BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH
CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ GIANG SƠN,
HUYỆN GIA BÌNH,TỈNH BẮC NINH
Tên sinh viên
: Nguyễn Thị Tân
Chuyên ngành đào tạo : Phát triển nông thôn
Lớp
: K56 -PTNTB
Niên khóa
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Ngọc Thương
HÀ NỘI – 2015
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu không thể thiếu của cuộc
sống.Nhu cầu về nước sạch và vệ sinh môi trường đang là vấn đề thu hút sự
Nông thôn,2000).
Theo thống kê 6 tháng đầu năm 2014,tỉ lệ người dân nông thôn sử dụng
nước hợp vệ sinh đạt 92%,tỉ lệ hộ dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt
56%.Điều đó cho thấy,sau khi kết thúc 2 giai đoạn thực hiện chương trình đã
đạt được nhiều thành tích nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế, tồn tại
Tỉ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia
còn hạn chế,tính đồng đều trong việc cấp nước sạch ở các vùng còn chưa
cao,tỉ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cung cấp
nước tập trung đạt khoảng 80% (tăng 1% so với năm 2013).Tới tháng
10/2014 tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh là 93% tăng
1% so với 6 tháng đầu năm,số đầu nối sử dụng nước mới trong năm là
3.100,tỷ lệ hộ dân nông thôn có nhà tiêu và có chuồng trại hợp vệ sinh đạt
trên 70%.Đặc biệt,100% trạm y tế và trường học có nước sạch và nhà tiêu hợp
vệ sinh. Tuy nhiên ,kết quả thực hiện các chỉ tiêu đạt được còn thấp so với chỉ
tiêu của năm.Công tác xã hội hóa thu hút nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu( báo cáo
của Ban điều hành chương trình Nước sạch và VSMT nông thôn,2013)
Những năm qua thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia về Nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn,tỉnh Bắc Ninh đã đầu tư xây dựng 35
công trình cấp nước sạch tập trung ,trong đó 25 công trình đã hoàn thành và
đưa vào sử dụng .Gần đây nhất là trạm cấp nước thị trấn Chờ ( thuộc huyện
Yên Phong )và trạm cấp nước Gia Bình (thuộc huyện Gia Bình ) đã góp phần
thay đổi tập quán sử dụng nước sông ,nước giếng bơm tay,nước mưa và đưa
tỷ lệ người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh được sử dụng nước hợp vệ sinh
lên tới 90,45%.
Giang Sơn là một xã khó khăn của vùng quê chiêm trũng Gia Bình,Bắc
Ninh.Nguồn nước người dân sử dụng cho sinh hoạt chủ yếu là nguồn nước
giếng đào và nước giếng khoan nên chất lượng nước không đảm bảo,ảnh
3
người dân xã Giang Sơn.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút người dân tham gia sử
dụng nước sạch,góp phần bảo vệ sức khỏe và nâng cao điều kiện sống.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề kinh tế - xã hội đặc biệt là những yếu tố ảnh hưởng tới
nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân.
- Nhu cầu của người dân về sử dụng nước sạch trong sinh hoạt trên địa
bàn xã Giang Sơn đặc biệt là các thôn chưa được lắp đặt và cung cấp nước
sạch.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung :
Nghiên cứu nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại 4 thôn của xã.
- Phạm vi không gian :
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Giang Sơn,huyện Gia
Bình,tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi thời gian:
Số liệu được thu thập từ năm 2012 đến năm 2014
Thời gian nghiên cứu đề tài: từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015
5
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về nghiên cứu nhu cầu
2.1.1.1 Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu là sự cần thiết về một cái gì đó,luôn tồn tại trong đời sống của
con người ở mỗi hoàn cảnhvà mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì nhu cầu
này sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại của con người .
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên của con người được gọi là nhu
cầu bậc cao .Khi những nhu cầu cơ bản được đáp ứng họ sẽ nghĩ và quan tâm
tới những nhu cầu cao hơn.Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh
thần như nhu cầu về vẻ đẹp,cảm xúc,tình cảm,sự tôn trọng,sự công bằng.
Hình 2.1 Thứ tự sắp xếp nhu cầu của Abraham H.Maslow năm 1943
Cấu trúc tháp nhu cầu gồm 5 tầng,trong đó nhu cầu của con người được
liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.
+ Tầng 1: Các nhu cầu căn bản nhất ( nhu cầu tự nhiên ,nhu cầu sinh lý)
Đây là các nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người :nhu
cầu về ăn,uống,ngủ,nghỉ,...
+ Tầng 2 : Nhu cầu an toàn: các mong muốn được an toàn về thân thể,gia
đình,sức khỏe,việc làm,tài sản được đảm bảo.
+Tầng 3 : Nhu cầu xã hội về đời sống tình cảm:mong muốn được trong một
nhóm cộng đồng nào đó,muốn được yêu thương,tin cậy.
7
+Tầng 4: Nhu cầu được quý trọng: mong muốn được tôn trọng,tin
tưởng,kính mến.
+ Tầng 5: Nhu cầu tự thể hiện bản thân: mong muốn được sáng tạo,thể hiện
khả năng,hoàn thiện bản thân và được công nhận là thành đạt.Đây là nhu cầu
cao nhất của con người,là cái đích mà mỗi cá nhân trong xã hội đều mong
muốn đạt được ( Đinh Thị Niên,2009).
Nhu cầu và phát triển kinh tế ,văn hóa, xã hội có mối tương tác qua lại với
nhau.Nhu cầu luôn xuất phát trong các hoạt động của mỗi cá nhân,cộng đồng
nhằm đáp ứng mong muốn của cá nhân hay cộng đồng
Nhu cầu mang tính đối tượng.Nhu cầu luôn hướng tới một cái gì đó cụ
điều kiện các yếu tố khác không đổi.
• Cầu cá nhân và cầu thị trường:
Cầu cá nhân: là ứng xử của một cá nhân khi muốn mua một hàng hóa
hay dịch vụ nào đó trong một thời gian nhất định,trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi.
Cầu thị trường: là tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà mọi người sẵn
sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng
thời gian nhất định.Cầu thị trường là tổng hợp của cầu cá nhân.
2.1.2.2 Luật cầu
Đường cầu thị trường của các hàng hóa ( ngoại trừ hàng hóa xa xỉ) có
điểm chung là có xu hướng nghiêng xuống dưới về phía bên phải,có nghĩa là
khi giá của hàng hóa và dịch vụ giảm (tăng) thì lượng cầu tăng (giảm).Như
vậy,giá và lượng cầu có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau và theo các nhà
kinh tế gọi đó là luật cầu.
Nhu cầu thể hiện mong muốn của con người về việc sử dụng hàng hóa
dịch vụ.Nhu cầu của con người là vô hạn vì con người thường mong muốn
hơn những gì mà họ đang có mà không thỏa mãn được.Trong khi khả năng
thanh toán cho nhu cầu là có hạn vì vậy chỉ có những nhu cầu có khả năng
thanh toán mới trở thành cầu của thị trường.
9
P
P3
P2
P1
0
D
kiện các yếu tố khác không thay đổi,khi giá hàng hóa X tăng thì lượng cầu
của nó giảm và ngược lại.Giá và cầu hàng hóa có mối quan hệ nghịch biến.
10
Giá cả hàng hóa liên quan (PY): Hàng hóa liên quan bao gồm
hàng hóa thay thế và hàng bổ sung.Cầu của hàng hóa dịch vụ nào đó ngoài
việc phụ thuộc vào giá của hàng hóa dịch vụ đó thì cũng phụ thuộc vào giá cả
hàng hóa liên quan:
+ Hàng hóa thay thế: Hai hàng hóa được gọi là thay thế khi người ta
có thể sử dụng hàng hóa này thay thế cho hàng hóa kia và ngược lại mà không
làm thay đổi giá trị sử dụng của chúng.Vì vậy nếu hàng hóa X và hàng hóa Y
là hai hàng hóa thay thế nhau thì quan hệ giữa giá hàng hóa Y( P Y) và cầu
hàng hóa X( QDX) là quan hệ đồng biến.
+ Hàng hóa bổ sung: Hai hàng hóa được gọi là bổ sung khi sử dụng
hàng hóa này phải đi kèm hàng hóa kia.Khi X và Y là hai hàng hóa bổ sung
thì quan hệ giữa giá hàng hóa Y ( PY) và cầu hàng hóa X (QDX) là quan hệ
nghịch biến.
Thu nhập của người tiêu dùng ( I ):Thu nhập là yếu tố quan trọng
xác định cầu.Thu nhập là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng mua của
người tiêu dùng.Khi thu nhập của người dân tăng lên đồng nghĩa đời sống vật
chất của người dân cũng được nâng cao khi đó nhu cầu tiêu dùng của họ cũng
tăng lên .Nhu cầu về hàng hóa tiêu dùng thông thường và hàng hóa xa xỉ
tăng,cầu hàng hóa thứ cấp giảm và ngược lại.
Sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng (T): Đó là ý thích và ý
muốn chủ quan của người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa dịch vụ.Vì vậy nếu
một hàng hóa đang được ưa chuộng thì cầu hàng hóa đó tăng,cầu sẽ giảm khi
sự ưa chuộng hàng hóa đó không còn. Nhìn chung yếu tố này ít thay đổi do
thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng rất đa dạng và phức tạp
nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của Tiêu chuẩn Việt Nam.
- Nước sạch là nước không màu,không mùi,không vị và không chứa các
chất tan,các vi khuẩn không nhiều quá mức cho phép và tuyệt đối không có vi
sinh vật gây bệnh( theo quan điểm của WHO).
-Theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế: Nước sạch là nước dùng cho sinh hoạt cá
nhân và gia đình không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp.Nếu dùng làm
nước ăn uống trực tiếp phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban
hành theo Quyết định số 1329/QĐ – BYT ngày 18/4/2002 của Bộ Y tế.
• Khách hàng sử dụng nước: Là các hộ đã thỏa thuận và ký hợp đồng với
đơn vị cấp nước mà không sử dụng hoặc sử dụng nước ít hơn 4m 3/hộ gia
đình/tháng thì hộ gia đình có nghĩa vụ thanh toán và đơn vị cấp nước được
phép thu tiền nước theo khối lượng nước sử dụng tối thiểu quy định là 4m 3/hộ
gia đình/tháng,trừ trường hợp tạm ngừng dịch vụ cấp nước theo quy định.
12
Quy định về khối lượng nước sử dụng tối thiểu phải được thông báo cho các
hộ gia đình biết trong quá trình tham vấn,lấy ý kiến cộng đồng và được thể
hiện trong Hợp đồng dịch vụ cấp nước ký kết giữa đơn vị cấp nước và hộ gia
đình.
• Dịch vụ cấp nước: là các hoạt động có liên quan của tổ chức,cá nhân
trong lĩnh vực bán buôn nước sạch,bán lẻ nước sạch .
• Đơn vị cấp nước: là tổ chức,cá nhân thực hiện một phần hoặc tất cả các
hoạt động khai thác,sản xuất,truyền dẫn,bán buôn và bán lẻ nước sạch.
• Hệ thống cấp nước: là tổ hợp các công trình liên quan đến việc khai
thác nguồn nước,thu nước,xử lý nước,các trạm bơm và mạng phân phối điều
hòa nước sạch.
• Bệnh liên quan đến nguồn nước: là các dạng bệnh tật sinh ra do sử
dụng hoặc tiếp xúc với nguồn nước bị nhiễm bẩn và nhiễm trùng ( Lê Anh
Tuấn,2007).
2.1.3.2 Vai trò của nước sạch trong cuộc sống sinh hoạt của người dân
Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển như hiện nay
nhu cầu về nước đặc biệt là nước sạch sử dụng trong sinh hoạt ngày càng tăng
lên.Nước sạch luôn được coi là mặt hàng thiết yếu và là nhu cầu cơ bản không
thể thiếu trong cuộc sống của con người.
Nhìn tổng quát gần 80 nước chiếm tới 40% dân số thế giới đang trong
tình trạng thiếu nước nghiêm trọng,có khoảng 1,1 tỷ người không có nước
sạch an toàn để sử dụng.Nhiều bệnh liên quan tới nước sạch gia tăng,theo
thống kê ở Việt Nam có gần 80% loại bệnh tật liên quan đến chất lượng nước
và vệ sinh môi trường mà chủ yếu là do chất lượng nước, gây ra các bệnh ề
đường ruột như: bệnh tả,bệnh thương hàn,bệnh giun sán,bệnh sốt xuất
huyết...và các bệnh về da như : lang ben,nấm móng.Vì vậy nước sạch có ảnh
hưởng rất lớn tới sức khỏe người dân.Khi người dân đã quen với sử dụng
nước sạch sẽ tạo ra văn hóa trong lối sống sinh hoạt,đảm bảo vệ sinh đồng
thời ý thức bảo vệ môi trường được nâng cao.
Trên thực tế, nước nói chung và nước sạch nói riêng là vấn đề rất được
quan tâm trong cả hiện tại và tương lai.Liên Hợp Quốc đã đề ra thập kỷ nước
uống vào năm 1980 đã mở nhiều hội nghị để cảnh báo và khuyến cáo các
quốc gia cần quan tâm đến vấn đề nước và nước sạch.
Cung cấp nước sạch cho người dân,đặc biệt là những người dân ở vùng
sâu vùng xa,vùng nông thôn,... sẽ giúp tiết kiệm công lao động do không phải
đi xa để gánh nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt.Góp phần phát triển kinh tế
xã hội,xóa đói giảm nghèo.Đặc biệt tạo lòng tin của nhân dân đối với Đảng và
14
Nhà nước.Mặt khác còn thể hiện sự quan tâm trực tiếp của Đảng và Nhà nước
tới đồng bào dân tộc thiểu số.
2.1.3.3 Nguyên tắc và phương pháp xác định giá nước sạch
- Nhguyên tắc xác định giá tiêu thụ nước sạch
Mục đích sử dụng Lượng nước sạch sử dụng/ tháng
nước
Mức
Kí hiệu
3
Snh hoạt các hộ - Mức 10m đầu tiên
SH1
dân cư
(hộ/ tháng)
- Từ trên 10m3 – 20m3
SH2
(hộ/tháng)
- Từ trên 20m3 - 30m3
SH3
( hộ/tháng)
- Trên 30m3(hộ/tháng)
SH4
Cơ quan hành
Theo thực tế sử dụng
chính
Đơn vị sự nghiệp
Theo thực tế sử dụng
Phục vụ mục đích Theo thực tế sử dụng
công cộng
Hoạt động sản Theo thực tế sử dụng
xuất vật chất
Kinh doanh dịch Theo thực tế sử dụng
vụ
Bình quân tổng sản lượng nước thương phẩm
Trường hợp xác định được số lượng người
theo định mức sử dụng nước theo( m3/ người /tháng)như sau:
- Mức 2,5m3/người/tháng
SH1 0,8
- Trên 2,5m3 - 5m3/người/tháng
SH2 1,0
- Trên 5m3 - 7,5m3/người/tháng
SH3 1,2
- Trên 7,5m3/người/tháng
SH4 2,0
Đối với hộ dân cư tiêu thụ nước sạch mà chưa lắp được đồng hồ đo
lượng nước tiêu thụ thì tạm thời áp dụng mức thu khoán theo mức tiêu thụ
cho một hộ dân cư sử dụng là 16 m3/ tháng theo giá tiêu thụ ở mức SH2.
Trường hợp những nơi có nguồn nước và công suất cấp nước dư thừa
so với tiêu dùng thì có thể chưa thực hiện mức giá lũy tiến, nhằm khuyến
16
khích người tiêu dùng sử dụng nước sạch, an toàn vệ sinh; mặt khác, cũng tạo
điều kiện để các doanh nghiệp cấp nước phát triển mạng phân phối nước,
nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trường hợp đặc biệt đối với địa phương có sản lượng nước sản xuất ra
tiêu thụ chủ yếu cho sinh hoạt các hộ dân cư mà khi tính giá tiêu thụ nước
trọng nhằm phân phối nguồn tài sản chung của toàn dân tới tất cả người
dân.Hiện nay ở nước ta về quản lý cung cấp nước sạch,phát triển chuyên
ngành trên cơ sở hình thành dịch vụ người bán – người quản lý và người mua
nước để dần loại bỏ bao cấp trong vấn đề sử dụng nước sạch và cơ bản hình
thành thị trường nước sạch nông thôn trên phạm vi toàn quốc vào năm
2020,Chính phủ đã có một số chủ trương chính sách ưu đãi,khuyến khích đầu
tư quản lý,khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn,các dự án các công
trình cấp nước sạch nông thôn phục vụ cho cộng đồng.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Nhu cầu sử dụng nước sạch trên thế giới
Vấn đề nước uống ngày càng trở nên nghiêm trọng do sự biến đổi khí hậu
toàn cầu cùng với việc tăng nhu cầu lương thực thực phẩm và các phương tiện
vệ sinh của người dân trên toàn cầu.Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc trong
ngày Nước thế giới 22/3 vừa qua cho biết sự phân bổ nguồn nước trên các lục
địa không đồng đều.Châu Á nơi 60% dân số hành tinh sinh sống chỉ sở hữu
1/3 nguồn nước trên thế giới. Theo các chuyên gia cho biết đến năm 2050,nhu
cầu lương thực tăng 70% và nhu cầu nước tăng 19%.Lúc đó cần huy động đến
90% nguồn nước trên thế giới.
Theo báo cáo của Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc ( UNICEF) công bố cho
biết trên thế giới có 2,5 tỷ người đang khát nước sạch,chiếm 1/3 dân số toàn
cầu.Đây là con số báo động vì trước đây 2 năm (năm 2011) con số này là 1 tỷ
người.Theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) nhu
cầu về nước năm 2050 sẽ tăng lên 55%.Theo báo cáo tiến bộ về nước sạch và
vệ sinh của WHO/UNICEF năm 2014 có khoảng 1,6 tỷ người được tiếp cận
với nguồn nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung,khoảng cách giữa
tỷ lệ tiếp cận nước sạch của người dân nông thôn và thành thị đã có sự thu
18
hẹp.Vào năm 1990 có hơn 95% người dân thành phố được tiếp cận với nước
Việt Nam là quốc gia có tổng lượng nước mặt cao nhưng không đồng đều
giữa các mùa.Vào mùa khô lượng nước chỉ bằng 30% lượng nước của cả
năm.Trong thời gian tới cùng với sự gia tăng về dân số và sự phát triển kinh
tế xã hội thì nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng mạnh.
Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều chiến lược,kế hoạch
nhằm đáp ứng về nhu cầu sử dụng nước sạch và vệ sinh cho người dân trong
đó tiêu điểm là chương trình Mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn. Năm 2012 Chương trình Mục tiêu quốc gia về nước sạch
và Vệ sinh môi trường ở nhiều tỉnh thành trong cả nước cũng đạt kết quả đáng
ghi nhận, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.Nhờ đó, đời sống
người dân nông thôn ngày càng được cải thiện, số người được sử dụng nước
hợp vệ sinh ngày một tăng. Chính phủ đã dành 3.820.868 triệu đồng vốn ưu
đãi cho gần 900 nghìn hộ dân nghèo trong cả nước vay để đầu tư công trình
nước sạch phục vụ sinh hoạt.Nhờ có nguồn vốn trên, người dân nông thôn
trên toàn quốc đã xây dựng được trên 4,2 triệu công trình nước sạch và công
trình vệ sinh hợp tiêu chuẩn.Góp phần nâng cao chất lượng sống của người
dân nông thôn.Sau 1 năm(năm 2013) số lượng người dân nông thôn trong cả
nước được sử dụng nước hợp vệ sinh chiếm 80%,tăng tỷ lệ số người dân nông
thôn có nước sạch phục vụ sinh hoạt lên tới gần 1,7 triệu người
(www.monre.gov.vn,2013).
Bên cạnh việc sử dụng nước sạch cho sinh hoạt thì vấn đề cấp nước cũng cần
được chú trọng.Theo điều tra cho thấy lượng nước cấp cho quy hoạch ở Việt
Nam bao gồm các vùng núi,ven biển,thị trấn,ngoài thành,các thành phố,khu
công nghiệp Mỗi khu vực khác nhau có lượng cấp nước cho từng người là
khác nhau
20
Bảng 2.2 Lượng nước cấp cho quy hoạch ở Việt Nam
Lượng nước cấp(lít/người- ngày)
Dân số nông thôn chiếm tới 75% dân số cả nước vì vậy việc cấp nước cho
người dân sử dụng trong sinh hoạt luôn là vấn đề được quan tâm .Trong thực
tế ở các vùng nông thôn nước ta nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt và sản
xuất không những thiếu mà chất lượng nước cũng chưa được đảm bảo.
Ở vùng nông thôn bà con thường sử dụng các dụng cụ như
bể,chum,vại,xô...để chứa nước và nguồn nước sử dụng là nguồn nước giếng
khoan,nước mưa...Tại một số địa phương bà con áp dụng một số phương
pháp lọc,xử lý thô sơ như lọc qua cát,than,đánh phèn, ...làm sạch nguồn nước
để đưa vào sử dụng, nhiều gia đình có điều kiện hơn về kinh tế thì họ sử dụng
nước đóng bình hoặc sử dụng hóa chất để lọc nước trước khi sử dụng.Thông
thường người dân lọc nước để phục vụ cho nhu cầu ăn uống .Đối với nhu cầu
về sinh hoạt hay với những mục đích sử dụng khác các hộ sử dụng trực tiếp
nguồn nước giếng khơi ,giếng đào thậm chí là nước sông,suối.Hiện nay nguồn
nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt của người dân đang bị ô nhiễm trầm
trọng bởi các chất thải từ khu dân cư,bệnh viện,chất thải nông nghiệp và thói
quen không tốt trong sinh hoạt gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người
dân.Với những địa phương làm nghề truyền thống thì vấn đề ô nhiễm môi
trường đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước đang là vấn đề cấp bách và đáng lo
ngại hơn trong một vài năm trở lại đây.Nước mặt ở các ao,hồ,sông,suối đã
nhiễm bẩn,nhiễm mặn.Trong khi cuộc sống của con người những vùng quê
ngày một đổi mới và lo ấm hơn thì kéo theo hệ lụy là tỷ lệ người mắc các
bệnh ung thư,bệnh hiểm nghèo ngày một gia tăng do ảnh hưởng của môi
21
trường sống,sinh hoạt trong đó có sự hiện diện của chính nguồn nước mà họ
đang ngày ngày sử dụng.Tại các vùng núi,vùng thưa dân,tỷ lệ hộ sử dụng
nước sạch chỉ đạt con số rất thấp.
Do đó để nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn,tạo điều kiện
cho người dân nông thôn tiếp cận được với nước sạch và vệ sinh tốt,Nhà nước
thiện.Hầu hết các đô thị và tỉnh lỵ đều có các dự án đầu tư xây dựng ,sửa
chữa,nâng cấp,mở rộng hệ thống cấp nước. Nhiều công trình đầu tư từ nguồn
vốn hỗ trợ đạt hiệu quả cao.So với khu vực nông thôn nhu cầu cấp nước tại
các đô thị lớn và các khu công ngiệp thường cao hơn và cơ bản đáp ứng được
yêu cầu.Hệ thống cấp nước các đô thị Việt Nam đã được Đảng,Chính phủ đầu
tư cải tạo và xây dựng vì vậy tình hình cấp nước đã được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên tình hình cấp nước đô thị cũng còn một số tồn tại :
Tỷ lệ cấp nước còn thấp:trung bình đạt 45% tổng dân số đô thị được
cấp nước.Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế,nhiều
nơi thiếu nước nhưng cũng có nơi thừa nước không khai thác hết công suất.Tỷ
lệ thất thoát thất thu nước còn cao,tại nhiều đô thị tỷ lệ thất thoát,thất thu còn
cao như Thái Nguyên,Hà Nội,Nam Định,Hà Tĩnh,Vinh....Chất lượng nước
ngầm,nước măt bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân dân
( website của Viện Quy Hoạch Thủy Lợi).
2.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.Lê Phương Nam(2011),Xác định nhu cầu sử dụng nước sạch của người
dân xã Văn Bình,huyện Thường Tín,thành phố Hà Nội,báo cáo tổng kết đề tài
khoa học và công nghệ cấp trường.Nước sạch luôn giữ vai trò quan trọng
trong cuộc sống,sinh hoạt,sản xuất và môi trường sống của con người.Ở Việt
Nam 60% dân số nông thôn chưa được sử dụng nước sạch.Thường Tín là
huyện ngoại thành Hà Nội với dân số 22068 người ( năm 2010).Văn Bình là
một xã thuộc huyện Thường Tín nơi mà người dân chưa được tiếp cận với
nguồn nước sạch.Tác giả sử dụng phương pháptạo dựng thị trường (CVM) để
xác định mức bằng lòng chi trả của người dân đối với việc sử dụng nước
sạch.Kết quả nghiên cứu cho thấy mức sẵn lòng chi trả trung bình của người
dân xã Văn Bình là 3.825 đồng/m3.Hàm WTP = 2.73745 – 0.02747Ag +
0.11442Kno +2839Inc và hàm cầu nước sạch Q= - 0.07P + 15.54.Khi thu
nhập của người dân tăng 1 triệu đồng/tháng thì sẵn lòng trả thêm 230đồng/m 3/
tháng.Ngoài ra các yếu tố về giá nước,chi phí lắp đặt,số năm học của chủ
hộ,tuổi của chủ hộ cũng ảnh hưởng tới mức cầu nước sạch của người dân.
tới cầu về môi trường.Đây là cơ sở để có những khuyến nghị về mặt chính
sách đối với vấn đề thu gom và xử lý rác,bảo vệ môi trường.
24
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Giang Sơn nằm cách trung tâm huyện Gia Bình khoảng 7km về phía
Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 767,97ha.Có địa giới hành chính tiếp giáp
với các địa danh:
- Phía Đông giáp xã Song Giang
- Phía Tây giáp xã Lãng Ngâm
- Phía Nam giáp xã Song Giang và xã Đông Cứu
- Phía Bắc giáp xã Chi Lăng và xã Cách Bi,huyện Quế Võ.
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Xã Giang Sơn là xã thuộc vùng đồng bằng đất đai tương đối bằng
phẳng,xung quanh được bao quanh bởi hệ thống sông,diện tích sông,ngòi ở
đây rất lớn nhưng các sông có tốc độ chảy nhỏ,thuận lợi cho việc nuôi trồng
thủy sản.Mức độ chênh lệch địa hình không lớn ,diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ
nhỏ so với diện tích tự nhiên,phân bố tại vùng núi Du Tràng thuộc xã Du
Tràng.Núi Du Tràng với điểm cao là 409m so với mặt nước biển và có sông
Đuống dài 5,2km chảy dọc theo 3 thôn từ Cổ Thiết qua Tiêu Xá đến thôn
Hữu Ái,thuận lợi cho việc vận tải hàng hóa đường thủy.
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn
Giang Sơn là xã nằm trong tiểu vùng khí hậu Đồng bằng sông Hồng nên
mang đặc trưng của khí hậu ở vùng này,đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa:nóng