giải pháp quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động tỉnh hải dương - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-------  -------

NGUYỄN ĐỨC THÁI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-------  -------

NGUYỄN ĐỨC THÁI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè và các
anh chị em học viên đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn
thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của
thầy, cô và bạn bè. Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của
bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy, cô và các
bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Thái
ii


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

i

Bảng 3.1. Lao động phân theo nhóm tuổi.


Bảng 4.3. Biểu tổng hợp xây dựng kế hoạch số lượng lao động đi XKLĐ giai đoạn 2009 - 2013 của các
huyện/TX/TP
79
Bảng 4.4: Đánh giá của Phòng LĐ-TBXH các huyện về nhu cầu thị trường XKLĐ

79

Bảng 4.5: Danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu lao động hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương
năm 2013.

82

Bảng 4.6 Số lao động là người Hải Dương đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ năm 2009-2013.

89

Đơn vị tính: người

89

Bảng 4.7 Biểu tổng hợp tình hình lao động đăng ký hợp đồng cá nhân

91

đi làm việc tại Đài Loan từ năm 2009 - 2013

91

Bảng 4.8 Biểu tổng hợp tình hình thanh lý hợp đồng tại các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc có



DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Lao động phân theo nhóm tuổi.

55

Bảng 3.2. Lao động phân theo giới tính, khu vực thành thị, nông thôn.

56

Bảng 3.3. Lao động đang làm việc trong khu vực nông nghiệp, nông thôn phân theo độ tuổi.

56

Bảng 3.4. Lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật tính đến cuối năm 2013.

59

Bảng 3.5. Lao động thất nghiệp phân theo địa phương tại Hải Dương.

61

Bảng 3.6. Số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng.

63

Bảng 4.1. Kết quả XKLĐ tỉnh Hải Dương đi các nước giai đoạn 2009-2013


đi làm việc tại Đài Loan từ năm 2009 - 2013

91

Bảng 4.8 Biểu tổng hợp tình hình thanh lý hợp đồng tại các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc có
thời hạn tại nước ngoài
93
Bảng 4.9. Mức tiền đặt cọc do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định.

94

Bảng 4.10 Biểu tổng hợp mức thu tiền môi giới của Công ty đối với người lao động, áp dụng tháng
12/2010

96

Bảng 4.11 Biểu tổng hợp mức thu tiền dịch vụ của Công ty đối với người lao động, áp dụng tháng
12/2010

97

Bảng 4.12 Tỷ lệ cán bộ XKLĐ ở các doanh nghiệp hạn chế về kỹ năng chuyên môn

104

Bảng 4.13 Số lao động đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2009-2013 chia theo trình độ

106

v

KCN
THCS
THPT
QLNN

Người lao động
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Lao động- Thương binh và Xã hội
Giải quyết việc làm
Ủy ban nhân dân
Khu công nghiệp
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Quản lý Nhà nước

vi


PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.

Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và đầu tư bùng nổ vào những thập

kỷ gần đây, xuất khẩu lao động là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp
phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhận thấy tầm quan trọng của xuất khẩu
lao động Đảng và Nhà nước ta đã xác định quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao
động là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh tế quan trọng của quốc gia
đã và đang đem lại những lợi ích kinh tế và xã hội đáng kể.

nâng cao thu nhập cho người lao động, nâng cao khẳ năng tự chịu trách nhiệm
của người lao động, bình đẳng giữa các chủ thể: nhà nước, doanh nghiệp,
người lao động trong xuất khẩu lao động.
Việc xuất khẩu lao động có sự tham gia quản lý của nhà nước không chỉ
giải quyết được vấn đề việc làm cho không ít lao động, mà nó còn góp phần
đảm bảo cho người lao động yên tâm làm việc tại nước ngoài dưới sự bảo hộ
của nhà nước, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, tăng thu nhập cho
người lao động và gia đình họ. Đồng thời làm tăng cường quan hệ hợp tác
giữa Việt Nam với các nước, củng cố và phát triển cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài, tạo sự ổn định cho xã hội…
Chính vì vậy công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động đã được
cụ thể hoá bằng Chỉ thị 41/CT/TW của Bộ chính trị, Luật người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của Quốc hội khoá XI, kỳ họp
thứ 10 ngày 29/11/2006 và Nghị định 126/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
Trong những năm qua, hoạt động XKLĐ của nước ta đã đạt được nhiều
kết quả đáng kể do được các cấp chính quyền quan tâm. Song bên cạnh đó
còn rất nhiều hạn chế đòi hỏi các nhà quản lý phải có những giải pháp thích
hợp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

2


Tỉnh Hải Dương cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước đã và
đang thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước, địa phương cũng đang
xúc tiến hoạt động xuất khẩu lao động. Thông qua đó giải quyết việc làm cho
người dân, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định trật tự xã hội,
giảm bớt tệ nạn, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa
phương… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hoạt động này chưa đáp ứng
nhu cầu giải quyết việc làm cho người lao động và cũng phát sinh nhiều vấn
đề như: trung tâm đào tạo không đúng nhu cầu thị trường, thị trường lao động

khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
1. Thế nào là công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động là gì,
nội dung của vai trò và đặc điểm công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao
động?
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động?
3. Nêu ra kinh nghiệm của các địa phương khác và của một số nước
trong công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động?
4.Thực trạng công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trên địa
bàn tỉnh Hải Dương?
5. Các giải pháp nào để hoàn thiện tăng cường công tác quản lý nhà
nước về xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Hải Dương?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các chính sách của nhà nước, của tỉnh trong quản lý nhà nước về xuất
khẩu lao động.
- Các cơ quan làm công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động.
- Quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp
xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Người lao động của tỉnh Hải Dương đã và đang tham gia xuất khẩu lao
động( chủ yếu ở các thị trường truyền thống như: Đài Loan, Malaysia ...).
4


1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn từ
2009 đến 2013.
- Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Hải Dương, bao gồm 12 huyện
và thành phố, lấy các số liệu của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Cục
thống kê tỉnh Hải Dương và tham khảo số liệu của Bộ Lao động – Thương

lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động”. Người LĐ khi ra
nước ngoài làm việc thì gọi là người LĐ xuất cư, nước mà họ ra đi được gọi là
nước xuất cư. Người LĐ khi đến nước khác gọi là người LĐ nhập cư và nước
tiếp nhận gọi là nước nhập cư.

6


Xuất khẩu lao động là một trong những thuật ngữ được tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt năm 1995 thì xuất khẩu được
hiểu là việc:“ đưa hàng hóa, tư bản ra nước ngoài”. Nếu hiểu theo nghĩa rộng,
xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động sang làm việc tại nước ngoài.
Theo nghĩa hẹp thì pháp luật về xuất khẩu lao động là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo các hình thức do pháp luật quy định trong đó các bên tham
gia quan hệ mang các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.
Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ nêu rõ:
“ Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp
phần phát triển nguồn lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước,… cùng
với giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động và
chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ
lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa,…”
Ở khía cạnh khác:“ Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất
khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất
là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Nói
cách khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung
ứng lao động cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người”.[ GS.TS Đặng
Đình Đào, 2005].

chức, có mục đích, có thời hạn, được sự cho phép và dưới sự quản lý và hỗ
trợ của Nhà nước.
Khi nói đến XKLĐ, phải được hiểu là xuất khẩu“ Sức lao động” của con
người, do người lao động sử dụng sức lao động của mình bán cho chủ sử dụng
lao động nước ngoài, sống và làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động đã
ký kết. Nên quan hệ mua - bán sức lao động trong XKLĐ là quan hệ lao động
có yếu tố nước ngoài, đặc biệt phức tạp, được thể hiện ở 3 đặc điểm sau:
- Về mặt kinh tế: Xuất khẩu lao động là một loại hình dịch vụ cung cấp
loại hàng hóa đặc biệt (sức lao động). Nó chứa đựng đầy đủ tính chất, yêu cầu
của loại hàng hóa đặc biệt, đó là hoạt động của con người, dung hòa các mối
quan hệ xã hội. Giá cả của sức lao động này phụ thuộc vào chất lượng của lao
động, trước hết là các yếu tố về trình độ chuyên môn, tay nghề được đào tạo,
mức độ giao tiếp về ngôn ngữ, văn hóa, phẩm chất cá nhân như tính cần cù kĩ
năng, sự tinh xảo, khéo léo,… và khả năng hội nhập giao lưu với các nền văn
hóa, tôn giáo khác. Giá cả của sức lao động cũng phụ thuộc rất lớn vào nhu
cầu của nước nhập khẩu lao động.
- Về mặt chính trị: Xuất khẩu lao động là quá trình hợp tác góp phần hỗ
trợ xây dựng, phát triển KT - XH của nước nhập khẩu lao động. Khác với các
loại hàng hóa khác, đối với người đi XKLĐ ngoài yếu tố cơ bản về phẩm chất cá
nhân, trình độ chuyên môn thì trình độ văn hóa ngoại ngữ, khả năng hòa đồng
hết sức quan trọng để đảm bảo phát huy thế mạnh đó, thực sự tôn trọng luật
pháp, hòa hợp tốt với cộng đồng dân cư nước sở tại.
- Về quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài: Thể hiện sau khi người lao
động xuất cảnh, sống và làm việc ở nước ngoài, thì ngoài việc chịu sự điều
chỉnh của pháp luật nước xuất khẩu, người lao động còn chịu sự chi phối bởi
pháp luật, các quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội và phong tục tập quán của

9




động quốc tế và không phản ánh đầy đủ bản chất và nội dung của XKLĐ theo
cơ chế thị trường.
- Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài: Là thuật ngữ được sử dụng chính thức và phổ biến trong các văn bản
pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ đầu những năm 1990 (Nghị định số
370/HĐBT ngày 9/11/1991). Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao
động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; góp phần tăng cường quan hệ
hợp tác kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam với những nước sử
dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, tôn trọng pháp
luật và truyền thống dân tộc của nhau( Điều 1 Nghị định số 370/HĐBT).
- Đưa người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Ở Việt Nam từ
năm 1991 đến nay, khái niệm này được sử dụng trong các Nghị định của
Chính phủ, Bộ Luật lao động hoặc nhiều văn bản pháp luật khác. Tại Luật sửa
đổi Bộ Luật lao động( hiệu lực từ 1/1/2003), khái niệm“ Đưa người đi làm
việc ở nước ngoài” và “ Xuất khẩu lao động” được sử dụng đồng thời. Tháng
11 Năm 2006 Bộ Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng được Quốc Hội khóa 10 thông qua và có hiệu lực từ ngày
01/7/2007, khái niệm“ Đưa người đi làm việc ở nước ngoài” đã được luật hóa.
Vì vậy, cùng với“ Xuất khẩu lao động”,“ Đưa người đi làm việc ở nước
ngoài” là cách gọi hợp pháp, tuy nhiên thuật ngữ này chưa phản ánh hết bản
chất và nội dung của xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động thực chất là trao đổi quốc tế yếu tố sản xuất“ Sức
lao động”, thuật ngữ này được sử dụng tại nhiều giáo trình, tài liệu nghiên
cứu của các trường đại học và viện nghiên cứu với ý nghĩa đó, nó vừa thể
hiện lợi thế so sánh sức lao động của nguồn nhân lực nước xuất khẩu, vừa thể
hiện mục tiêu giải quyết việc làm, con đường ngắn nhất để tăng thu nhập, phát
triển nguồn nhân lực, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng, phát triển bền
11

12


Quản lý nhà nước đối với hoạt động này ở mỗi địa phương, thông qua bộ máy
quản lý nhà nước ở địa phương.
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động tại địa phương
là hệ quản lý gồm chủ thể quản lý và đối tượng chịu quản lý. Chủ thể quản lý
là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở địa phương. Hiện nay là các cơ quan
ngành dọc cấp dưới của bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Ngoài ra còn
có các cơ quan phối hợp quản lý trong các lĩnh vực đào tạo, tuyển dụng, cho
vay vốn, các thủ tục xuất nhập cảnh…
Đối tượng của hoạt động quản lý là doanh nghiệp xuất khẩu lao động
và lao động tham gia hoạt động xuất khẩu.
Các chủ thể quản lý sẽ sử dụng các công cụ quản lý như: các chính
sách, chế độ, quy chế, quy định về hoạt động xuất khẩu lao động hay các kế
hoạch, chỉ tiêu xuất khẩu lao động hoặc những quy định ràng buộc về mặt vật
chất, pháp lý,... để tiến hành quản lý.
Quá trình quản lý có thể diễn ra dưới nhiều hình thức từ quản lý trong
nước cho đến quản lý ở nước ngoài, từ quản lý trực tiếp cho đến việc gián tiếp
quản lý...Nhưng dù sử dụng cách thức quản lý nào thì mục đích của hoạt động
quản lý đều là nhằm làm cho hoạt động xuất khẩu thực sự hiệu quả, mang lại
lợi ích cho cả quốc gia, doanh nghiệp lẫn người lao động.
Hay chúng ta có thể hiểu theo khái niệm:“ Quản lý nhà nước về xuất
khẩu lao động là sự tác động thống nhất dựa trên các chính sách để nhằm
điều chỉnh các công tác tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo - giáo dục định hướng,
quan hệ lao động, thanh lý hợp đồng trong hoạt động xuất khẩu nhằm nâng
cao hiệu quả của hoạt động XKLĐ”.[Nguyễn Quang Vinh – Giúp bạn lựa
chọn tham gia lao động xuất khẩu].
Theo tài liệu về XKLĐ của Cục Quản lý lao động với nước ngoài thì:
- Người lao động xuất khẩu: Là những người lao động đi làm việc có

mối quan hệ hợp tác quốc tế.

14


Quản lý hoạt động đào tạo lao động cho xuất khẩu sẽ tạo ra lực lượng
lao động có trình độ, có khả năng tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học của các
quốc gia khác,... Lực lượng lao động này sau khi trở về nước mang theo một
số vỗn tích lũy, còn đầu tư, tái sản xuất qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế
của quốc gia. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạt
động xuất khẩu lao động thông qua việc:
- Ban hành chủ trương, chính sách, luật pháp để định hướng hỗ trợ hoạt
động xuất khẩu lao động. Chính sách xuất khẩu lao động là tổng thể các quan
điểm, các mục tiêu các giải pháp và công cụ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao
động và nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội của xuất khẩu lao động trong từng
thời kỳ. Hệ thống pháp luật về xuất khẩu lao động là các quy định chung nhất
có tính bắt buộc các chủ thể tham gia xuất khẩu lao động phải chấp hành.
Việc ban hành chủ trương chính sách, luật pháp có vai trò cực kỳ quan trọng
trong việc định hướng cho cả một giai đoạn phát triển của một đất nước, một
ngành, một lĩnh vực. Các chủ trương chính sách pháp luật về xuất khẩu lao
động là kết quả đúc rút kinh nghiệm thực tế của nhiều nước trên thế giới và
tình hình cụ thể trong nước, nâng lên thành lý luận và dự báo tương lai phát
triển của hoạt động xuất khẩu lao động. Thực hiện chức năng định hướng xuất
khẩu lao động của nhà nước là xác định có căn cứ khoa học những mục tiêu,
lập kế hoạch và lựa chọn các biện pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu đó.
Chức năng định hướng của nhà nước càng được làm tốt thì càng tránh được
rủi ro cho các doanh nghiệp và người lao động xuất khẩu.
- Phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành từ trung ương trên địa phương
trong việc tổ chức, chỉ đạo và quản lý các hoạt động xuất khẩu lao động. Tổ
chức, quản lý của nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của

dự án về phát triển việc làm khác cho việc mở rộng và nâng cao chất lượng
các cơ sở đào tạo, dạy nghề.
- Giải quyết các vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến hoạt động của các
doanh nghiệp, các tổ chức xuất khẩu lao động và người lao đi xuất khẩu lao
16


động. Với tư cách là một chủ thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao động,
lĩnh vực liên quan đến lợi ích quốc gia, quyền lợi của các tổ chức, doanh
nghiệp, người lao động và quan hệ hợp tác quốc tế, trong những trường hợp
cần thiết, nhà nước phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà bản thân các tổ
chức, doanh nghiệp và người lao động không thể đảm đương được do nhiều
nguyên nhân khác nhau ở cả trong nước lẫn ngoài nước cả trước, trong và sau
khi người lao động hết hợp đồng về nước.
- Kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao
động. Để thuận lợi cho việc thanh tra, kiểm tra hoạt động của tổ chức, cá nhân
trong hoạt động xuất khẩu lao động Chính phủ ban hành Nghị định số
144/2007/NĐ – CP ngày 10/9/2007 quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài.
b. Đặc điểm của công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động.
- Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế. Nó
nhằm thực hiện chức năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận của
doanh nghiệp, đồng thời để thỏa mãn lợi ích kinh tế của người lao động đi
làm việc ở nước ngoài, góp phần tăng thêm nguồn ngân sách của Nhà nước.
- Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ
tính chất xã hội. Nói đến xuất khẩu lao động thực chất là xuất khẩu sức lao
động không tách khỏi người lao động. Do vậy, mọi chính sách, pháp luật
trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với các chính sách xã hội.
Phải đảm bảo làm sao để người lao động ở nước ngoài được lao động như đã
cam kết trong hợp đồng lao động, cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status