BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Một trong những trọng tâm của sự phát triển đất nước là đổi mới nền giáo
dục. Phương hướng giáo dục của Đảng, Nhà nước, của ngành giáo dục và đào
tạo trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài là đào tạo những con người “lao
động, tự chủ, sáng tạo” có năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, có năng
lực giải quyết được những vấn đề thường gặp, tìm được việc làm, biết lập
nghiệp và cải thiện đời sống ngày một tốt hơn.
Để đạt được những điều đó cùng với sự thay đổi về nội dung, hình thức tổ
chức dạy học, cần hình thành cho học sinh kỹ năng phân tích, tổng hợp, tạo cho
học sinh năng lực tự học, tự rèn luyện bồi bổ kiến thức cho mình là việc vô cùng
quan trọng.
Đối với nhà trường THCS việc tự rèn cho mình khả năng phân tích tổng
hợp là rất cần thiết đối với tất cả các bộ môn trong đó có bộ môn hóa học, bởi
hóa học là bộ môn khoa học có rất nhiều ứng dụng đối với các nghành khoa học
khác. Góp phần đẩy mạnh sự thay đổi của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đất
nước đang đổi mới.
Trong chương trình hóa học phổ thông để nắm bắt đầy đủ các kiến thức của
bộ môn thì bài tập hóa học được đặc biệt quan tâm vì nó là phương tiện hữu hiệu
trong giảng dạy bộ môn hóa học. Bài tập hóa học góp phần nâng cao khả năng
tư duy sáng tạo, phát triển năng lực cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến
thức mà các em được học.
2. Tên sáng kiến:
“Phát triển năng lực học sinh thông qua cách giải bài tập Hóa học ở
cấp THCS”
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ tên: Phùng Thu Thủy
- Địa chỉ tác giả sáng kiến:
Trường THCS Thượng Trưng - Xã Thượng Trưng - Huyện Vĩnh Tường Tỉnh Vĩnh Phúc.
phát hiện được trình độ học sinh, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học
sinh trong học tập hóa học đồng thời là biện pháp giúp học sinh khắc phục sai
lầm và vượt qua khó khăn đó.
Muốn đạt được mục đích trên, ngoài hệ thống kiến thức về lý thuyết thì hệ
thống bài tập hóa học giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc dạy và
2
học hóa học ở trường phổ thông nói chung, ở trường THCS nói riêng. Bài tập
hóa học giúp người giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Từ đó phân loại học sinh để có kế hoạch dạy học sát với đối tượng. Qua nghiên
cứu bài tập hóa học, bản thân tôi thấy rõ nhiệm vụ của mình trong giảng dạy
cũng như trong giáo dục học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn:
Bài tập hóa học là nguồn để hình thành, rèn luyện, củng cố, kiểm tra các
phương thức, kĩ năng cho học sinh.
Bài tập hóa học có tác dụng mở rộng, nâng cao kiến thức cho học sinh.
Bài tập hóa học giúp giáo viên rèn luyện nhân cách cho học sinh: Tính chủ
động sáng tạo, tính cẩn thận kiên trì ... ý chí quyết tâm trong học tập.
Đặc biệt bài tập hóa học còn giúp việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học
sinh.
Từ thực tiễn qua quá trình dạy học tôi nhận thấy:
Nếu không chú trọng rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh thì kiến thức
học sinh tiếp thu rất hạn chế và hời hợt.
Độ bền và nhớ kiến thức không lâu.
Việc tạo hứng thú và niềm tin cho học sinh trong quá trình học sẽ gặp nhiều
khó khăn.
Vậy làm thế nào để giảng dạy tốt bộ môn hóa học, làm thế nào để phát huy
được tính tích cực tự lực của học sinh, gây hứng thú học tập cho các em là một
khó khăn, một điều trăn trở rất lớn trong mỗi chúng ta đặc biệt trong tìm kiếm
mà kết quả bộ môn chưa đạt kết quả cao.
Ngay đầu năm tôi đã có kế hoạch khảo sát thực trạng học tập môn Hóa học
của học sinh khối 9 để thấy chất lượng học tập bộ môn của học sinh:
Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm (Năm học: 2014 – 2015; Sĩ số học sinh 93):
Tổng
Khối số
HS
9
93
Giỏi
Số
7
%
Khá
Số
7,5 25
%
T.Bình
Số
26,9 28
%
học sinh vẫn còn bỡ ngỡ, không làm được. Đi sâu tìm hiểu việc dạy và học tôi
thấy kết quả bộ môn hóa học chưa cao là do nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan nhưng tập trung ở một số nguyên nhân sau:
Về phía học sinh coi môn hóa học là môn học khó, không thi vào trung học
phổ thông khiến các em không chú ý học.
Về phía phụ huynh quan niệm phải học tập trung vào 3 môn chính là văn,
toán, ngoại ngữ để thi vào được trung học phổ thông, chưa cần đầu tư vào môn
hóa học .
Từ kiến thức cơ bản sách giáo khoa nhưng phát triển thành rất nhiều dạng
bài tập khác nhau với mức độ từ cơ bản đến nâng cao mà thời gian trên lớp chỉ
có 2tiết/tuần, nên việc hướng dẫn học sinh làm bài tập có phần hạn chế về thời
gian.
Về phía giáo viên đa số giáo viên nắm chắc kiến thức, biết phân loại bài tập
hóa học và cách giải từng loại bài nhưng trong đó lại có một số ít giáo viên chưa
tìm được phương pháp truyền đạt hiệu quả, còn lúng túng khi hướng dẫn học
sinh giải các loại bài tập khác nhau gây khó hiểu cho học sinh.
IV. Các giải pháp đã tiến hành nhằm phát triển năng lực học sinh
thông qua cách giải bài tập hóa học ở cấp THCS.
1. Sử dụng bài tập để rèn luyện kỹ năng thực hành.
Hóa học là khoa học thực nghiệm có lập luận. Vì vậy người học sinh muốn
giỏi hóa nhất thiết phải có kỹ năng thực hành, có khả năng giải thích những vấn
đề thực tiễn cuộc sống liên quan đến bộ môn, có ý thức vận dụng kiến thức đã
biết vào cuộc sống. Thông qua các thí nghiệm tại phòng bộ môn, thực hiện các
bài thực hành cũng như ý thức quan sát, sự nhạy bén trong việc vận dụng kiến
thức vào thực tiễn cuộc sống, những năng lực này của HS được hình thành và
phát triển. Tuy nhiên ngoài các thí nghiệm thực hành thì trong quá trình dạy học
việc sử dụng bài tập để qua đó góp phần hình thành và phát triển kỹ năng thực
hành, khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn còn có ý nghĩa quan trọng. Dưới
- Thuốc thử của khí CO2 là dung dịch nước vôi trong (Ca(OH)2).
* Dạng toán không giới hạn thuốc thử
Bài 1: Bằng phương pháp hóa học hãy nhận biết các chất lỏng sau: HCl, H 2SO4,
HNO3, H2O bị mất nhãn.
- Dùng giấy quỳ tím nhúng vào các lọ chứa các chất lỏng, trong đó có một
lọ không làm giấy quỳ đổi màu, nhận được lọ chứa nước.
6
- Các lọ còn lại, trích mỗi lọ một ít làm các mẫu thử. Sau đó dùng thuốc thử
AgNO3 nhỏ vào các mẫu thử, mẫu thử nào xuất hiện kết tủa trắng nhận được
HCl.
HCl + AgNO3 → AgCl ↓ + HNO3
- Dùng dung dịch BaCl2 nhỏ vào các mẫu thử còn lại, mẫu thử nào xuất
hiện kết tủa trắng nhận được axit H2SO4.
H2SO4 + BaCl2 → BaSO4 ↓ + 2HCl
Bài 2: Có 3 kim loại là nhôm, bạc, sắt. Hãy nêu phương pháp hoá học để nhận
biết từng kim loại. Các dụng cụ hóa chất coi như có đủ. Viết các phương trình
hóa học để nhận biết.
GV cần hướng dẫn để học sinh biết dựa vào tính chất riêng của từng chất
để nhận biết chúng. Như trong bài này chỉ có Al tác dụng với NaOH (nhận ra
Al), còn Fe phản ứng được với HCl (nhận ra Fe), còn lại là Ag không phản ứng
được với HCl. HDHS viết PTPƯ.
Bài 3: Bằng phương pháp hóa học hãy phân biệt các dung dịch sau: HCl, H2SO4,
NaOH
Học sinh dựa vào tính chất hóa học của axit, bazơ nhận biết gốc =SO 4, - Cl
để nhận biết. Dùng quỳ tím nhận ra NaOH (làm quỳ tím hóa xanh). Dùng dung
dịch BaCl2 phân biệt HCl với H2SO4 ( có kết tủa trắng BaSO4).
Bài 4: Có 5 chất lỏng : rượu etylic, axit axetic, glucozơ, benzen, etyl axeta . Nêu
- Dung dịch KOH làm hồng phenolphtalein.
- Khi cho dung dịch KOH có màu hồng ở trên vào 2 dung dịch còn lại nhận
ra dung dịch H2SO4 làm mất màu hồng.
H2SO4 + 2KOH → K2SO4 + 2H2O
Còn lại là KCl.
Bài 7: Có 5 lọ hóa chất mất nhãn là MgCl2, FeCl2, NH4NO3, Al(NO3)3 và
Fe2(SO4)3. Hãy dùng một thuốc thử duy nhất để phân biệt được cả 5 loại hóa
chất trên.
Trích mỗi lọ một ít làm các mẫu thử sau đó dùng dung dịch NaOH cho vào
các mẫu thử. Ta thấy:
- Có một mẫu thử xuất hiện bọt khí có mùi khai nhận được lọ chứa
NH4NO3.
NH4NO3 + NaOH → NaNO3 + NH3 ↑ + H2O
- Có một lọ xuất hiện kết tủa trắng lọ chứa MgCl2.
MgCl2 + 2NaOH → Mg(OH)2 ↓ + 2NaCl
8
- Có một lọ xuất hiện kết tủa trắng xanh, hóa đỏ nâu trong không khí nhận
được lọ chứa FeCl2.
FeCl2 + 2NaOH → Fe(OH)2 ↓ + 2NaCl
4Fe(OH)2 + 2H2O + O2 → 4Fe(OH)3 (nâu đỏ)
- Có một lọ xuất hiện kết tủa đỏ nâu nhận lọ chứa Fe2(SO4)3.
Fe2(SO4)3 + 6NaOH → 2Fe(OH)3 ↓ + 3Na2SO4
- Có một mẫu thử xuất hiện kết tủa keo trắng, kết tủa tan khi dd NaOH dư
Al(NO3)3 + 3NaOH → Al(OH)3 + 3NaNO3
Al(OH)3 + NaOH → NaAlO2 + 2H2O
* Dạng toán không được dùng bất kỳ thuốc thử nào khác.
Nguyên tắc: Dạng bài tập này bắt buộc phải lấy lần lượt từng lọ cho phản
ứng với các lọ còn lại. Để tiện so sánh, ta nên kẻ bảng phản ứng. Khi ấy ứng với
↑
-
Na2CO3
↓
↑
-
-
NaCl
-
-
-
-
Mẫu nào cho khí thoát ra là dung dịch HCl:
2HCl + Na2CO3 → 2NaCl + CO2 ↑ + H2O
Mẫu nào cho kết tủa trắng là dung dịch CaCl2:
CaCl2 + Na2CO3 → CaCO3 ↓ + 2NaCl
9
↓ BaSO4 và
↓ BaSO4
NH3 ↑
Ba(OH)2
-
↓ BaSO4 và
-
↓ BaCO3
↓ BaCO3
-
NH3 ↑
Ba(HCO3)2
-
-
Như vậy:
- Mẫu thử nào phản ứng với 3 mẫu thử còn lại mà không có hiện tượng gì
thì mẫu thử đó là NaCl.
FeCl3 + 3NaOH → Fe(OH)3 ↓ + 3NaCl
CuCl2 + 2NaOH → Cu(OH)2 ↓ + 2NaCl
AlCl3 + 3NaOH → Al(OH)3 ↓ + 3NaCl
Al(OH)3 + NaOH → NaAlO2 + 2H2O
Lọc bỏ kết tủa, lấy nước lọc cho phản ứng với CO2 ta thu được Al(OH)3
2NaAlO2 + CO2 + 3H2O → 2Al(OH)3 ↓ + Na2CO3
Lọc lấy Al(OH)3 cho phản ứng với HCl ta thu được AlCl 3 sau khi làm bốc
hơi nước.
Al(OH)3 + 3HCl → AlCl3 + 3H2O
Bài 2: Bằng phương pháp hóa học, hãy tách riêng từng khí ra khỏi hỗn hợp gồm
CO2, SO2, N2.
Cho hỗn hợp đi qua bình đựng dung dịch NaOH dư, khí CO 2 và SO2 sẽ bị
giữ lại. Khí thoát ra là N2.
CO2 + 2NaOH → Na2CO3 + H2O
11
SO2 + 2NaOH → Na2SO3 + H2O
Cho dung dịch H2SO3 vào dung dịch vừa thu được ở trên cho đến dư ta sẽ
thu được CO2 do phản ứng:
H2SO3 + Na2CO3 → Na2SO3 + CO2 + H2O
Cho tiếp vào dung dịch vừa tạo thành ở trên một lượng dung dịch HCl ta sẽ
thu được SO2 do phản ứng:
Na2SO3 + 2HCl → 2NaCl + SO2 + H2O.
Bài 3: Một mẫu Cu có lẫn Fe, Ag, S. Nêu phương pháp tinh chế Cu.
Hòa tan bằng axit để loại bỏ Fe:
Fe + 2HCl → FeCl2 + H2
Đốt trong oxi để loại bỏ S:
2Cu + O2 → 2CuO
S + O2 → SO2
→ 2SO3
2
5
SO3 + H2O → H2SO4
Bài 2: Viết các phản ứng trực tiếp điều chế FeCl2 từ Fe, từ FeSO4 và từ FeCl3.
Fe + 2HCl → FeCl2 + H2
FeSO4 + BaCl2 → BaSO4 + FeCl2
2FeCl3 + Fe → 3FeCl2
Cu + 2FeCl3 → 2FeCl2 + CuCl2
3.2: Điều chế các chất chỉ sử dụng hóa chất trong bài
Bài 3: Có một hỗn hợp gồm CuO và Fe 2O3, Al và HCl. Hãy điều chế Cu nguyên
chất bằng nhiều cách khác nhau.
Cách 1: Dùng Al khử 2 oxit:
0
t
2Al + Fe2O3 →
Al2O3 + 2Fe
0
t
2Al + 3CuO →
Al2O3 + 3Cu
Hòa tan hỗn hợp khử được vào dung dịch axit HCl thì Cu không tan trong
axit, lọc thu được Cu tinh khiết.
Cách 2: Dùng Al + HCl → AlCl3 + H2
Dùng H2 khử:
nghiệm dân gian.
Có những vấn đề hóa học có thể giúp học sinh giải thích những hiện tượng
trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa
học hóa học trong những câu ca dao - tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể
ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất
phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ
động, sáng tạo, hứng thú trong môn học; làm cho hóa học không khô khan, bớt
đi tính đặc thù và phức tạp.
Khi dạy kiến thức hóa học bất kể từ lĩnh vực nào: cấu tạo nguyên tử,
phương trình hóa học, dung dịch…đều liên quan đến kiến thức vật lí hay nhiều
hiện tượng thiên nhiên, hoặc kiến thức hóa hữu cơ: gluxit, lipit, protein,…đều
liên quan đến kiến thức sinh học, nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo
hướng tích hợp sẽ làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy
được sự liên hệ giữa các môn học với nhau.
Ví dụ: Khi học vật lí ta giải thích hiện tượng: càng lên cao thì không khí càng
loãng dựa vào lực hút của trái đất, thì với hóa học các em sẽ hiểu rõ hơn là do
khối lượng mol các khí nặng nhẹ khác nhau nên bị hút mạnh yếu khác nhau, khí
oxi có khối lượng mol nặng hơn so với khối lượng mol của không khí nên tập
trung bên dưới, tầng trên chỉ còn lại các khí có khối lượng mol nhỏ như: H 2, ..ít
khí oxi nên không khí loãng.
Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biết
chọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất của chương trình để giảng dạy
còn phần kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc SGK hoặc các
tài liệu tham khảo. Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn
phù hợp với nội dung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn.
14
Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các
hiện tượng thực tiễn, ngoài giúp học sinh chủ động, tích cực say mê học tập còn
đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là
CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đă gây nên
những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển.
Vấn đề ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta
đang rất chú trọng đến vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học
sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng
cao ý thức bảo vệ môi trường. Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên liên hệ
tích hợp môi trường trong: bài 2: MỘT SỐ OXIT QUAN TRỌNG, bài 29: AXIT
CACBONIC VÀ MUỐI CACBONAT.
Câu 3: Vì sao không nên đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể đổ
axit sunfuric đậm đặc vào nước ?
Giải thích: Trong bất kì quuyển sách hóa học nào cũng ghi câu sau để cảnh
báo người đọc: “Trong bất kì tình huống nào cũng không được đổ nước vào axit
sunfuric đậm đặc, mà chỉ được đổ từ từ axit sunfuric đặc vào nước”. Vì sao
vậy?
Khi axit sunfuric gặp nước thì lập tức sẽ có phản ứng hóa học xảy ra, đồng
thời sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn. Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn
trong nước. Nếu ta cho nước vào axit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit. Khi xảy ra
phản ứng hóa học, nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm.
Trái lại khi ta cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit sunfuric
đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy nước,
sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch. Như vậy khi có phản ứng xảy ra,
nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ
không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh.
Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric chúng ta luôn luôn nhớ là
hóa còn có thể do sự đầu độc vô tình của các đồ nấu ăn, đồ dựng bằng nhôm. Tế
bào thần kinh trong não người già mắc bệnh não có chứa rất nhiều ion nhôm
Al3+, nếu dùng đồ nhôm trong một thời gian dài sẽ làm tăng cơ hội ion nhôm
xâm nhập vào cơ thể, làm nguy cơ đến toàn bộ hệ thống thần kinh não.
Sử dụng đồ nhôm phải biết cách bảo quản, không nên đựng thức ăn bằng
đồ nhôm hoặc không nên ăn thức ăn để trong đồ nhôm qua đêm, không nên
dùng đồ nhôm để đựng rau trộn và giấm…
Câu 7: Có nên dùng xô, chậu, nồi nhôm để đựng vôi, nước vôi hoặc vữa xây
dựng không? Hãy giải thích?
Giải thích: Nếu dùng xô, chậu, nồi nhôm để đựng vôi, nước vôi hoặc vữa
xây dựng thì các dụng cụ này sẽ nhanh bị hư hỏng vì trong vôi, nước vôi hoặc
vữa đều có chứa Ca(OH)2 là một chất kiềm nên tác dụng được với Al2O3 (vỏ bọc
ngoài các đồ dùng bằng nhôm), sau đó đến Al bị ăn mòn
Al2O3 + Ca(OH)2 → Ca(OH)2 + H2O
17
2Al + Ca(OH)2 + 2H2O → Ca(AlO2)2 + 3H2
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong
bài 18: NHÔM ( Bài tập 3/SGK –Trang 58)
Câu 8: Vì sao ở các cơ sở đóng tàu thường gắn một miếng kim loại Kẽm (Zn)
ở phía sau đuôi tàu ?
Giải thích: Thân tàu biển được chế tạo bằng gang thép. Gang thép là hợp
kim của sắt, cacbon và một số nguyên tố khác. Đi lại trên biển, thân tàu tiếp xúc
thường xuyên với nước biển là dung dịch chất điện li nên sắt bị ăn mòn, gây hư
hỏng.
Để bảo vệ thân tàu thường áp dụng biện pháp sơn nhằm không cho gang
thép của thân tàu tiếp xúc trực tiếp với nước biển. Nhưng ở phía đuôi tàu, do tác
động của chân vịt, nước bị khuấy động mãnh liệt nên biện pháp sơn là chưa đủ.
Do đó mà phải gắn tấm kẽm vào đuôi tàu.
2. Sử dụng bài tập để phát hiện vấn đề nhận thức từ việc đọc đề bài toán.
Đây là giai đoạn nghiên cứu đề bài trong quá trình giải bài toán hóa học.
Khi đọc đề bài, trước hết học sinh phải hiểu biết từ ngữ, thấy được lôgíc của bài
toán, hiểu được ý đồ của tác giả, hình dung được tiến trình luận giải và phát
hiện những chổ có vấn đề của bài toán. Theo tôi nên hướng dẫn học sinh nhận
thức phân tích đề bài theo các bước sau:
Bước 1: Giai đoạn định hướng:
Đọc kỹ đề bài nắm vững các dữ kiện của bài toán hóa học: Những điều đã
biết, những điều cần tìm.
Tóm tắt đề bài.
Phân tích đề để tìm ra đâu là nội dung hóa học, đâu là nội dung toán học.
Bước 2: Giai đoạn hành động:
Vận dụng tổng hợp các kiến thức và kỹ năng để giải bài tập.
Bước 3: Giai đoạn kiểm tra:
Kiểm tra và đánh giá việc giải, biện luận và khẳng định đáp án.
Một số dạng bài toán định lượng cụ thể:
Dạng 1: Bài tập tính theo PTHH .
Đây là dạng bài xuyên suốt quá trình học ở bậc THCS và là dạng bài cơ bản,
quan trọng.
1.1.Dựa vào lượng chất tham gia phản ứng.
+ Viết PTHH.
+ Tính số mol của chất đã cho trong đề bài.
19
+ Dựa vào PTHH để tìm số mol chất cần tìm theo tỷ lệ trong PTHH.
+ Tính lượng chất m hoặc V theo đề bài yêu cầu. Cần tìm theo tỷ lệ trong
PTHH.
Ví dụ 1: Cho 2,24 lit khí Hiđro (đktc) cháy trong khí Oxi.
a.
22,4
1
nH = 0,05(mol )
2 2
Thể tích khí oxi đã dùng
VO2 = 0,05 . 22,4 = 1,12 lit.
b. Theo PTHH:
nH 2O = nH 2 = 0,1(mol )
Khối lượng sản phẩm tạo thành:
m H 2O = 0,1 . 18 = 1,8 gam.
1.2. Dựa vào lượng chất tạo thành sau phản ứng:
+ Viết PTHH.
+ Tính số mol của chất đã cho trong đề bài.
+ Dựa vào PTHH để tìm số mol chất cần tìm theo tỷ lệ trong PTHH.
+ Tính lượng chất m hoặc V theo đề bài yêu cầu.
Ví dụ 2: Cho một khối lượng mạt sắt dư vào 50ml dung dịch HCl. Phản
ứng xong thu được 3,36 lit khí (đktc).
a. Tính khối lượng mạt sắt đã tham gia phản ứng.
b. Tính nồng độ mol của HCl đã dùng?
Giải:
nH 2 =
3,36
= 0,15(mol )
22,4
Cách giải: Lập tỉ số:
Số mol chất A( theo đề bài)
và
Số mol chất B( theo đề bài)
SốSomol
chất
(theo
Sốdư,
molchất
chấtkia
A phản
(theo ứng
phương
trình)
sánh
2 tỉAsố,
tỉ sốphương
nào lớntrình)
hơn, chất đó
hết. Tính
So sánh 2 tỉ số, tỉ số nào lớn hơn chất đó dư, chất kia phản ứng hết. Tính toán
(theo yêu cầu của đề bài) theo chất phản ứng hết.
Ví dụ 3: Cho 60 g Al2O3 tác dụng với 49g H2SO4 nguyên chất. Tính khối
lượng Al2SO4 được tạo thành? Sau phản ứng chất nào dư? Khối lượng chất dư
bằng bao nhiêu?
Giải:
1
0,5
Theo PTHH: n Al O = n Al ( SO ) = 3 nH SO = 3 mol
2 3
2
4 3
2
4
21
- Khối lượng muối nhôm sunfat tạo thành là:
0,5
.342 = 57 gam
3
- Khối lượng Al2O3 dư là: m Al2 (SO4 )3 dư = ( n AL2O3 trước phản ứng- n AL2O3 phản ứng). M AL2O3
m Al2 ( SO4 )3 =
m Al2O3 dư = (0,59 -
0,5
).102 = 43 g.
3
a. Tính nồng độ mol của dung dịch NaOH đem phản ứng.
b. Tính nồng độ của các chất trong sản phẩm.
Giải
Ta có PTHH sau:
NaOH + HCl → NaCl
+
H2O
Theo đề ta có: nHCl = 0,05. 2 = 0,1 mol.
a. Nồng độ mol của dd NaOH phản ứng
Theo PTHH : nNaOH = nHCl = 0,1 mol.
CM NaOH =
0,1
= 0,67 M
0,15
b. Theo PTHH: nNaCl = nHCl = 0,1 mol.
Vdd = 0,15 + 0,05 = 0,2 lit.
CM NaCl =
0,1
= 0,5M
0,2
23
Vây :
mdd H 2 SO4 =
0,6.98.100
= 60( g )
98
Vì lượng dung dịch lấy dư 20% so với lượng cần cho phản ứng, nên thể
tích H2SO4 cần dùng là :
Vdd H 2SO4 =
60.120
= 39,1(ml )
1,84.100
b.Theo PTHH (2) :
nNaOH = 2nSO2 = 0,6(mol )
0,6
Vậy : V NaOH = 1 = 0,6(lít ) .
BÀI TẬP ÁP DỤNG:
Bài 1: Cho 8g CuO tác dụng với 100g dung dịch axit sunfuric 24,5%
a. Viết phương trình phản ứng xảy ra?
b. Tính nồng độ phần trăm các chất có trong dung dịch sau khi phản ứng
kết thúc?
Đặt x là số mol của CuO, y là số mol của Fe2O3.
Theo đề ra ta có: 80x + 160y = 20 (I).
TheoPTPƯ :(1) và (2) : nHCl(1)=2 nCuO = 2x (mol).
nHCl (2)= 6 n Fe O = 6y (mol).
2
∑n
HCl
3
= nHCl (1) + nHCl (2) = 0,7 mol.
Hay : 2x + 6y = 0,7 (II).
Từ (I) và (II) ta có hệ phương trình sau:
80x + 160y = 20
x + 6y = 0,7
Giải hệ này ta được : x = 0,05( mol) ; y = 0,1(mol).
mCuO = 80.0,05 = 4g ; m Fe2 O3 = 20 - 4 = 16 g
BÀI TẬP ÁP DỤNG:
Bài 1: Hỗn hợp A gồm CaO và CaCO3. Hòa tan hoàn toàn một lượng A
bằng dung dịch HCl vừa đủ thu được dung dịch B và 10,08 lít khí CO 2 (đktc).
Cô cạn dung dịch B thu được 66,6g muối khan.
a. Xác định % khối lượng hỗn hợp A?
b. Tính nồng độ mol của 200ml dung dịch HCl (D = 1,05g/ml) đã dùng.
Bài 2: Hòa tan hoàn toàn 11,52g hỗn hợp Al 2O3 và CaO cần 200ml dung
dịch H2SO4 1,5M.
a. Tính khối lượng mỗi oxit trong hỗn hợp ban đầu?
25