiếp cận chủ yếu trên góc độ chính sách của nhà
nước đối với từng ngành, từng địa phương cụ thể. Trần Ngọc Ngoạn thì khẳng
định không thể có được một xã hội hay một nền kinh tế lành mạnh trong một
thế giới có quá nhiều sự nghèo đói và suy thoái môi trường. Việc hiểu biết khái
niệm PTBV nông thôn cần thiết phải bao gồm việc hiểu rõ ba loại hình phát
triển tổng quát, đó là phát triển kinh tế nông thôn bền vững; phát triển xã hội
nông thôn bền vững và an toàn môi trường nông thôn; tăng cường bảo vệ, quản
lý tài nguyên thiên nhiên.
Trong thời gian gần đây, rất nhiều nghiên cứu đã nỗ lực chỉ ra những
điểm nghẽn trong quá trình PTNN Việt Nam. Nhìn chung, các điểm nghẽn này
tập trung ở những điểm sau[23]:
- Năng lực cạnh tranh còn thấp, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, chưa đa
dạng và còn phụ thuộc vào một vài thị trường truyền thống.
- Chưa đáp ứng được như cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng,
đa dạng hơn về sản phẩm cuối cùng, chưa giúp đạt được về an ninh dinh
dưỡng, không an toàn về thực phẩm.
14


- Do dân số tăng, quĩ đất nông nghiệp giảm, sức ép về việc làm cho lao


những vấn đề xã hội phát sinh; đề xuất quan điểm và hướng giải quyết.
Về đổi mới chế độ ruộng đất, các học giả Trung Quốc cho rằng phải tuân
thủ các nguyên tắc sau: (1) Phải coi ruộng đất là hàng hóa có giá trị sử dụng
đặc biệt; (2) Làm cho quyền sở hữu yếu đi, quyền sử dụng tăng lên; (3) Phải có
lợi cho kinh doanh quy mô lớn, kinh doanh tiểu nông, đất manh mún, không
phù hợp và là một cản trở đối với chế độ ngành nghề hóa nông nghiệp[74].
Trường hợp Ba Lan, rất ít tài liệu nói về quốc gia này. Theo
“Competitiveness and Employment”, World Bank (1997) có bàn về nội dung
PTNN và nông thôn Ba Lan, các chính sách, tác động của các chính sách đối
với PTNN Ba Lan; Tác giả Johan F.M. Swinnen (2004), với “Policy Reform
and Agricultural Adjustment in Transition Countries” đã đề cập đến cải cách
thể chế và kinh tế ở các nước chuyển đổi trong đó có Ba Lan và nông nghiệp
đã bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong chính sách, những cải cách trong
chính sách giá cả và thương mại, tư nhân về quyền sở hữu đất đai, trang trại,
doanh nghiệp nông nghiệp thực phẩm cũng được đề cập; còn Francois Bafoil
có đề cập vấn đề nông nghiệp Ba Lan: những thách thức khi gia nhập Liên
Minh Châu Âu (EU)[101].
Trên trang có loạt
bài “CAP Reform Profile – Poland” đề cập một số chính sách cải cách cho Ba
Lan, các quan điểm chính phủ Ba Lan đối với CAP (Common Agricultural
Policy).
Công trình của các tác giả Garry Christensen, Richard Lacroix,
“Competitiveness and employment: a framework for rural development in
Poland”, đã đánh giá nông nghiệp nông thôn Ba Lan từ khi chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường, cho thấy khu vực nông thôn vẫn bị phụ thuộc vào nông
nghiệp để phát triển, nhận hỗ trợ và hưởng phúc lợi.Trong số những thách thức
của quá trình chuyển đổi khu vực nông nghiệp là xóa bỏ những hoạt động kinh
tế yếu kém trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, khai thác các
nguồn lực từ nông nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status