SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THI TỈNH NĂM 2016- 2017
]PHẦN MỤC LỤC:
Trang
I. Lí do chọn đề tài ...................................................................................03
II. Mục đích nghiên cứu ..........................................................................04
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.........................................................04
IV. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................05
V. Nội dung nghiên cứu
....................................................................05
1. Cơ sở lí luận.......................................................................................05
2. Cơ sở thực
tiễn....................................................................................................08
*Thực trạng ....................................................................................08
a. Thuận lợi ............................................................................................08
b. Khó khăn ..................................................................... 09
* Kết quả khảo sát ban đầu ..................................................................10
3. Các giải pháp thực hiện ..............................................................10
3.1.Giải pháp thứ 1: Hình thành thói quen tốt trong giờ đón, trả trẻ........11
3.2. Giải pháp thứ 2: Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động học ........11
3.3. Giải pháp thứ 3: Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi.....13
3.4. Giải phápthứ 4: Hình thành kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài
trời.17
3.5. Giải pháp thứ 5: Giúp trẻ phát triển các kỹ năng sống ......................18
3.6. Giải pháp thứ 6: Sử dụng các tình huống có vấn .............................21
3.7. Giải pháp thứ 7: Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh......................22
V. Kết quả và ứng dụng
...............................................................................23
khả năng chờ đến lượt, không biết chú ý lắng nghe và làm việc theo nhóm, điều
này làm cho trẻ không tập trung lĩnh hội những điều cô giáo dạy. Vì vậy nên tôi
đã chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” để giúp trẻ có được những kỹ năng cơ bản cho bản
thân và có nề nếp, thói quen tốt ngay từ những năm đầu đời.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tạo cho trẻ sự mạnh dạn tự tin, biết tôn trọng người khác, có khả năng giao tiếp
tốt, biết lắng nghe, nói năng lịch sự, hòa nhã và cởi mở với mọi người.
Trẻ sống gọn gàng ngăn nắp ở nhà cũng như ở trường và nơi công cộng.
Thể hiện thân thiện hòa thuận với bạn: chia sẻ giúp đỡ bạn khi cần thiết, cùng
bạn hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành công việc đến cùng.
Trẻ biết các quy tắc xã hội đơn giản: đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, không vứt
rác bừa bãi, không bẻ cành, bứt lá….
Giúp cho bản thân có thêm kinh nghiệm trong việc giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ thông qua các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày.
Phụ huynh biết phối hợp cùng cô giáo để giáo dục trẻ những kỹ năng cơ bản ở
gia đình.
Dạy trẻ kỹ năng sống nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được
những điều nên làm và không nên làm từ đó giúp cho trẻ có được một số kỹ
năng sống cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng cho trẻ trong
trường mầm non, giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt như đức, trí, thể, mỹ .
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Lớp mẫu giáo 5 Tuổi B - Trường mầm non Hoa Phượng - Hiệp Hòa Bắc Giang.
3.Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2015 đến 20/5/2016
giúp trẻ có được những nhận thức, kiến thức, hành vi, thái độ và kỹ năng thích
hợp.
Một số kỹ năng sống cần thiết đối với trẻ 5- 6 tuổi tuổi đó là:
– Sự tự tin: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát
triển sự tự tin trong trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về trong
cá nhân và trong mối quan hệ với người khác. Không ai sinh ra đã có ngay sự tự
tin. Đó là một đức tính chỉ có thể có được nhờ vào việc rèn luyện và học hỏi. Sự
tự tin lớn dần lên nhờ vào cảm giác được yêu thương, tôn trọng và thấy mình có
giá trị. Một trẻ tự tin sẽ “duy trì được khả năng học hỏi, khám phá trong học tập
và luôn sẵn sàng đón nhận những thách thức mới, mong muốn được yêu quý và
đón nhận chính là khởi đầu tuyệt vời để trẻ gần gũi hơn với mọi người.
– Kỹ năng hợp tác: Đây là một đức tính cần thiết đối với trẻ ở lứa tuổi này. Có
những việc chúng ta không thể tự làm được, nếu được người khác giúp đỡ thì ta
sẽ hoàn thành được việc ta muốn làm. Khi chúng ta kết hợp năng lực làm việc
của mình với người khác theo cùng một mục đích chung, đó chính là sự hợp tác.
Sự hợp tác giúp ta hoàn thành nhiệm vụ của mình nhanh chóng và dễ dàng hơn
là tự mình làm lấy. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cùng làm, cùng chơi với
bạn bè, biết cảm thông và chia sẻ với bạn.
– Kỹ năng giao tiếp: Một trong những kỹ năng cơ bản rất quan trọng đối với trẻ
nhỏ đó là kỹ năng giao tiếp. Cô giáo cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn
đạt được ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí,
kiến thức của mình trong thế giới xung quanh. Đây là một kỹ năng có vị trí
chính yếu khi so với tất cả các kỹ năng khác như đọc, viết, làm toán và nghiên
cứu khoa học. Nếu trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến
nào đó trẻ sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới.
Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn sàng học mọi thứ.
– Kỹ năng xử lý tình huống: Trong cuộc sống có vô vàn các tình huống xảy ra
đòi hỏi con người phải giải quyết, ứng phó. Khả năng vận dụng các kỹ năng
ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống; thói quen và kỹ năng học tập,
sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe; kỹ năng
phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn
luyện kỹ năng ứng xử văn hóa; chung sống hòa bình; phòng ngừa bạo lực và các
tệ nạn xã hội.
Trong thực tế tại trường Mầm non việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không
phải là nội dung mới. Tuy nhiên, hiện nay việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ
còn chưa được chú trọng. Việc lựa chọn nội dung giáo dục kỹ năng sống để vận
dụng vào thực tế vẫn chưa thực sự hiệu quả như tổ chức còn áp đặt, nặng nề,
mang tính hình thức.
*Thực trạng :
Năm học 2015-2016 tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi. Tổng số trẻ
là 40 cháu. Qua nghiên cứu tình hình đầu năm học tôi thấy có những khó khăn
và thuận lợi sau :
a.Thuận lợi
- Trường mầm non Hoa Phượng là một trường điểm của huyện Hiệp Hòa vì vậy
cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, phòng học được xây dựng kiên cố có đầy đủ đồ
dùng trang thiết bị phục vụ cho trẻ học. Các cháu được ăn bán trú tại lớp 100%.
- Các cháu trong lớp đa phần sống trên địa bàn thị trấn có điều kiện phát triển tốt
về thể chất cũng như tinh thần, tình trạng sức khỏe các cháu tương đối tốt.
- Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao
chuyên môn, mua sắm cũng như bổ sung cơ sở vật chất, đồ dùng, đồ chơi để
đảm bảo thực hiện tốt chất lượng giảng dạy.
– Là một giáo viên tâm huyết với nghề, có lòng yêu thương trẻ, tận tình với
công việc. Luôn luôn có ý thức phấn đấu vươn lên, thường xuyên tìm tòi, nghiên
cứu tài liệu như tạp chí, thông tin trên mạng có liên quan đến việc chăm sóc và
giáo dục trẻ để áp dụng vào việc chăm sóc giáo dục trẻ hằng ngày nhất là việc
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Chưa đạt
Tỷ lệ
Tỷ lệ
trẻ
Số trẻ
1. Kỹ năng thích nghi
40
17
42,5
23
57,5
2. Kỹ năng tự phục vụ và bảo vệ
40
18
45
22
40
14
35
26
65
5. Kỹ năng hợp tác, hoạt động cùng
nhóm
6. Kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc và
tạo niềm vui
%
Số trẻ
%
3. Các giải pháp thực hiện
Đối với trẻ mầm non khả năng ghi nhớ có chủ định chưa cao. Ngược lại, khả
năng bắt chước tái tạo lại các hoạt động của người lớn rất nhanh. Trẻ học được
kinh nghiệm sống chủ yếu là nhờ bắt chước hành động thực của người lớn diễn
ra trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không chỉ
sử dụng lý thuyết mà phải vận dụng cả thực hành, trải nghiệm thì mới có hiệu
quả tốt.
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được giáo cô giáo đưa vào trong