1
đặt vấn đề
Tuyến yên là tuyến nội tiết, nằm ở vỏ não chỉ đạo điều khiển hoạt động
của các tuyến khác nh tuyến giáp, tuyến thợng thận cũng nh chức năng của
toàn cơ thể.
U tuyến yên là u phát triển từ tế bào thuỳ trớc tuyến yên, thờng gặp nhất
trong các loại u vùng hố yên, tần suất gặp u tuyến yên 8-15% trong u nội sọ,
đứng hàng thứ 3 trong các khối u nội sọ sau Gliome và Meningiome [21] [ 6] .
U tuyến yên là bệnh lý có triệu chứng lâm sàng khá phong phú, ,thờng đợc chia ra làm hai loại là các khối u có hoạt tính và không có hoạt tính
nội tiết tố , các khối u có hoạt tính nội tiết tố thờng có biểu hiện lâm sàng
sớm hơn bằng các biểu hiện rối loạn nội tiết nh rối loạn kinh nguyệt, vô
kinh, vô sinh, tăng tiết sữa hay to viễn cực. Còn các loại u không có hoạt
động nội tiết thờng có biểu hiện lâm sàng muộn hơn khi đã có chèn ép vào
thần kinh thị giác gây giảm thị lực. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các phơng
pháp chẩn đoán hình ảnh nh chụp IMR hoặc CTscanner. Xét nghiệm nội tiết
có vai trò xác định thể bệnh.
Phần lớn khối u tuyến yên là u lành tính, nhng nếu không đợc chẩn
đoán, điều trị sớm u sẽ phát triển chèn ép gây giảm thị lực và rối loạn chức
năng nội tiết. Loại bỏ khối u là cần thiết khi có chẩn đoán xác định [11].
Điều trị u tuyến yên có nhiều phơng pháp khác nhau nh phẫu thuật, dùng
thuốc nội khoa, xạ trị. Mục đích chính của các phơng pháp đó là loại bỏ đợc
khối u, nhng vẫn đảm bảo đợc chức năng nội tiết của tuyến yên, ức chế hoặc
giảm bài tiết hormone của u gây ra, ít xâm hại nhất đến tổ chức xung quanh.
Nhng thp niờn trc, iu tr u tuyn yờn ch yu bng phu thut m
np hp s nhng ch cú th tin hnh mt s bnh vin ln, tai bin sau m
cao, t l t vong > 10%. Trong nhng thp niờn gn õy vic tin hnh phu
thut ly u bng ni soi qua xoang bm ó phn no lm gim t l t vong,
tuy nhiờn t l tỏi phỏt v cỏc di chng gim th lc sau m ln 2, ln 3 l rt
cao. Trờn th gii vic ng dng x phu bng dao gamma ó phỏt trin mnh
M, Thy in, Phỏp, Nht Bn ... ó m ra mt k nguyờn mi trong iu
3
ưa axít. Khoảng 20% tế bào tuyến yên là tế bào tổng hợp và bài tiết ACTH.
Loại tế bào này khi nhuộm màu bắt bazơ nên còn gọi là tế bào ưa bazơ. Các
tế bào tổng hợp và chế tiết các hormon khác của thuỳ trước tuyến yên mỗi
loại chỉ chiếm từ 3-5% tổng số tế bào của thuỳ trước, song chúng có khả năng
bài tiết hormon rất mạnh để điều hoà chức năng tuyến giáp, tuyến sinh dục,
tuyến vú.
Thuỳ sau : là thuỳ thần kinh. Nó được cấu tạo bởi các tế bào giống tế
bào thần kinh đệm. Những tế bào này không có khả năng chế tiết hormon mà
chỉ làm chức năng như một cấu trúc hỗ trợ cho một lượng lớn các sợi trục và
cúc tận cùng sợi trục khu trú ở thuỳ sau tuyến yên mà thân nằm ở nhân trên
thị và nhân cạnh não thất . Trong cúc tận cùng những sợi thần kinh này có các
túi chứa hai hormon là ADH và oxytoxin.
Hình 1.1. Vị trí giải phẫu tuyến yên
(TrÝch tõ MedicineNet.com)
1.1.2. Mạch máu của tuyến yên.
4
Hình 1.2. Mạch máu tuyến yên.
(Theo Atlas giải phẫu người, Frank. Netter,)
Động mạch cấp máu cho tuyến yên bao gồm 2 động mạch là động
mạch tuyến yên trên và động mạch tuyến yên dưới.
+ Động mạch tuyến yên trên là nhánh của động mạch cảnh trong, xuất
phát từ đoạn trên động mạch cảnh trong xoang hang. Động mạch này tạo
thành mạng mao mạch hình sin, toả ra ở vùng lồi giữa rồi tập trung thành tĩnh
mạch cửa dài đi qua cuống tuyến yên rối xuống thuỳ trước tuyến yên toả
hai bên.
Các bể nước não tuỷ trên yên là các khoang nước não tuỷ dưới nhện, hình
thành giữa vỏ não sát nền sọ và trên yên.Các thành của bể nước não tuỷ bao
gồm phần cao của thân não ở phía sau, mặt sau của thuỳ trán ở phía trước ,
mặt trong của thuỳ thái dương ở ngoài. Sàn não thất III và củ núm vú ở
trên,lều yên ở dưới . Chúng được chia thành : bể giữa cuống não, bể giao thoa
thị giác và bể của lá tận cùng. Bể giữa cuống não ở trong góc được hình thành
bởi sự mở ra của cuống não. Bể giao thoa thị giác chứa giao thoa thị giác và
cuống tuyến yên. Bể của lá tận cùng là phần kéo dài ra trước của não thất III.
6
1.1.4. Thành hố yên.
Hình 1.3. Vị trí tuyến yên trong hộp sọ
(Theo Atlas giải phẫu người, Frank. Netter)
Hố yên là một hố rỗng, ở mặt trên thân xương bướm, được cấu tạo bởi
xương và màng cứng , gồm có 6 thành
Thành trước tương ứng với sườn trước của hố yên, mở chếch xuống
dưới và ra sau. Bờ trên của thành trước là củ yên, tương ứng với mép sau của
giải thị giác. Phía ngoài của yên phình to ra thành mỏm yên trước . Nối hai
mỏm yên là rãnh của xoang mạch vành . Phía dưới ngoài và mỏm yên trước là
khe bướm , có dây III, IV, VI, nhánh mắt của dây V và tĩnh mạch mắt chui
qua. Rãnh xoang tĩnh mạch có tĩnh mạch vành trước , tĩnh mạch nối hai xoang
tĩnh mạch hang ở trên.
Thành sau: tương ứng với với sườn sau của hố yên . Bờ trên của nó
phình ra hai bên tạo nên mỏm yên sau.
Thành dưới : tương ứng với đáy hố yên, là trần của xoang bướm. Ở bên
của đáy hố yên là mép trên của rãnh động mạch cảnh. Đa số các trường hợp
Tế bào Somatotrophes tiết hormon phát triển cơ thể GH (human Growth
Hormon). Các tế bào này tập trung ở thuỳ trước bên của thuỳ trước tuyến yên.
Tế bào Thyreotrophes tiết hormon kích thích tuyến giáp TSH (Thyroid
Stimulating Hormon) khu trú ở phần trước thuỳ trước tuyến yên ngay dưới vỏ.
Tế bào Cortico Lipotrophes tiết hormon kích thích tuyến vỏ thượng thận
ACTH (Adreno Corticotropin Hormone). Loại tế bào này tập trung ở vùng
trung tâm, ngay gần thuỳ sau tuyến yên.
Tế bào Gonadotrophes tiết hormon kích thích nang trứng FSH (Folliche
Stimulating Hormone) và hormon kích thích hoàng thể LH (Luteinizing
Hormone) tập trung nhiều ở vùng trung tâm tuyến.
Tế bào Lactotrophes tiết hormon kích thích bài tiết sữa PRL (Prolactin)
tập trung nhiều ở phần bên của tuyến yên, ngay dưới vỏ tuyến.
1.2.2. Thuỳ sau tuyến yên (hay còn gọi là hậu yên).
Không có chức năng tổng hợp và chế tiết hormon mà chỉ có chức năng là
nơi dự trữ hormon chống lợi niệu ADH và oxytocin. Hai hormon này do các
nơron của nhóm nhân trên thị và cạnh não thất tổng hợp và bài tiết , theo bó
sợi của thần kinh đến dự trữ ở thuỳ sau tuyến yên.
9
1.2.3. Các hormon tuyến yên.
1.2.3.1. Hormon phát triển cơ thể (GH).
GH gây phát triển hầu hết những mô có khả năng tăng trưởng trong cơ
thể. Nó vừa làm tăng kích thước tế bào, vừa làm tăng quá trình phân chia tế
bào , do đó nó làm tăng trọng lượng cơ thể, làm tăng kích thước các phủ tạng.
Bên cạnh đó GH còn kích thích mô sụn và xương phát triển. GH có tác dụng
phát triển hầu hết các mô trong cơ thể trong đó hiệu quả thấy rõ nhất là làm
phát triển khung xương. Kết quả này do ảnh hưởng của GH lên xương như:
+ Tăng lắng đọng protein ở các tế bào sụn và tế bào dạng xương.
này đã làm tăng nồng độ acetyl-CoA, có tác dụng điều hoà ngược để ức chế
quá trình thoái hoá glucose và glycogen.
+ Tăng dự trữ glycogen ở tế bào: Khi nồng độ GH tăng, glucose và
glycogen không thể thoái hoá để sinh năng lượng, glucose được vận chuyển
vào tế bào sẽ trùng hợp thành glycogen. Do đó tế bào nhanh chóng bị bão hoà
glycogen đến mức không thể dự trữ thêm được nữa.
+ Giảm vận chuyển glucose vào tế bào và tăng nồng độ glucose trong
máu: Do sử dụng glucose trong tế bào giảm nên nồng độ glucose trong máu
tăng tới 50% hoặc hơn. Tình trạng này được gọi là đái tháo đường tuyến yên.
Trường hợp này nếu điều trị bằng insulin thường phải dùng lượng lớn insulin
mới có thể giảm được nồng độ glucose trong máu . Vì vậy đái tháo đường loại
này ít nhạy cảm với insulin.
+ Tăng bài tiết insulin: Nồng độ glucose trong máu tăng dưới tác dụng của
GH cũng có tác dụng kích thích tuyến tuỵ nội tiết bài tiết insulin, đồng thời chính
GH cũng có tác dụng kích thích trực tiếp lê tế bào beta của tuyến tuỵ.
Đôi khi cả hai tác dụng này gây kích thích quá mạnh đến tế bào beta làm
chúng bị tổn thương và sẽ gây ra bệnh đái tháo đường tuỵ. Do vậy, GH là
hormon có tác dụng gây đái tháo đường.
11
Bài tiết và vận chuyển GH trong máu: nồng độ GH trong máu trẻ em
khoảng 6ng/ml, ở người trưởng thành khoảng 1,6-3ng/ml. Sự bài tiết GH giảm ở
người cao tuổi nhưng cũng chỉ giảm khoảng 25% so với tuổi vị thành niên.
1.2.3.2. Hormon kích thích tuyến vỏ thượng thận (ACTH).
Tác dụng lên cấu trúc tuyến vỏ thượng thận: ACTH làm tăng sinh tế bào
tuyến vỏ thượng thận, đặc biệt là tế bào của lớp bó và lưới là những tế bào tiết
cortisol và androgen, do đó làm tuyến nở to. Thiếu ACTH tuyến vỏ thượng
thận sẽ bị teo lại.
tiết tăng dần từ tuần thứ 5 của thai nhi cho tới lúc sinh. Nồng độ prolatine
trong thời kỳ này tăng gấp 10-20 lần so với bình thường. Tuy nhiên do
estrogen và progesteron có tác dụng ức chế bài tiết sữa lên trong khi có thai,
mặc dù nồng độ prolactine rất cao nhưng lượng sữa được bài tiết chỉ khoảng
vài ml mỗi ngày. Ngay sau khi đứa trẻ được sinh ra , cả hai hormon estrogen
và progesteron giảm đột ngột tạo điều kiện cho prolactine phát huy tác dụng
bài tiết sữa.
Điều hoà bài tiết: Ở người Việt Nam bình thường , nồng độ prolactine ở
nam giới vào khoảng 110-510 mU/l và ở nữ giới là 80- 600 mU/L. Sự bài tiết
prolactine được điều hoà dưới ảnh hưởng của hormon vùng dưới đồi và một
số yếu tố khác.
13
Hình 1.4. Hoạt động hormone tuyến yên.
1.3. Mô bệnh học u tuyến yên
Phân loại giải phẫu bệnh trớc đây chỉ dựa vào sự bắt màu của tế bào
tuyến mà phân chia thành tế bào a axit, tế bào a kiềm, tế bào kỵ màu. Hiện
nay phân loại theo hoá mô miễn dịch tế bào, u tuyến yên đợc phân loại theo sự
xuất hiện của tế bào chế tiết hormon trong khối u. Bao gồm:
- U tăng tiết hormon: chiếm khoảng 75% tổng số u tuyến yên.
+ U tế bào chế tiết prolactine: chiếm 30-40 %.
+ U tế bào tăng trởng GH: chiếm 30-40%.
+ U tế bào tăng tiết ACTH : chiếm 10%.
+ U tế bào tăng tiết TSH, LH, FSH, u tế bào hỗn hợp rất hiếm gặp.
- U không tăng tiết chiếm khoảng 25%
14
16
u não, trong đó u tuyến yên chiếm 26 ,6 %, 18,6 % u màng não, u dây thần
kinh VIII là 8,6%, K di căn não 10,4%. [7]
1.4.2. Triệu chứng lâm sàng :
Do u tuyến yên là cơ quan điều chỉnh chế tiết hormon toàn bộ cơ thể,
khi tuyến yên bị ảnh hởng thì các hệ thống nội tiết khác cũng ảnh hởng theo vì
thế gây ra hàng loạt các dấu hiệu, triệu chứng khác nhau. Các triệu chứng tuỳ
thuộc vào loại và vị trí của khối u mà gây ra rối loạn bài tiết hormon quá nhiều
hoặc quá ít hoặc gây chèn ép não hay thần kinh trung ơng. Một số loại khối u
gây tăng tiết hormon quá nhiều, một số khác lại gây giảm tiết hormone do đó
triệu chứng vô cùng khác nhau. Cùng 1 loại khối u lành tính có thể gây tăng
tiết quá nhiều hormone nhng ở giai đoạn sau lại gây bài tiết quá ít hormone ấy,
đây là quá trình điều chỉnh bình thờng của tế bào tuyến yên. Cho nên cùng 1
loại khối u nhng giai đoạn sớm thì thế này nhng giai đoạn muộn hoàn toàn ngợc lại. Một trong số vô số dấu hiệu đi kèm u tuyến yên nh sau:
- Đau đầu.
- Nôn và buồn nôn.
- Chảy mũi.
- Táo bón.
- Thay đổi tính cách: giảm hứng thú tình dục, tính cáu kỉnh.
- Giảm cảm giác khứu giác.
- Thay đổi nhiệt độ: không chịu đợc lạnh, không chịu đợc nóng.
- Da thay đổi: da dày lên, phì đại nang lông.
- Thay đổi lông tóc móng: rụng lông, tóc rễ tre, tha tóc, rụng lông mày.
- Giảm huyết áp.
- Thay đổi cân nặng: giảm cân, tăng cân.
- Thay đổi trờng nhìn: nhìn đôi, sụp mi.
- Tai biến mạch máu não.
- Thay đổi khuôn mặt: mặt tròn trịa, mắt sng, xơng hàm và mặt bạnh to ra.
+ U tuyến yên tăng tiết ACTH: gây hội chứng Cushing. Thể hiện:bệnh
nhân béo ở thân và mặt, trong khi đó tay chân lại teo cơ, rậm lông, giãn các
mao mạch dưới da, tăng huyết áp, có thể kèm theo rối loạn kinh nguyệt và rối
loạn tâm thần. U tuyến yên loại quá sản tế bào bazơ gây nên bệnh Cushing.
1.4.2.2. Hội chứng rối loạn thị giác .
Do khối u xâm lấn lên trên chèn ép vào giao thoa thị giác. Sự chèn ép này
thường xảy ra sớm vì giao thoa thị giác nằm ngay trước và trên hố yên. Lúc
đầu sự chèn ép này thể hiện bằng hiện tượng bán manh, sau đó thị lực giảm
dần. Nếu để muộn sẽ gây teo gai thị và mất thị lực. Dấu hiệu về mất thị lực
diễn ra từ từ nên nhiều khi bệnh nhân không để ý đến. Chỉ khi thị lực giảm
nhiều hoặc mất thị lực thì bệnh nhân mới đến khám bệnh. Lúc này soi đáy
mắt thì gai thị thường đã bạc trắng. Ngoài ra còn có thể có biểu hiện song thị
do u chèn ép vào xoang tĩnh mạch hang.
1.4.2.3. Hội chứng đau đầu.
Dấu hiệu đau đầu là dấu hiệu thường gặp ở bệnh nhân bị u tuyến yên.
Đau đầu lan ra hốc mắt, đau đầu liên tục thường thấy ở 50% số bệnh nhân có
u tuyến yên còn nằm trong hố yên, chưa xâm lấn lên trên, do u phát triển làm
căng màng não xung quanh hố yên và lều yên. Tuy nhiên có những u rất nhỏ
cũng có thể gây đau đầu, có thể đau nửa đầu hoặc đau đầu liên tục. Trường
hợp này thường liên quan đến u tuyến yên tăng tiết hormon tăng trưởng hoặc
prolactine. Đau đầu do tăng áp lực nội sọ cũng thường gặp do u to chèn ép
vào não thất III gây tắc lỗ Monro làm giãn não thất hoặc có thể do bản thân u
quá lớn gây tăng áp lực nội sọ.
1.4.2.4. Hội chứng do u chèn ép.
Tuỳ theo sự xâm lấn của u về các phía khác nhau.
19
hiệu gián tiếp.
+ Dấu hiệu gián tiếp:
→ Đáy hố yên nghiêng sang một bên mất cân xứng hoặc bị ăn mỏng ở
bên nghi nghờ u.
→ Tăng chiều cao của tuyến yên , nhìn thấy rõ trên mặt cắt Coronal.
→ Lều yên bị đẩy lồi lên trên.
→ Cuống yên bị đẩy lệch sang bên.
U tuyến yên kích thước lớn hơn 10mm (Macroadenome).
+ Dấu hiệu trực tiếp: Trước khi tiêm thuốc cản quang, u tuyến yên được
nhìn thấy như một khối choán chỗ bên trong hoặc trên hố yên. Nó tăng tỷ
trọng hơn so với tổ chức não bên cạnh, có thể nhìn thấy khối giảm tỷ trọng
khi u hoại tử hoặc chảy máu cũ trong u. Sau khi tiêm thuốc cản quang sẽ thấy
u ngấm thuốc tăng tỷ trọng hơn so với tổ chức tuyến lành hoặc nhu mô não,
ngấm đồng nhất trong u. Nhưng trong trường hợp u hoại tử bên trong thì
ngấm thuốc không đồng đều trong u. Khi u xấm lấn xuống dưới hoặc u xâm
lấn vào trong xoang bướm có thể làm phá huỷ sàn hố yên. Khi u xâm lấn lên
trên sẽ kéo theo sự lấp đầy bể giao thoa thị giác, đè đẩy giao thoa thị giác,
thậm chí đè đẩy vào não thất III hoặc xâm lấn vào não thất III. Khi u xâm lấn
về về phía sau sẽ làm mất hết hình ảnh của bể nước não tuỷ trước cầu não với
hình ảnh chèn ép thân não.
+ Dấu hiệu gián tiếp: Nó thể hiện bằng hiệu ứng choán chỗ và ăn mòn
thành xương hố yên. Trong trường hợp u lớn thường thấy thành hố yên bị phá
21
huỷ, xoang hang bị đè đẩy sang bên, não thất III bị đẩy lên cao, các não thất
bên bị giãn do lỗ Monro bị tắc bởi u xâm lấn .
* Chụp cộng hưởng từ .
Chụp cộng hưởng từ là phương tiện chẩn đoán thích hợp cho việc nghiên
tín hiệu, còn T2 thì tăng tín hiệu. Nhưng nếu u thể nang mà chứa lượng
protein lớn thì có dấu hiệu đồng tín hiệu, thậm chí còn hơi tăng tín hiệu so với
tổ chức tuyến lành và não.
→ Trong trường hợp u chảy máu thì tuỳ thuộc vào thời gian mà có hình
ảnh khác nhau trên cộng hưởng từ nhưng thông thường nó xuất hiện dạng
tăng tín hiệu trên T1. Giữa hai loại u tăng tiết và không tăng tiết không có sự
phân biệt về tín hiệu.
→ Sau khi tiêm thuốc gadolinium thường khối u trở nên tăng tín hiệu
hơn, làm cho sự phân biệt giữa u và tổ chức lành dễ hơn.
+ Dấu hiệu gián tiếp: đối với u nhỏ nhỏ dưới 5mm thì không thể nhìn
thấy trên phim cộng hưởng từ nên phải dựa vào dấu hiệu gián tiếp:
→ Sự đè đẩy cuống yên sang bên đối diện.
→ Sự phình to không cân xứng của tuyến yên với sự lồi khu trú của bờ
trên tuyến.
U tuyến yên kích thước lớn hơn 10mm: Thông thường các khối u này
xâm lấn lên trên hố yên hoặc xuống dưới xoang bướm. IMR cho phép nhìn
thấy được ba chiều khối u nên xác định được hướng xâm lấn của u .
+ U xâm lấn lên trên: Thấy u lấp đầy bể nước não tuỷ trên yên, không
nhìn thấy cuống tuyến yên. Lều yên đôi khi còn nhìn thấy một dải mỏng giảm
23
tín hiệu giới hạn mặt trên của u. Lều yên có thể tạo thành một vòng nghẽn
quanh u. Có thể nhìn thấy giao thoa thị giác bị đè đẩy lên cao trên lớp cắt
đứng dọc và lớp cắt mặt. Tuy nhiên nếu u qúa lớn thường không nhìn thấy
giao thoa thị giác. Nếu u xâm lấn ra sau sẽ làm lấp đầy bể nước não tuỷ trước
cầu não.
+ U xâm lấn xuống dưới: chỉ xác định được khi u lớn, ăn thủng đáy hố
yên, phát triển rộng vào xoang bướm.
1.
LH
1-13,8
15-18
IU/l
2.
FSH
2-10
11-14
IU/l
3.
PRolactine
20-443
50-533
IU/l
hơn. Gần đay, đối với những trờng hợp brocriptin không có tác dụng, mổ cũng
không đợc, ngời ta dùng octreotide (một loại tơng tự somatostatin) có tác dụng
kéo dài và rất mạnh để ức chế hormon tăng trởng .