LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...................................................................................................................................i
Kế hoạch 22/KH-UBND 2014 ngày 10 tháng 4 năm 2014 Kế hoạch triển khai thực hiện đề án tổng
bảo vệ môi trường làng nghề năm 2020 và định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
........................................................................................................................................................51
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
:
Bảo vệ môi trường
CN – TTCN
:
Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
QLMT
:
Quản lý môi trường
QCVN
:
Tiểu thủ công nghiệp
UBND
:
Ủy ban nhân dân
VSMT
:
Vệ sinh môi trường
ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng lao động tại một số làng nghề tái chế kim loại
.....................................................Error: Reference source not found
Bảng 1.2 Lượng sản phẩm tại một số làng nghề tái chế kim loại............Error:
Reference source not found
Bảng 1.3 Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải làng nghề tái chế
kim loại (mg/l)............................Error: Reference source not found
Bảng 1.4 Hàm lượng tổng số một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp xã
Văn Môn.....................................Error: Reference source not found
Bảng 1.5 Số liệu điều tra sức khỏe của người dân tại các làng nghề tái chế
kim loại.......................................Error: Reference source not found
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất.......................4
Hình 1.2: Tỷ lệ xã có làng nghề phân theo vùng....................................................9
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí địa lý xã Quảng Phú, huyện Lương Tài,
tỉnh Bắc Ninh.......................................................................................................27
Hình 3.2: Cơ cấu các ngành kinh tế tại làng nghề đúc đồng Quảng Bố................29
Hình 3.3: Quy trình đúc đồng hiện nay................................................................33
Hình 3.4: Quy trình đúc nhôm..............................................................................34
Hình 3.5: Kết quả điều tra đánh giá môi trường nước của các hộ dân sống tại làng
nghề đúc đồng Quảng Bố.....................................................................................38
Hình 3.6: Biểu đồ đánh giá ô nhiễm môi trường không khí
của các hộ dân sống tại làng nghề........................................................................43
Hình 3.7: Sơ đồ ảnh hưởng của hoạt động tại làng nghề đến sức khỏe người dân
.............................................................................................................................47
Hình 3.8: Sơ đồ hệ thống QLMT làng nghề đúc đồng Quảng Bố..........................49
Hình 3.9: Biểu đồ đánh giá thực hiện nội quy, quy định về QLMT làng nghề.......52
Nguồn: Kết quả điều tra, 2016.............................................................................52
Hình 3.10: Hệ thống thu gom và vận chuyển chất thải rắn..................................54
Hình 3.11: Đề xuất xây dựng mô hình hệ thống quản lý môi trường tại làng nghề
đúc đồng Quảng Bố..............................................................................................59
v
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, đặc biệt là đối
với khu vực nông thôn. Sự phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và
nào để vừa tăng cường hiệu quả cho công tác sản xuất đồng thời đảm bảo
được chất lượng môi trường tại địa phương, giúp tăng cường hiệu quả cho
công tác quản lý sản xuất cũng như quản lý môi trường tại địa phương là rất
cần thiết.
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
công tác quản lý môi trường ở làng nghề đúc đồng Quảng Bố, xã Quảng
Phú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
.
Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng môi trường và công tác quản lý môi trường tại làng
nghề đúc đồng Quảng Bố, xã Quảng Phú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Đánh giá tình hình quản lý môi trường tại làng nghề
- Đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường tại làng nghề.
Yêu cầu nghiên cứu
- Tìm hiểu được thực trạng môi trường ở làng nghề đúc đồng Quảng Bố
và đánh giá đúng tình hình quản lý môi trường ở địa phương.
- Đưa ra được các giải pháp hợp lý nhằm bảo vệ môi trường.
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan làng nghề Việt Nam
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều
sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm
trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng lao động lúc dư
thừa lúc nông nhàn. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng
trăm năm, song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông
nghiệp của đất nước. Ví dụ, như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn
Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
Theo mức độ sử dụng nguyện/nhiên liệu
Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triền
Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục
đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề
môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản
phẩm là phù hợp hơn cả, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về
nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải
khác nhau, và vì vậy cần có những tác động khác nhau đối với môi trường.
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường
nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta
ra thành 6 ngành chính (Hình1.1), mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ. Mỗi
nhóm ngành làng nghề có các đặc điểm khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ
gây ảnh hưởng khác nhau tới môi trường.
Hình 1.1: Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
Nguồn: Viện khoa học và kỹ thuật môi trường,2011
1.1.3. Đặc điểm chung của làng nghề Việt Nam
4
Theo kết quả điều tra làng nghề nông thôn của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn năm 2014, hiện cả nước có 5.407 làng nghề đang hoạt động,
trong đó có 964 làng nghề truyền thống, chiếm xấp xỉ 18%. Số làng nghề
được công nhận là 1.513, chiếm khoảng 28%. Hoạt động sản xuất nghề nông
thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực
lượng lao động nông thôn, đặc biệt có những địa phương đã thu hút được 60%
lao động của cả làng, đã và đang có nhiều đóng góp ổn định đời sống nông
dân, góp phần phát triển kinh tế ở nông thôn.
Lao động làng nghề còn yếu và thiếu: Hiện nay số lượng lao động làm
nghề truyền thống ở các làng nghề đang thiếu nhiều, nhất là thợ giỏi, 90,4%
làng nghề thiếu lao động, chỉ có 9% làng nghề có đủ lao động và 0,6% làng
nghề thừa lao động (UBND xã Quảng Phú,2015.) Nguyên nhân là do số con
em lao động trong các làng nghề học hết trung học phổ thông đều có xu
hướng thi vào các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp chứ không lựa
chọn các trường dạy nghề, kể cả trườjng cao đẳng nghề. Bên cạnh đó, quá
trình truyền nghề cho lớp trẻ chưa được coi trọng đúng mực, việc dạy nghề tại
các làng nghề phần lớn theo lối truyền nghề trong các gia đình, cầm việc chỉ
tay hoặc tổ chức những lớp học ngắn ngày cho con em trong địa phương, rất ít
làng nghề tổ chức đào tạo bài bản dẫn đến hiệu quả chưa cao, số lượng lao
động trong các làng nghề học trường dạy nghề rất thấp, cơ sở vật chất,
phương tiện dạy nghề ở các gia đình và các cơ sở nhỏ lẻ còn đơn sơ, thiếu
thốn. Giáo viên truyền nghề cho học sinh bằng cách truyền nghề trực tiếp
theo kinh nghiệm của từng người. Quy mô dạy nghề truyền thống còn quá ít
về số lượng, chất lượng cũng chưa cao, chưa thu hút được đông đảo các nghệ
nhân cao tuổi tham gia truyền nghề truyền thống cho thanh niên. Mặt khác,
mạng lưới dạy nghề đã phát triển rộng rãi trong cả nước với hơn 100 trường
cao đẳng nghề, hơn 300 trường trung cấp nghề và trên 1.000 cơ sở khác có
dạy nghề, hầu hết các huyện đều có trung tâm dạy nghề, rất nhiều trường đại
học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có hệ dạy nghề nhưng có rất ít trường
và trung tâm đào tạo nghề truyền thống, quy mô đào tạo cũng rất nhỏ và chất
lượng chưa cao. Việc dạy nghề truyền thống các trường này thường chưa gắn
với nhu cầu của sản xuất, kinh doanh, do đó nhiều người học xong vẫn không
tìm được việc làm hoặc nơi tiếp nhận phải tốn them thời gian, kinh phí để đào
tạo lại… (Phạm Liên, 2011).
6
Các hình thức tổ chức sản xuất của các làng nghề chủ yếu gồm: tổ chức
phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa. Thị trường này về cơ bản vẫn là thị
7
trường tại chỗ, nhỏ hẹp. Sản phẩm của làng nghề được tiêu thụ chủ yếu ở
nông thôn vì dân cư nông thôn chiếm tỉ lệ lớn, tiền công lao động thấp nên giá
thành thấp, sản phẩm lại phù hợp với khả năng kinh tế và tâm lý, thói quen
tiêu dùng của người dân, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, ở nông
thôn đã diễn ra sự chuyển dịch trong quan hệ sản xuất, đã tác động mạnh mẽ
tới sự phát triển sản xuất, kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng,
đáp ứng các nhu cầu của một nền kinh tế mới. Nhiều mặt hàng từ các làng
nghề đã được nhiều thị trường trong nước chấp nhận và vươn tới các thị
trường nước ngoài, mang lại nguồn thu đáng kể cho quốc gia, đặc biệt phải kể
đến là mặt hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, hàng dệt, thêu ren, gốm...),
đồ gỗ gia dụng đồ gỗ mỹ nghệ... Hiện nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng
truyền thống của Việt Nam mở rộng sang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế
giới, trong đó có các nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapo, thậm chí
cả các nước khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa kỳ ... (Phạm Hồng
Nhung, 2010).
1.2. Tổng quan về làng nghề tái chế kim loại
1.2.1. Đặc điểm làng nghề tái chế kim loại
Làng nghề tái chế kim loại là một trong những làng nghề phát triển
nhanh trong thời gian vài chục năm gần đây cùng với sự phát triển của kinh tế
nông thôn. Hoạt động của các làng nghề tập trung vào tận dụng phế liệu làm
nguyên liệu cho sản xuất, nhờ đó giảm chi phí đầu tư và giảm lượng chất thải
gây ô nhiễm môi trường. Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê, số xã
có làng nghề tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSH (50%), tại các tỉnh, thành phố
như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định… Tiếp đến là vùng
Bắc Trung Bộ và DHMT chiếm khoảng 25% số xã có làng nghề của cả nước.
Số xã có làng nghề còn lại là ở ĐBSCL và các vùng khác chiếm tỷ lệ nhỏ
lạc hậu, chắp vá. Thiết bị đơn giản không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn
và vệ sinh môi trường. Thường sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại
(kể cả đã cấm sử dụng) để nhằm hạ giá thành sản phẩm. Những hóa chất gồm
axit, chất tẩy trắng, làm bóng sản phẩm… Sau khi dùng xong không được xử lý
mà được đổ thẳng ra cống rãnh gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Trình độ người lao động ở các làng nghề chủ yếu là lao động thủ công,
văn hóa thấp, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, II chiếm trên 60%. Kiến thức
tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu, làm tăng
phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí, ảnh hưởng tới
giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường.
Các làng nghề tái chế kim loại đã tạo cơ hội việc làm cho nhiều người
lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ gia đình, góp phần giảm
đáng kể chi phí xử lý chất thải rắn tại các khu đô thị. Tuy nhiên, hoạt động
của các làng nghề tái chế đã gây ra nhiều tác hại đối với môi trường và ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏa của người dân.
1.2.2. Vai trò của làng nghề tái chế kim loại trong phát triển kinh tế - xã hội
Hoạt động của các làng nghề tái chế kim loại đã góp phần tích cực
trong việc tận dụng chất thải để tạo ra những sản phẩm có ích cho xã hội.Vì
vậy, các làng nghề không chỉ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
kinh tế nông thôn mà còn góp phần cải thiện môi trường. Các vai trò của làng
nghề tái chế kim loại:
- Thu gom các loại chất thải
Nguyên liệu sử dụng cho công nghệ tái chế kim loại đều từ phế liệu
như sắt thép, đồng, chì, nhôm phế liệu; vỏ lon bia, nước giải khát; các đồ gia
10
dụng bằng sắt thép cũ hỏng; acquy phế thải… Việc thu gom các loại chất thải
đã góp phần tích cực, đem lại hiệu quả kinh tế trong quản lý chất thải, giảm số
lượng phế thải thải ra ngoài môi trường. Kết quả điều tra một số làng nghề tái
động
Số hộ % hộ sản Số lao % lao
làm xuất/tổng động
động
nghề số hộ (người) nữ
Đa Hội – Bắc Ninh
Tái chế kim loại
1500
95
3090
20
Vân Chàng – Nam Định Tái chế kim loại
615
90
2992
55
Xuân Tiến – Nam Định Tái chế kim loại, đồng 2015
85,3
4954
5
Phước Kiều – Quảng Nam Tái chế đồng
39
44,8
104
50
Bao Vinh – Huế
Tái chế kim loại
Giảm thiểu chất thải, tăng cường tái sử dụng và tái chế kim loại hiện là
quốc sách của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới.
1.2.3. Thực trạng hoạt động sản xuất của các làng nghề tái chế kim loại
Làng nghề tái chế kim loại đóng vai trò quan trọng, chiếm tỷ lệ cao
12
trong số các làng nghề, góp phần không nhỏ trong GDP của vùng và quốc gia.
Trong những năm gần đây, do được sự hỗ trợ, quan tâm của Nhà nước mà cơ
sở hạ tầng ở các làng nghề có nhiều cải thiện, hệ thống giao thông thuận lợi
hơn vì vậy các làng nghề tái chế kim loại đang ngày càng phát triển mạnh mẽ,
số hộ gia đình tham gia sản xuất ngày càng tăng, các sản phẩm sản xuất ra
được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước, đóng góp đáng kể vào việc
mở rộng ngành nghề và tăng kim ngạch xuất khẩu. Làng nghề đúc nhôm Bình
Yên trung bình tái chế 1400 tấn nhôm phế liệu mỗi tháng, với hiệu suất thu
hồi khoảng 60%, tổng doanh thu đạt khoảng 53 tỷ đồng/năm. Với sản lượng
trên 75000 tấn sản phẩm một năm, làng nghề sắt thép Đa Hội tạo giá trị sản
xuất trên 400 tỷ đồng một năm, nộp ngân sách Nhà nước từ 700 – 800 triệu
đồng/năm (Sở Công thương Bắc Ninh, 2012).
Phần lớn làng nghề đều áp dụng các công nghệ truyền thống và chủ yếu
là lao động thủ công được truyền từ đời này qua đời khác thông qua thế hệ
con cháu. Trình độ kỹ thuật chủ yếu là thủ công, bán cơ khí. Theo điều tra của
Viện Khoa học và công nghệ môi trường, hầu hết các thiết bị sản xuất của
làng nghề đều được chế tạo từ những năm 1950 – 1960 và chủ yếu được mua
lại từ các doanh nghiệp nhà nước đã thanh lý, thải loại hoặc máy móc thiết bị
cũ chắp vá từ nhiều nguồn khác nhau (Vũ Hoàng Nam, 2010).
13
Tổng sản phẩm: 200 –
250 tấn/năm
Tổng sản phẩm: 300 –
3
4
5
6
Đại Bái – Bắc Ninh
Sản phẩm đúc đồng
Vân Chàng – Nam
Luyện và tái chế
Định
Chỉ Đạo – Hưng Yên
Đồng Côi – Nam
Định
400 tấn/năm
Tổng sản phẩm: 17.000
sắt thép, nhôm, mạ tấn/năm
Tổng sản phẩm: 300
Sản phẩm đúc chì
tấn/năm
Môi trường nước
Tại các làng nghề tái chế kim loại, lượng nước sử dụng không nhiều,
chỉ dùng cho nước làm mát, vệ sinh thiết bị, nhà xưởng và nước thải từ quá
trình tẩy rửa và mạ kim loại nhưng lại có hàm lượng các chất độc hại khá cao,
đặc biệt là các kim loại nặng (Đặng Kim Chi, 2010).
- Nước làm mát: Nguồn nước thải này chứa nhiều bụi bẩn, gỉ sắt và dầu mỡ.
- Nước từ quá trình tẩy rửa và mạ kim loại: Nước thải này có chứa hóa
chất HCl, NaOH, CN, Cr, Ni…
- Nước vệ sinh thiết bị, nhà xưởng: nước thải này chứa dầu mỡ bụi
bẩn và một lượng nhỏ hóa chất.
Lượng nước thải này không được xử lý triệt để mà chỉ xử lý sơ bộ qua
một hệ thống lắng lọc hoặc thải thẳng vào hệ thống thủy nông gây ô nhiễm
môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân.
15
Bảng 1.3: Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải làng nghề
tái chế kim loại (mg/l)
STT
Nơi lấy mẫu
Cr2+ ∑Fe
1 Chỉ Đạo – Bắc Ninh
0,04 0,4
2 Vân Chàng – Nam Định 63-87 12
3 Phước Kiều – Quảng Nam 0,2
7,6
4 Xuân Tiến – Nam Định
0,8
0,3
thép vượt TCCP tới 93 lần, Zn vượt 4,7 lần, dầu mỡ vượt 2,77 lần, Pb vượt 24
lần… Nước thải chảy vào mương đổ vào làm cho dòng sông trở nên đen kịt, đặc
quánh (Huỳnh Phương Thảo và Đoàn Lê Bảo Ý, 2010).
Theo các nhà chuyên môn, hàm lượng chì thải ra ở Đông Mai quá lớn:
trong nguồn nước, mức trung bình là 0,77 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép
từ 7,7 - 15 lần. Ở nơi ao hồ đãi và đổ xỉ hàm lượng là 3,278 mg/l, vượt quá
tiêu chuẩn cho phép từ 32 - 65 lần. Do bề mặt nước bị ô nhiễm, một số thực
vật cũng bị ảnh hưởng. Khảo sát nguồn nước tại làng nghề trong những năm
gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm chí còn tăng cao
hơn trước (Bộ NN&PTNT, 2010).
Môi trường không khí
Ô nhiễm không khí là vấn đề cần quan tâm tại các làng nghề tái chế
kim loại. Đây là nguồn gây ô nhiễm chính trong loại hình tái chế này.
Bụi trong không khí phát sinh từ khâu phân loại, gia công sơ bộ, tẩy gỉ,
nấu, cán, kéo, đúc đặc biệt là khu vực bên cạnh các lò đúc thép, hàm lượng
16
bụi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 10 – 15 lần. Tại các làng nghề, bụi thường
chứa kim loại mà chủ yếu là oxit sắt có nồng độ lên tới 0,5 mg/m 3 làm cho
không khí có mùi tanh. Ngoài ra trong không khí còn chứa các hơi hóa chất
như Cl, HCN, HCl….tuy hàm lượng nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép nhưng vẫn
gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (Hội bảo vệ thiên nhiên và môi
trường Việt Nam, 2004).
Tại các làng nghề, trong quá trình nấu người ta thường sử dụng than,
củi, dầu. Việc đốt than gây phát sinh một lượng lớn bụi, khói và các khí ô
nhiễm như CO2, SO2, NOx, chất hữu cơ bay hơi… Theo số liệu do Bộ Tài
mạnh. Dải đất canh tác phía sau các hộ sản xuất đều bị bỏ hoang do ô nhiễm.
Theo số liệu thống kê tại làng nghề Đa Hội, lượng chất thải rắn bao
gồm xỉ than, kim loại vụn và phế loại từ công đoạn phân loại chiếm khoảng
11 tấn/ngày, một số làng nghề khác do quy mô nhỏ nên lượng chất thải rắn ít
hơn đáng kể như: Vân Chàng khoảng 7 tấn/ngày, Văn Môn – Bắc Ninh 0,6
tấn/ngày… (Nguyễn Thị Kim Thái và Lương Thị Mai Hương, 2011).
Tại làng nghề tái chế nhôm tại Văn Môn - Yên Phong - Bắc Ninh có
104 hộ gia đình hành nghề đúc nhôm, 100 hộ gia đình hành nghề thu mua phế
liệu tại nhà và 29 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh lĩnh vực này. Khối
lượng chất thải rắn từ các hoạt động làng nghề này không thể kiểm soát
(Nguyễn Thị Kim Thái và Lương Thị Mai Hương, 2011).
Bảng 1.4: Hàm lượng tổng số một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp
xã Văn Môn
Mẫu đất
Mẫu 1
Mẫu 2
Mẫu 3
Mẫu 4
Mẫu 5
Mẫu 6
Mẫu 7
Mẫu 8
Mẫu 9
Mẫu 10
QCVN
08-2008
H+
As
Cd
1,85
-
12
2
Pb
(mg/kg)
112,30
48,58
54,26
146,54
60,04
48,79
56,43
134,57
46,57
65,98
Cu
(mg/kg)
56,83
42,14
39,44
43,38
47,79
58,46
39,44
46,78
ao nuôi trồng thuỷ sản thuộc thôn Mẫn Xá.
Hàm lượng Pb: có 5 mẫu vượt quy chuẩn, chiếm 33,33%.
Hàm lượng Cu: có 6 mẫu vượt quy chuẩn, chiếm 40%.
Hàm lượng Zn: có 5 mẫu vượt quy chuẩn, chiếm 33,33%.
Nhìn chung, chất thải rắn của quá trình sản xuất tái chế có hàm lượng kim
loại rất cao (từ 3 – 5 g/kg nguyên liệu). Bên cạnh đó, còn chất thải rắn chứa
dầu mỡ, các chất khoáng với hàm lượng dao động từ 1 – 6 mg/kg nguyên liệu.
Việc thải bỏ chất thải rắn không theo quy hoạch và không được quản lý nên đã
ảnh hưởng tới chất lượng đất của làng nghề. Lượng chất độc này dễ ngấm vào
đất, tích tụ lại lâu dần sẽ làm suy thoái môi trường đất (Đặng Kim Chi, 2010).
1.2.5 Ảnh hưởng của làng nghề tái chế kim loại tới sức khỏe con người
Ngoài việc gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường thì hoạt động tái
chế kim loại còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Bệnh phổ biến
của người dân sống ở nhóm làng nghề tái chế kim loại chủ yếu là các bệnh
ngoài da, bệnh về đường hô hấp, các chứng ngạt mũi, giảm nghe, khô, đau
họng, khản giọng, bụi phổi, bệnh về thần kinh và đặc biệt tỷ lệ người mắc
bệnh ung thư tương đối cao. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do sự phát thải
khí độc, nguồn nhiệt cao, tiếng ồn từ máy móc, quá trình hàn, cán đập kim
loại và bụi kim loại từ các lò đúc, nấu kim loại...
19
Bảng 1.5: Số liệu điều tra sức khỏe của người dân
tại các làng nghề tái chế kim loại
Tai
STT
Làng nghề
80
Nam Định
2
3
4
Xuân Tiến, Xuân
Trường, Nam Định
Cầu Vực,
Thừa Thiên Huế
Phước Kiều,
Quảng Nam
phế quản, viêm họng,
viêm xương khớp
Có
7,5
5
Viêm phổi, lao, viêm
khớp
Lao phổi, viêm họng,
nghề tái chế kim loại Vân Chàng và Tống Xá (Nam Định) với tỉ lệ 13,04 và
9,8% (Nguyễn Thị Kim Thái và Lương Thị Mai Hương, 2011).
Do nhiễm độc từ nước và khí thải của chì, có thời kỳ cả làng tái chế chì
Đông Mai có hơn 50% số người bị đường ruột, tá tràng, đau dạ dày; 30% mắc
bệnh đường hô hấp, đau mắt, 100% số người trực tiếp nấu chì đều bị nhiễm
20