YẾU tố NHIỆT của KHÍ hậu VIỆT NAM TRONG THI học SINH GIỎI QUỐC GIA (2) - Pdf 42

CHUYÊN ĐỀ:
YẾU TỐ NHIỆT CỦA KHÍ HẬU VIỆT NAM TRONG THI HỌC SINH GIỎI
QUỐC GIA
PHẦN 1: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN YẾU TỐ NHIỆT
Trước khi hướng dẫn học sinh phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến yếu tố nhiệt
của khí hậu Việt Nam yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức đại cương về nhiệt (thế nào là
nhiệt độ không khí, nguồn cung cấp nhiệt cho không khí, cách đo nhiệt độ không khí,
các nhân tố ảnh hưởng đến nhiệt độ không khí, sự phân bố nhiệt độ không khí trên Trái
Đất)
1. Vĩ độ
Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam phần đất liền nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến
Bắc bán cầu. Điểm cực Bắc nằm sát chí tuyến Bắc còn điểm cực Nam chỉ cách Xích
đạo hơn 80 vĩ tuyến khiến cho Mặt Trời luôn nằm cao trên đường chân trời và qua thiên
đỉnh lúc giữa trưa tại mỗi địa phương 2 lần trong năm. Lượng bức xạ tổng cộng thường
đạt 110-130 kcal/cm2/năm, cán cân bức xạ đạt 85-110 kcal/cm2/năm đều vượt và đạt chỉ
số của khí hậu nhiệt đới. Vì thế nhiệt độ trung bình năm nước ta cao, thường từ 22250C, tổng nhiệt hàng năm thường đạt 80000C -90000C
Do lãnh thổ nước ta kéo dài trên khoảng 15 độ vĩ tuyến, miền Bắc gần chí tuyến
còn miền Nam gần Xích đạo hơn, nhiệt độ cao và ổn định hơn nên đây là một trong
những nguyên nhân khiến nhiệt độ nước ta có sự phân hóa Bắc Nam
2. Gió
Nhiệt độ của nước ta còn thay đổi tùy theo hoạt động gió cùng với tính chất của
nó (gió mùa Đông Bắc, gió Tín phong, gió Lào, gió Tây Nam, …).
Gió mùa Đông Bắc thổi vào nước ta từ tháng 11- tháng 4 năm sau, xuất phát từ
áp cao Xibia gây nên thời tiết lạnh, nhiệt độ trong các tháng mùa đông hạ thấp, nhất là ở
Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng làm cho miền Bắc không đạt chỉ tiêu khí hậu nhiệt
đới (xem bảng 1). Càng vào Nam, gió Đông Bắc càng yếu dần và bị biến tính. Sau vĩ
tuyến 160B xem như không còn tác động của gió mùa Đông Bắc nên hệ quả chế độ
nhiệt thay đổi theo hướng Bắc Nam: nhiệt độ trung bình năm giảm dần từ Nam ra Bắc,
sự chênh lệch nhiệt độ trung bình năm giữa miền Bắc và miền Nam thấp hơn nhiều so
với sự chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất giữa miền Bắc và miền Nam. Gió
mùa Đông Bắc cũng là nguyên nhân chủ yếu làm biên độ nhiệt tăng dần từ Nam ra Bắc,

Nhiệt độ trung bình tháng 3
16,40C
170C
17,10C
16,90C
Gió Lào gây ra thời tiết khô nóng cho duyên hải miền Trung, nhiệt độ có thể lên
0
tới 37 C. Gió Lào thổi là nguyên nhân chính khiến nhiệt độ các tháng đầu mùa hạ của
duyên hải miền Trung (như Vinh, Qui Nhơn) nhiệt độ tăng cao vượt cả khu vực Nam
Bộ (như Cà Mau) – mặc dù Nam Bộ là nơi nằm ở gần Xích đạo hơn (xem bảng 2).
Bảng 2: Nhiệt độ trung bình tháng 6, 7 ở một số địa phương năm 2011
Địa phương
Vinh
Qui Nhơn
Cà Mau
0
0
Nhiệt độ trung bình tháng 6
30,5 C
30,5 C
280C
Nhiệt độ trung bình tháng 7
29,70C
30,40C
27,70C
Tín phong Bắc bán cầu thổi xen kẽ với gió mùa Đông Bắc làm xuất hiện kiểu
thời tiết nắng ấm, nhiệt độ tăng cao trong mùa Đông cho miền Bắc khi gió mùa Đông
Bắc bị suy yếu. Gió này cũng gây mùa khô sâu sắc với nền nhiệt độ cao cho Tây
Nguyên và Nam Bộ từ tháng 11 đến tháng 4 (năm sau)
Đối với gió mùa mùa hạ, do đặc tính của khối khí này là nóng ẩm nên làm cho

4. Mặt Trời lên thiên đỉnh
Cùng nằm ở trong khu vực nội chí tuyến nhưng chế độ nhiệt ở hai miền Nam và
Bắc lại khác nhau: miền Nam có hai tối đa và hai tối thiểu (dạng xích đạo) còn miền
Bắc chỉ có một tối đa và một tối thiểu (dạng nhiệt đới hay dạng chí tuyến). Lí do vì sao?
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu nên tất cả các địa
điểm trên lãnh thổ nước ta đều có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh 2 lần trong năm.
Tuy nhiên khoảng cách giữa hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh ở miền Nam khá lớn
(khoảng cách giữa hai lần Mặt trời lên thiên đỉnh tăng dần từ Bắc vào Nam - ở cao
nguyên Đồng văn chỉ cách nhau vài ngày còn ở bán đảo Cà Mau khoảng cách này là
gần 5 tháng) nên chế độ nhiệt có dạng xích đạo, trong năm có hai lần nhiệt độ cao nhất
vào tháng 4, tháng 8 và hai lần nhiệt độ thấp nhất vào tháng 6 và tháng 12. Càng lên
phía Bắc, hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh càng gần nhau và thành một lần ở chí tuyến
Bắc nên chế độ nhiệt ở miền Bắc có dạng nhiệt đới với một tối đa và một tối thiểu (một
lần nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, tháng 7 và có một lần nhiệt độ thấp nhất thường vào
tháng 12 hoặc tháng 1)
Yếu tố Mặt Trời lên thiên đỉnh cũng ảnh hưởng đến nhiệt độ trung bình của các
địa phương. Điều này giúp chúng ta hiểu được vì sao những ngày nóng nhất trong năm
ở Tp. Hồ chí Minh và Nam Bộ nói chung đều rất sớm từ tháng tư còn ở Hà Nội và
Đồng bằng sông Hồng thì những ngày nắng gay gắt nhất là ở cuối tháng năm và trung
tuần tháng bảy
5. Các yếu tố khác
Nhiều yếu tố tự nhiên khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến yếu tố nhiệt của khí
hậu Việt Nam như mưa, biến đổi khí hậu toàn cầu, vị trí địa lí và hình dáng lãnh thổ,
mức độ đô thị hóa, rừng, …
Tp. Hồ Chí Minh nhiệt độ cao nhất vào tháng tư ngoài nguyên nhân do yếu tố
Mặt Trời lên thiên đỉnh còn do tác động của lượng mưa, đây là tháng có lượng mưa
thấp gần nhất trong năm.
Biến đổi khí hậu toàn cầu làm nhiệt độ của Trái Đất và Việt Nam tăng lên. Trong
vòng 50 năm từ 1958-2007 nhiệt độ tăng 0,5 0C-0,70C, trong đó nhiệt độ trung bình năm
của bốn thập kỉ gần đây (1961-2000) cao hơn nhiệt độ trung bình năm của ba thập kỉ

23,90C
Viên Chăn (17057’B)
25,70C
Huế (16024’B)
25,20C
Rangun (16046’B)
27,40C
Qui Nhơn (13046’B)
26,80C
Băng Cốc (13045’B)
28,10C
Tp.Hồ Chí Minh
27,10C
Phnom Pênh (11033’B)
27,90C
(10049’B)
Nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc đều lớn hơn 200C (trừ vùng núi cao), điều
đó phù hợp với lượng nhiệt của Mặt Trời ở miền nhiệt đới. Nhưng tuy nhiên nếu đối
chiếu với tiêu chuẩn về nền nhiệt của vùng nội chí tuyến thì nước ta thường thấp hơn so
với các nước cùng vĩ độ khác ở Bắc Phi, Ấn Độ, Tây Nam Á (bảng 3).
Bảng 4: Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất, thấp nhất của một số địa điểm
Địa điểm
Nhiệt độ trung bình tháng Nhiệt độ trung bình tháng
cao nhất ( 0C)
thấp nhất ( 0C)
Huế (16024’B)
29,40C
20,00C
Rangun (16046’B)
30,40C

Địa điểm
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối
Lào Cai
1,40C
40,10C
Lai Châu
3,40C
42,50C
Lạng Sơn
-1,80C
39,80C
Tuyên Quang
2,40C
39,60C
Móng Cái
1,10C
39,10C
Hà Nội
2,70C
42,80C
Huế
8,80C
41,30C
Đà Nẵng
10,20C
40,90C
Quảng Ngãi
12,40C
41,40C

Địa điểm
Biên độ trung bình năm
Biên độ tuyệt đối
0
Lạng Sơn
13,7 C
41,60C
Lai Châu
9,40C
39,10C
Hà Nội
12,50C
40,10C
Thanh Hoá
12,00C
39,90C
Vinh
12,00C
38,20C
Huế
9,40C
32,50C
Tp.Hồ Chí Minh
3,10C
26,20C
Tuy nhiên so với các nước khác cùng vĩ độ thì biên độ nhiệt trung bình năm của
nước ta vẫn cao hơn. Ví dụ Tp Vinh của nước ta và Tp. Viên Chăn của Lào có cùng vĩ
độ tương đương nhưng biên độ nhiệt trung bình năm của Vinh vẫn lớn hơn (Vinh là
12,00C, Viên Chăn là 6,80C), hoặc Tp. Cancutta của Ấn Độ mặc dù cùng vĩ độ tương
đương, độ cao bằng nhau (7m) với Lạng Sơn của nước ta nhưng biên độ nhiệt trung

6


độ trên 20 0 C. Hà Nội có 9 tháng nhiệt độ lớn hơn 20 0 C, từ Đà Nẵng trở vào ở đồng
bằng không có tháng nào nhiệt độ dưới 20 0 C
Chế độ nhiệt nước ta phần lớn mang tính chất nhiệt đới chỉ trừ một bộ phận nhỏ
ở những vùng núi cao nằm trong thang nhiệt độ thấp dưới 18 0C. Các vùng núi cao đó là
vùng núi cao Hoàng Liên Sơn và một phần vùng núi cao ở biên giới Việt-Trung, ViệtLào (do ảnh hưởng của độ cao địa hình và gió mùa Đông Bắc), vùng núi cao Kon Tum
và cao nguyên Lâm Viên (do ảnh hưởng của yếu tố độ cao địa hình)
II. Chế độ nhiệt có sự phân hóa.
Sự phân hóa của chế độ nhiệt nước ta cũng tuân theo những qui luật địa lí chung
của Trái Đất đó là qui luật địa đới (sự phân hóa theo vĩ độ-sự phân hóa Bắc Nam) và
qui luật phi địa đới (sự phân hóa theo độ cao, phân hóa theo chiều Đông Tây).
1. Sự phân hóa theo vĩ độ (phân hóa Bắc Nam)
Theo qui luật địa đới, nhiệt độ có sự giảm dần từ các vùng ở vĩ độ thấp lên các
vùng ở vĩ độ cao. Ở nước ta sự phân hóa theo vĩ độ cũng được thể hiện rõ: biên độ nhiệt
trung bình năm càng vào Nam (về phía vĩ độ thấp) càng giảm, nhiệt độ trung bình năm
càng vào Nam càng nóng hơn, tính chất nhiệt đới càng rõ rệt và điển hình hơn
Do lãnh thổ nước ta kéo dài trên 15 0 vĩ tuyến và quan trọng hơn là do gió mùa
Đông Bắc nên nhiệt độ giảm dần từ Nam ra Bắc, trung bình khoảng 0,35 0C/1 độ vĩ
tuyến. Nếu so với các nước nằm ở vĩ độ tương đương như nước ta mà không hoặc ít
chịu tác động của gió mùa Đông Bắc thì tốc độ giảm nhiệt độ trung bình từ Nam ra Bắc
của nước ta sẽ nhanh hơn (ví dụ: Ấn Độ chỉ giảm 0,04 0C/1 độ vĩ tuyến, Lào chỉ giảm
0,20C/1 độ vĩ tuyến).
Thế nhưng thực ra sự giảm nhiệt độ trung bình năm từ Nam ra Bắc không phải
đều là 0,350C/1 độ vĩ tuyến mà có sự khác nhau rõ rệt giữa hai miền Bắc và Nam. Ở
miền Bắc mỗi vĩ độ giảm tới 0,41 0C còn miền Nam mỗi vĩ độ chỉ giảm 0,16 0C. Điều đó
được lí giải bởi miền Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc còn miền Nam thì hầu
như không. Nguyên nhân thứ hai là do miền Nam nằm ở vĩ độ thấp hơn miền Bắc.
Trong vùng vĩ độ thấp có nhiệt độ trung bình năm giảm chậm còn vùng vĩ độ cao có

nhiệt độ năm vượt quá 9300 0C, biên độ nhiệt năm thấp. Trong khi đó miền Bắc nước ta
từ dãy Bạch Mã trở ra do chịu tác động của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trung bình
năm thấp hơn, đồng bằng Bắc Bộ và vùng núi phía Bắc có mùa đông kéo dài 2-3 tháng
(nhiệt độ <180C), tổng nhiệt hoạt động từ 75000C- 93000C, biên độ nhiệt >90C.
Ngay trong từng miền khí hậu thì chế độ nhiệt cũng có sự phân hóa khá rõ theo
chiều từ Bắc xuống Nam. Đối với Miền Bắc đặc điểm chế độ nhiệt của phía Bắc dãy
Hoành Sơn (180B) có sự khác biệt với phía Nam của dãy Hoành Sơn. Trong khi từ dãy
Hoành Sơn trở ra Bắc có mùa đông lạnh thì từ dãy Hoành Sơn trở vào Nam lại không
còn mùa đông rõ rệt. Nguyên nhân là do dãy núi này làm giảm ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc xâm nhập xuống phía Nam, hơn nữa do gió mùa Đông Bắc di chuyển trên
quãng đường dài nên dần bị biến tính. Đối với miền khí hậu phía Nam: nền nhiệt độ
(thể hiện ở nhiệt độ trung bình năm và tổng nhiệt độ) đạt tiêu chuẩn khí hậu Xích đạo,
quanh năm nhiệt độ trung bình các tháng đều trên 25 0C chỉ thể hiện rõ từ 140B trở vào.
Còn trong phạm vi từ 140B (Quy Nhơn) đến dãy Bạch Mã, do bức chắn của khối núi
Kon Tum, lượng mưa còn lớn và trong năm có 3-4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 250C.
2. Sự phân hóa theo độ cao
Sự phân hóa theo độ cao chỉ diễn ra ở các vùng núi. Nếu núi càng cao thì sự phân
hóa biểu hiện càng rõ rệt. Ở miền núi có sự giảm đi của nhiệt độ theo độ cao do sự tăng
nhanh bức xạ sóng dài của bề mặt đất khiến cho cán cân bức xạ có chiều hướng giảm đi
mỗi khi lên cao.
Bảng 8: Sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm của một số địa phương nước ta theo độ
cao
Địa phương
Độ cao
Nhiệt độ trung bình năm
8


Sơn La
602 m

Giới hạn độ cao của các vành đai ở nước ta còn bị chi phối bởi sự phân hóa theo
chiều vĩ độ và ảnh hưởng của chế độ gió mùa đối với vùng núi đó. Thực tế cho thấy
các vùng núi cao ở miền Bắc nước ta có nhiều đai cao hơn và nằm ở độ cao thấp hơn so
với các vùng núi cao miền Nam
3. Sự phân hóa theo chiều Đông Tây
Mặc dù cùng vĩ độ tương đương nhưng nhiệt độ các tháng trong mùa đông của
Đông Bắc thấp hơn khu vực Tây Bắc. Đông Bắc mùa đông đến sớm, kết thúc muộn và
lạnh hơn Tây Bắc (mùa đông đến muộn, kết thúc sớm và bớt lạnh hơn). Quan sát bảng
số liệu nhiệt độ trung bình các tháng của Lạng Sơn (Đông Bắc) và Lai Châu (Tây Bắc)
ta thấy mùa đông của Lạng Sơn kéo dài 3 tháng từ tháng 12 đến tháng 2 còn của Lai
Châu chỉ còn 2 tháng là tháng 12 và 1, nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông của
Lạng Sơn là 14,10C trong khi Lai Châu lên tới 17,40C. Như vậy, vùng núi Đông Bắc có
khí hậu mang tính cận nhiệt đới gió mùa còn vùng núi thấp Tây Bắc mang sắc thái nhiệt
đới ẩm gió mùa.
Bảng 9: Nhiệt độ trung bình các tháng của Lạng Sơn và Lai Châu (đơn vị: 0C)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Lạng Sơn 13,3 14,3 18,2 22,1 23,3 26,9 27,0 26,6 25,2 22,2 18,3 14,8
Lai Châu 17,1 18,0 21,3 24,6 24,5 26,5 26,5 26,6 26,1 23,7 20,6 17,7

Tháng 12
Tháng 1
Tháng 2
0
0
0
Hà Nội
34,5 C
31,4 C
33,1 C
35,10C
Tp. Hồ Chí
35,20C
31,40C
33,00C
35,80C
Minh
2. Sự thất thường thể hiện ở sự dao động của các ngày bắt đầu và kết thúc các mùa
nóng, lạnh.
Sự dao động này có thể từ 12-29 ngày tại khu vực Đông bắc và Đồng bằng Bắc
Bộ. Tại Lạng Sơn, năm rét sớm (năm 1928) mùa lạnh đến sớm hơn hơn trung bình 18
ngày, năm rét muộn (1963) mùa lạnh chậm đến 14 ngày, năm mùa lạnh kết thúc sớm
(năm 1960) thì lệch 19 ngày, năm mùa lạnh kết thúc muộn (1929) thì lệch 12 ngày. Tại
Hà Nội, năm rét sớm (năm 1948) mùa lạnh đến sớm hơn hơn trung bình 18 ngày, năm
rét muộn (1957) mùa lạnh chậm đến 17 ngày, năm mùa lạnh kết thúc sớm (năm 1946)
thì lệch 29 ngày, năm mùa lạnh kết thúc muộn (1927) thì lệch 15 ngày.
10


Tại khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ thời gian dao động mùa nóng và lạnh còn

+245
Quan sát bảng số liệu ta thấy mặc dù Hà Nội (miền Bắc) có lượng mưa thấp hơn
Tp. Hồ Chí Minh (Nam Bộ) nhưng cân bằng ẩm của Hà Nội vẫn cao hơn Tp. Hồ Chí
Minh. Sở dĩ như vậy vì nhiệt độ mùa đông của Tp. Hồ Chí Minh cao hơn Hà Nội đã
làm cho lượng bốc hơi ở đây cao hơn (cân bằng ẩm bằng tổng lượng mưa trừ đi lượng
bốc hơi)
2. Địa hình
Nhiệt độ cao kết hợp với độ ẩm lớn đã đẩy nhanh quá trình phong hóa diễn ra
mạnh tạo nên lớp phủ vụn bở dày cho địa hình. Nhiệt độ cao cũng góp phần làm đẩy
nhanh tốc độ hòa tan, phá hủy đá vôi tạo nên địa hình karst độc đáo với các hang động,
suối cạn, thung khô. Nhiều nước trên thế giới mặc dù có độ ẩm cao, cấu tạo điạ chất có
nhiều đá vôi nhưng các dạng địa hình karst không phong phú như nước ta, nguyên nhân
chính là do yếu tố nhiệt độ.

11


Yếu tố nhiệt còn ảnh hưởng gián tiếp đến địa hình thông qua sinh vật. Sinh
vật nhiệt đới cũng hình thành nên các dạng địa hình đặc biệt như địa hình rạn san
hô (san hô là loài sinh vật chỉ sống ở những vùng biển nhiệt đới nông), …
3. Sông ngòi:
Do nhiệt độ cao quanh năm nên nước trong hệ thống các sông ngòi Việt Nam
không có hiện tượng đóng băng vào thu đông. Nguồn cung cấp nước cho sông chủ
yếu là do nước mưa và nước ngầm, do vậy dẫn đến chế độ nước sông theo sát nhịp
điệu của chế độ mưa. Điều này khác với các nước ở miền khí hậu lạnh ngoài nước
mưa và nước ngầm thì nguồn cung cấp nước cho sông còn do băng tuyết tan, vì thế
các sông ở đây có lũ vào cuối xuân đầu hạ (khi băng tuyết tan).
4. Thổ nhưỡng
Vai trò của yếu tố nhiệt cực kì quan trọng đối với quá trình hình thành đất feralit
ở nước ta. Trong điều kiện nhiệt cao kết hợp với độ ẩm lớn thì quá trình phong hóa diễn

Chế độ nhiệt của nước ta có sự phân hóa kéo theo sinh vật nước ta cũng có sự
phân hóa. Miền Bắc nước ta với nền nhiệt độ trung bình năm trên 20 0C, mùa đông lạnh
dưới 180C kéo dài 2-3 tháng, biên độ nhiệt trung bình lớn nên cảnh quan tiêu biểu là đới
rừng gió mùa nhiệt đới, với thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài ra còn các loài
cận nhiệt, ôn đới. Miền khí hậu phía nam nền nhiệt độ thiên về khí hậu xích đạo, nóng
quanh năm, nhiệt độ trung bình năm trên 25 0C, không có tháng nào dưới 200C, biên độ
nhiệt trung bình năm nhỏ nên cảnh quan tiêu biểu là đới rừng gió mùa cận xích đạo,
chiếm ưu thế là các loài thực vật, động vật vùng xích đạo và nhiệt đới từ phương Nam
lên, phương Tây di cư sang.
Nhiệt độ nước ta có sự phân hóa theo độ cao nên sinh vật có sự thay đổi theo đai
cao. Bên cạnh các hệ sinh thái nhiệt đới chiếm ưu thế ở độ cao dưới 600m-700m ở miền
Bắc và dưới 900m-1000m ở miền Nam thì từ độ cao tiếp theo đến độ cao 1600m1700m do khí hậu mát mẻ nên xuất hiện rừng cận nhiệt đới lá rộng và lá kim, trong
rừng xuất hiện các loài chim, thú cận nhiệt đới phương Bắc, các loài thú có lông dày
như gấu, sóc, cầy, cáo. Ở độ cao trên 1600m-1700m do nhiệt độ thấp nên rừng sinh
trưởng kém, thực vật thấp nhỏ, đơn giản về thành phần loài, rêu, địa y phổ biến thân,
cành cây. Ở trên núi có độ cao từ 2600m trở lên nhiệt độ thấp xuống dưới 15 0C có các
loài thực vật ôn đới như đỗ quyên, lãnh sam, thiết sam.
Như vậy ta có thể kết luận rằng khí hậu nước ta thể hiện rõ sự mâu thuẫn và
thống nhất giữa tính chất nhiệt đới của vĩ độ và tính chất phi địa đới do gió mùa Đông
Bắc và địa hình đem lại. Nhưng muà đông của nước ta ngắn, mà nhiệt độ lại không
xuống thấp lắm, địa hình nước ta phần lớn là đồi núi thấp cho nên tính chất nhiệt đới
vẫn là chủ yếu chi phối đến mọi đặc điểm của thiên nhiên nước ta.
II. Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt đến sản xuất và đời sống
Yếu tố nhiệt ảnh hưởng đến nhiều mặt hoạt động sản xuất và đời sống, trực tiếp
nhất và rõ rệt nhất là hoạt động sản xuất nông nghiệp.
1. Đối với nông nghiệp
Do ảnh hưởng của yếu tố nhiệt mà nền nông nghiệp nước ta thể hiện rõ tính nhiệt
đới: nền nhiệt cao nên trong cơ cấu cây trồng vật nuôi, các sản phẩm có nguồn gốc
nhiệt đới chiếm ưu thế (ví dụ cây lương thực: lúa gạo, sắn, ..; cây công nghiệp: cà phê,
cao su, mía, điều, hồ tiêu, ...). Sản xuất nông nghiệp diễn ra quanh năm. Áp dụng có

đòi hỏi phải có công nghệ nhiệt đới hóa máy móc, cần phải xây dựng các kho tàng, bến
bãi để bảo quản hàng hóa để tránh nắng…
Nền nhiệt cao đã tạo điều kiện cho nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt
đới trong đó có những sản phẩm có giá trị như lúa gạo, cà phê, cao su, dừa, điều, hồ
tiêu, mía … nhằm cung cấp nguồn hàng cho xuất khẩu.
III. Ca dao tục ngữ nói về sự liên quan giữa yếu tố nhiệt với sản xuất nông nghiệp
Nhiệt độ là một trong những yếu tố của tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sản
xuất nông nghiệp và cụ thể trong nội dung này tôi muốn nhấn mạnh đến ngành sản xuất
lúa đối với miền Bắc. Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước,
do đó nhân dân ta đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm về mối quan hệ giữa yếu tố nhiệt
với việc trồng lúa nước.
Lúa là cây lương thực ưa nhiệt do vậy yếu tố nhiệt ảnh hưởng đến nhiều khía
cạnh của việc trồng lúa như: thời vụ gieo cấy, kĩ thuật cấy lúa, tuổi mạ, mật độ gieo mạ,
kĩ thuật cấy lúa, lúa trổ, ..
* Đối với lúa mùa bà con nông dân vùng Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung Bộ có câu ca
dao :
« Tua rua đi dắt mạ mùa
Tiểu thử cày bừa cấy ruộng nông sâu »
14


Đối với lúa mùa thời gian gieo thích hợp nhất vào tiết Tua rua vào khoảng 6-7
tháng 6 dương lịch và cấy vào khoảng tháng 7 dương lịch (tiết Tiểu thử ngày 7-8 tháng
7 dương lịch). Sở dĩ vậy vì đây là khoảng thời gian có nhiệt độ cao nhất, ngày dài nên
quá trình sinh lí trong cơ thể cây lúa được tiến hành thuận lợi, lúa sẽ tích lũy được nhiều
chất dinh dưỡng và năng suất sẽ cao. Nếu cấy lúa muộn hơn, nhiệt độ giảm và độ dài
ban ngày đã rút ngắn lại thì lúa sẽ đẻ ít, có khi không kịp đẻ đã làm đòng, gieo càng
muộn thì thời gian sinh trưởng càng ngắn và năng suất sẽ giảm.
Còn riêng đối với lúa chiêm nhân dân ta cũng có kinh nghiệm chọn thời kì gieo
cấy thích hợp : Ở Đồng bằng Bắc Bộ : « Cấy tháng chạp, đạp không ra

15


Thà rằng công ấy ở nhà ẵm con
Tháng chạp mà cấy mạ non
Thà rằng công ấy ở nhà ẵm con »
Lưu ý, lịch mà ông cha dùng là âm dương lịch, thường chậm so với dương lịch
khoảng một tháng. Bà con nông dân đã xác định được tuổi mạ vì nhận thấy được rõ ảnh
hưởng của yếu tố nhiệt :
« Mạ chiêm ba tháng chưa già
Mạ mùa tháng rưỡi ắt là chẳng non »
Đối với lúa chiêm nếu cấy mạ non sẽ không tốt nhưng ngược lại cấy mạ quá thì
năng suất cũng sẽ kém vì mạ cấy quá thì, thời gian sinh trưởng của lúa sẽ rút ngắn lại.
Nhưng đối với mạ chiêm nếu qua ba đợ rét (ba giá) mà đem cấy thì lúa sau này sẽ chịu
rét được tốt hơn vì đã quen chịu lạnh. Cho nên ca dao có câu :
« Mùa đông rét buốt ngoài da
Mạ được ba giá thì ta nhổ về »
Hoặc : « Chiêm ba giá, mùa cá chết ». Mùa cá chết được hiểu theo nghĩa nhiệt độ
cao về mùa hè làm cho cá trong ruộng lúa có thể chết vì nước nóng, là điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của lúa mùa
* Nhiệt còn là một trong những yếu tố quan trọng bên cạnh yếu tố nước có ảnh hưởng
lớn đến mật độ gieo mạ.
Đối với lúa mùa, do có những điều kiện thời tiết thuận lợi (nhiệt độ cao, đủ nước)
nên mạ mùa sinh trưởng nhanh chóng, mau phát triển lá vì thế mạ mùa không cần gieo
dày lắm.
Còn đối với lúa chiêm, có thể gieo dày hơn mạ mùa bởi mạ chiêm sinh trưởng
trong điều kiện ít thuận lợi hơn (rét, khô hạn). Gieo dày để mạ được ấm chân, cho nên
có câu «Mùa bớt rạ, chiêm tra vào » hay « Tháng chín gieo ngả, tháng ba gieo thóc »
* Ngay cả đối với kĩ thuật cấy lúa thì nhiệt độ cũng là yếu tố được quan tâm hàng đầu.
Lúa chiêm đẻ nhánh ít vì sinh trưởng trong điều kiện trời rét còn ngược lại lúa

nhiệt độ tối thấp tới hạn (dưới 18 0C- 200C) thì lúa sẽ trổ kém. Nếu lúa chiêm mà trổ
sớm dễ bị gặp rét nàng Bân : «Con đói thì con ăn khoai
Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng »
Nếu lúa chiêm trổ sớm vào khoảng tháng 2 (tức cuối tháng 3 dương lịch) dễ gặp
rét muộn và làm nhiệt độ giảm xuống dưới mức nhiệt độ tối hạn thấp nhất tuyệt đối với
lúa trổ
Ở Bắc Trung Bộ nếu lúa trổ vào tiết lập hạ (đầu tháng 5 dương lịch) dễ gặp gió Lào với
nhiệt độ cao hơn 400C-lớn hơn nhiệt độ tối cao tới hạn của lúa nên năng suất không cao.
PHẦN 5 : CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Một số lưu ý khi khai thác kiến thức từ Atlat
Câu hỏi yêu cầu sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam trở thành phổ biến trong tất cả các
đề thi học sinh giỏi quốc gia.
Trước hết GV cần giới thiệu cho HS yếu tố nhiệt của khí hậu Việt Nam trong
Atlat phản ánh nhiệt độ trung bình nước ta với 3 mốc thời gian: nhiệt độ trung bình
năm, nhiệt độ trung bình tháng giêng (đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ trung bình
tháng 7 (đặc trưng cho mùa hạ)
Thông thường câu hỏi gắn với Atlat có 2 dạng là : Dựa vào Atlat, hãy...; hoặc
Dựa vào Atlat và kiến thức đã học, hãy….Vì vậy, học sinh cần xác định rõ phạm vi
kiến thức cần sử dụng để trả lời câu hỏi là chỉ dựa vào Atlat hay khai thác cả Atlat kết
hợp với kiến thức đã học bên ngoài.
17


Các yêu cầu làm việc với Atlat rất đa dạng. Do đó giáo viên cần giúp học sinh
xây dựng một dàn bài có được từ vốn tri thức địa lí sẵn có của bản thân vào việc đọc
các trang Atlat.
2. Một số dạng câu hỏi về yếu tố nhiệt của khí hậu khai thác từ Atlat
Đối với chuyên đề yếu tố nhiệt của khí hậu Việt Nam, chúng ta có thể gặp một số
dạng câu hỏi như sau:
- Dạng 1: Trình bày đặc điểm của chế độ nhiệt nước ta (các vùng, miền)

. Nhiệt độ trung bình năm tăng dần
. Biên độ nhiệt giảm dần
18


. Nhiệt độ trung bình tháng 1 tăng dần
. Số tháng nhiệt độ < 20 0 C giảm dần
. Biến trình nhiệt: Miền Bắc có 1 cực đại, miền Nam có hai cực đại
- Phân hoá theo độ cao: Càng lên cao nhiệt độ càng giảm (dẫn chứng bằng cách so sánh
nhiệt độ của cặp trạm khí hậu Hà Nội- Sapa hoặc Nha Trang- Đà Lạt)
- Phân hoá theo hướng sườn :
. Bắc Bộ: lấy dẫn chứng cặp Lạng Sơn (đón gió) với trạm Điện Biên (khuất gió)
. DHMT: Sườn khuất gió mùa tây nam nhiệt độ cao hơn sườn đón gió
Bài tập: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày đặc điểm chế
độ nhiệt của miền khí hậu phía Bắc?
2.2. Dạng 2: Chứng minh sự phân hóa của nhiệt độ nước ta (các vùng, miền)
Mở bài: Giới thiệu phạm vi ranh giới (nếu là vùng, miền), khái quát đặc điểm chế
độ nhiệt nước ta có sự phân hóa ở các khía cạnh:
- Nhiệt độ trung bình năm
- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất, thấp nhất
- Biên độ nhiệt trung bình năm
- Số lần nhiệt độ đạt cực trị, ..
Bài tập: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy chứng minh tính phân
hóa theo chiều Bắc - Nam của chế độ nhiệt nước ta?
Mở bài: Khái quát về chế độ nhiệt nước ta có sự phân hóa, một trong những biểu
hiện của sự phân hóa đó là phân hóa theo chiều Bắc Nam:
- Nhiệt độ trung bình năm tăng dần từ Bắc vào Nam (dựa vào bản đồ nhiệt độ
trung bình năm và các trạm khí hậu).
- Nhiệt độ trung bình tháng 1 tăng dần từ Bắc vào Nam (Bản đồ nhiệt độ trung
bình tháng 1 và các trạm khí hậu)

+ Các dãy núi lớn là ranh giới khí hậu giữa các vùng miền làm chế dộ nhiệt
phân hóa: Hoàng Liên Sơn, dãy Hoành Sơn, Dãy Bạch Mã...
Bài tập: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến chế độ nhiệt của vùng khí hậu Bắc Trung Bộ?
2.4. Dạng 4: So sánh đặc điểm chế độ nhiệt của các trạm khí hậu.
Mở bài: giới thiệu vị trí địa lí hai trạm, khái quát về đặc điểm chế độ nhiệt có
nhiều khác nhau về:
- Nhiệt độ trung bình năm
- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất, thấp nhất
- Biên độ nhiệt trung bình năm
- Số lần nhiệt độ đạt cực trị, ...
Bài tập: Hãy phân tích sự khác biệt trong chế độ nhiệt của trạm Hà Nội và Tp. Hồ Chí
Minh?
Mở bài: Giới thiệu vị trí địa lí của trạm Hà Nội và Tp. Hồ chí Minh
- Hà Nội có nền nhiệt độ thấp hơn Tp Hồ Chí Minh (nhiệt độ trung bình năm
o
23,5 C so với 27,1oC)
- Hà Nội có 3 tháng (tháng 12, 1, 2) nhiệt độ xuống dưới 20 oC, thậm chí có 2
tháng nhiệt độ xuống dưới 18oC
- Hà Nội có 4 tháng (tháng 6, 7 , 8, 9) nhiệt độ cao hơn Tp. Hồ Chí Minh
- Tp. Hồ Chí Minh quanh năm nóng, không có tháng nào nhiệt độ xuống dưới
o
25,7 C
- Biên độ nhiệt độ ở Hà Nội cao, tới 12,5 oC, biên độ nhiệt ở Tp. hồ Chí Minh
thấp, chỉ có 3,1oC
- Nhiệt độ cao nhất ở Hà Nội là tháng 7 trong khi TP. Hồ Chí Minh là tháng 4
Bài tập: Hãy phân tích sự khác biệt trong chế độ nhiệt của trạm Nha Trang và Đà Lạt?
2.5. Dạng 5: Phân tích tác động của chế độ nhiệt đến các thành phần tự nhiên khác
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status