ĐAI HỌC QUỐC (ỈIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
“NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC
CỒNG CỤ KINH TẾ VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ở VIỆT
NAM VÀ ĐỂ XUẤT GIẢI PHÁP KHAC PHỤC”
Mã số: ỌT 02- 03
CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI: TS.VŨ QUYẾT THANG
CA HOC Qu c c
ĩ RUNG ^-AỊ ĨH ' MQ T|N ĨHl
DT/~J¥v ~
IIÀ NOI 2003
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC
CÔNG CỤ KINH TẾ VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ở VIỆT
NAM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
MÃ SỐ: QT 02-03
Chủ trì dê tài: T.S.Vũ Quyết Thắng
Các cán bộ tham gia:
ThS. Lê Minh Toàn
ThS. Đào Thị Hiền
ThS. Đàm Duy Ân
C 7 V . Phạm Ván Quăn
HÀ NỘI - 2003
-2-
PHẦN I. TÓM TẮT BÁO CÁO
1. TÊN ĐỀ TÀI:
Những khó khăn và thuân lợi trong việc áp dụng các công cụ kinh tế vào công lác quàn lý
môi trường ở Việt nam và đề xuất giải pháp khắc phục
2. CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: TS Vũ Quyết Thắng
3. CÁC CÁN BỘ THAM GIA:
(2) Problems in applying economic instruments in environmental mancgement
Vietnam,
(3) Reccommendalions for improving its effectiveness.
PHẦN ìl TOÀN VẦN BẤo CÁO KHOA HỌC
-5-
MỤC LỤC
Mở đầu
Mục tiêu của đề tài:
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
I. Tổng quan về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
1.1. Công cụ quản lý môi truờng
1.2. Các nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng các cổng cụ kinh tê trong QLMT
! .3. Mộl số công cụ kinh tế dược áp dụng trong Q LM T
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về sử đụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường .
1.4.1. Kinh nghiệm sử dụng các công cụ kinh tế của các nước phát triển
1.4.2. Kinh nghiệm sử (lụng các cồng cụ kinh tế của các nước đang phái triển
1.5. Bài học cho việc sử dụng công cụ kinh tế trong QLMT dổi với Việt nam
II. Hiện f rạng á|) (lung các công cụ kinh fê trong QLMT ở Việt Nam
2.1. Một số công cụ kinh tê đang dược áp (lung trong ỌLM T ở Việt Nam
2.1.1. Thuế:
2.1.2. Phí. lệ phí:
2.1.3. Công cụ ký quỹ, đặt cọc
2.1.4. Quỹ môi trường
2.2. Nghiên cứu trường hợp
2.2.1. Quỹ Môi trường ngành Than Việt N am
2.2.2. Co' chế nhân sụ (liều phối và quán lý Quỹ Mồi trường Than Việl Nam
2.2.3. Cư chê hạch toán tài chính Quỹ Môi trường Than Việt Nam
3.1. Các tiêu chí lựa chọn và điều kiện cẩn thiếl cho việc áp dụng công cụ kinh tế trong
QLMT 69
3.2. Khó khăn, thuận lợi của việc ứng dụng công cụ kinh tê trong QLMT ử Việt nam. 7 I
3.2.1. Những thuận lợi 71
3.2.2. Những khó k hăn 75
3.3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị 77
3.3.1. Các giải pháp về chính sách 77
3.3.2. Các giải pháp về thể chế 79
3.3.3. Các giải pháp về nAng cao nliân tliức cộng đ ổn g 80
3.3.4. Mội số kiến nghị liên quan đến việc áp (lụng các cồng cụ kinh tế trong QLMT
ở Việl N am XI
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 92
MỎ ĐẤU
Thực hiện chính sách IT1Ở cửa, đổi mới của Đàng và Nhà nước ta. nền kinh lế cùa Việt
Nam (lã có nhiều chuyển biến lícli cực, tăng trưởng ngày càng cao. Sự phát triển cùa công nghiệp,
nông nghiệp, lain nghiệp, thuỷ sản, xây dựng và (lịch vụ đã góp phần không nhỏ vào sự phát tiicn
chung cỉia toàn xã hội, song cũng chính lừ sư pliál triển dó dã làm nảV sinli nhiều vân dề môi
trường nghiêm Irọng. Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ mồi trường hiện dang là vẩn dể hết súc cííp bách
của thời đại, là thách thức gay gắt dối với tương lai phát triển cùa lất cà các Quốc gia trôn hành
tinh, trong đó có Việt Nam. Ngliị quyết đại hội làn llur IX của Đàng đã nhấn mạnh: “Kết hợp hài
lioà giữa pluít triển kinh tế - xã hội với háo vệ và cải thiện môi trường tlico lurớng pliát (lien lull
vững; tiến tới bào (lảm cho mọi người dân tiều dược sống trong môi trường có chất lưựng tốt về
không khí, đất, nước, cảnh quan và các nliAn tố môi trường tự nhiên khác đạt tiêu chuẩn mức tỏi
thiển do Nhà nước quy định”
Để thực hiện các mục tiêu về môi Uirờng. cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt
Nam dang sử dụng phương pháp “Mệnh lệnh - Kiếm soái” trong quàn lý môi trường. Ví dụ:
Nlià nước ban hành các quy định về tiêu chuẩn giới hạn vổ chất thải và (hổng qua các biện
pháp như giám sát. kiểm tra, thanli tra, xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự ,v.v.
buộc các cơ sở sàn xuất, kinh (loanh pliài luân thủ pháp luật và liêu chuẩn môi trường. Đây là
Việc nghiên cứu về lý luân lUrợc (hực hiện trên cơ sờ tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng vồ lý
tluiyết kinli tế môi trường và các công cụ kinh tế trong QLMT. Kinh nghiệm áp dụng còng cụ
kinh lố ử các nước và hài học ử Việt Nam cũng được nhìn nhận một cách tổng quát thông qua việc
thu thập, tra cứu các lài liệu, háo cáo, các lư liệu đã cỏ làm cơ sờ lý luận và thực tiễn elm tic'll
hànli nghiên cứu cụ thể và đề xuất giải pháp có tính khoa học.
2.2. P hương I>liáp cíiéu tra k hảo sát thực tế
Chúng lôi đã tiến hành nghiên cứu kết hợp với cliéu tra phỏng vân các cán bộ, cóng nhân
viên và các cán bộ phụ trách của các ngành, cơ quan chức năng; liến hành kháo sát nglìiẽn cứu
thực dịa tại Quảng Ninh đối với lĩnh vực khai thác than và hoạt dòng du lịch. Trên CƯ sớ thu nhận
các thông tin số liệu liên quan từ các tài liệu, báo cáo tổng kết, kết quả phóng vân và nghiên cứu
hiện trường chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá về thực trạng cùa ván đề cán nghiên cứu.
2.3. Phư ơng p há p c hu yên gia
Thông qua các hoạt động thực tiễn, cán bộ nghicn cứu dược tham gia vào nhiều cuộc họp
tháo luận về các kliía cạnh chính sách và pháp lý liên quan đến công tác quàn lý môi trường, từ đó
dã có thể tlni thập, phân tích và xử lý thòng till bằng cách (rao dổi, tliáo luận trực li úp với các
chuyên gia trong lĩnh vực kinh tẽ, môi Irường và quản lý mõi nường.
- Q -
I. TỔNG QUAN VỂ CÔ N G c ụ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1. Công cụ quản lý mỏi truờng
Công cụ quản lý môi (rường là tổng hợp các hiện pháp hoạt động về luật pháp, chính sách,
kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm bào vệ inôi trường và phát triển bền vững kinh tê - xã hội (Lưu
Đức Hải và Nguyễn Ngợc Sinh, 2000). Có 3 loại hình công cụ chính thường được sử dụng trong
quản lý môi trường, đó là: Các công cụ pháp lý, các cồng cụ kinh tế và các công cụ thuyết phục,
tuyên truyền vận dộng.
Các cống cụ kinh tế là một trong số các cồng cụ của quản lý ìnôi trường. Chúng có thể dược sử
dụng thay thế hoặc bổ sung cho các công cụ khác của quản lý môi tnrờng. Sử dụng các công cụ
kinh tế trong quản lý mồi trường chính là sử dụng sức mạnh của thị trường để hảo vệ tài nguyôii
và môi trường, đảm bảo cAn hằng sinh thái.
Công cụ kinh tế là những công cụ chính sách nliằm thay đổi chi phí và lợi ích của các hoại động
kinh tế llurờng xuyên tác động đến môi trường. Iigãn ngừa các tác động tới môi trường (Bộ
Chi phí thực hiện cao; Dỗ dãn đến
việc bán phá giá hoặc đổ bò sàn
phẩm không đúng quy định
Phí đánh vào sản
phẩm
Tãng nguồn thu cho các mục tiêu môi
trường; khuyến khích sản xuất các sàn
phẩm an toàn
Đòi hỏi phải phát triển các sàn
phẩm thay thế
Phí hành chính Tăng nguồn thu
Hạn chế trong việc áp dụng
Thuế cấp sai
Khuyến khích sản xuất hoặc tiêu thụ các
sàn pliẩm có ích cho môi trường; giảm chi
phí hành chính
Klió khan khi áp dụng
Trợ cấp
Trực tiếp khuyến khích các hoại dộng
chống ổ nhiễm ;chi phí sàn xuất thấp; ihúc
dẩy dổi mới công nghệ
Người dóng thuế (chứ khổng phái
người gây ô nhiễm ) phải chị các
chi phí; vẫn cho phép các ngành
gay ổ nhiễm tổn tại
Chế dộ ký (|iiỹ - hoàn
trả
Khuyến khích việc tái chế lioặc sir (lụng lại;
có tliể lôi kéo sự tham gia cùa người dân
Khó quản lý
Chi phí giám sát và thực hiện cao
tìiám sáI sử đung (lÁt
và nước
Ngân ngừa những sai sót trong viêc hố trí
(lịa điếm
Tạo điều kiện cho sư can thiêp quá
mức cùa các cơ quan chính quyền
N íịiiồii: Ni>íìn hànx tlu' i>iữi (lìiíoiiỊ! trình (Ịiiàn lý dô thị (1993)
-II-
hoá và dịch vụ. Nếu không, sẽ dẫn đến việc sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên, làm
cho ô nhiễm trở nên trầm Irọng hơn so với mức tối ưu đối với xã hội.
Việc buộc người gây ô nhiễm phải trả tiền là một trong những cách tốt nhất để làm giám
hớt các tác dộng của ngoại ứng gây tác động xấu đến thị trường. Nguyên tắc ppp chù trương sửa
chữa “thất bại thị trường” do klìông tính chi phí môi trường trong sản xuất hàng hoá và dịch vụ
hoặc tính thiếu bằng cách bắt buộc những người gây ô nhiễm phải “tiếp thu” đầy đủ chi phí sàn
xuất. Cuối cùng những chi phí này ở một mức độ nhất dinh, sẽ lại chuyển sang người tiêu dùng
(hỏng qua việc tang giá hàng lioá và dịch vụ.
Mặc dù nguyên tắc “người g;ìy ô nhiễm phải trà tiền” tự nó sẽ còn phát triển tiếp tục
nhưng gán đây, nó đã dược củng cố bởi 4 nguyên tắc cơ bản khác nhằm tạo ra các nguyên tắc chủ
dạo cho việc hoạch định các chính sách mỏi trường. Đó là: “nguyên tắc phòng ngừa”, “nguyên tác
hiệu quà kinh tế tiết kiệm chi phí”, “nguyên tắc cấp dưới” và “nguyên tắc hiệu quả về luật pháp”.
Những nguyên tắc này đã bổ sung cho các thiêu sót của nguyên tắc ppp.
- Nguyên lắc "lĩgười hưởng iliụ phải trà tiền " (Benefit pays principle - BPP) chù trương
tạo lập một cơ chế nhằm đạt dược các mục tiêu về môi trường. Đối nghịch với việc người trực tiếp
gây ô nhiễm phái trả tiền, người hường thụ một môi trường dã dược cải thiện cũng phải trà một
khoản phí. Có thể hiểu nguyên tắc BPP một cách lổng quát hơn là: tất cả những ai hưởng lợi do có
clirực mỏi trường trong lành không bị ỏ nhicm, (hì lieII plùú nộp phí.
Nguyên tắc BPP đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường với một cách nhìn nhận riêng.
Thay vì ppp, nguyên lắc BPP chủ trương việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện mỏi trường cần
được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chat
trường. Ớ các IIƯỚC đạt nhiều thành tựu trong bào vệ môi trường, chính phủ phải dicu chỉnh chi
tiêu ngân sách, đặc biệt giảm chi phí quân sự, huy dộng vốn trong nước và các khoản quyên góp
ỏng hộ tự nguyện, các khoản vốn viện trợ, VỐI1 vay ngân hàng Thế giới dành cho công tác bảo vệ
môi trường.
- Tliuê tòi nguyên:
Mục đích thuế tài nguyên là nhầm xác lập mức tối đa về sử (lụng tài nguyên thiên nhiên,
khuyến khích những liành vi đảm bảo cuộc sống bền vững.
Thuế tài nguycn phải được sử dụng từng bước để tránh làm mất cân bàng kinh tế. phải hợp
lý và dễ điều chỉnh có lợi cho kinh tế xã hội. Nếu muốn giảm suy thoái tài nguyên và ô Iiliiỏm
môi trường, Chính phủ cần tăng thuế. Ngược lại, Iiếu muôn tăng việc làm, giảm thất nghiệp cán
giảm thuế. Thuế tài nguyên có sự phân biệt giữa các sản phẩm cùng loại với mức độ tác dộng
khác nhau lên môi trường theo hướng càng gây tác hại tới môi trường mức thuế phải nộp càng
Thuế tài nguyên gồm các thuế chủ yếu: thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng,
thuế tiêu thụ năng lượng.
- Thuế mỏi trường:
Thuế mỏi trường clìmg để khuyến khích, bảo vệ và nâng cao hiệu suất sứ dung các yếu lõ
môi trường, hạn chế các tác nhân gây ra ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn quy (lịnh. Nguyên tắc đánh
thuế: thuế phải lớn hơn chi phí cle giải quyết phế thải và khắc phục ô nhiễm. Biện pháp clánh thuế
sẽ gây sức ép, buộc nhà sản xuất phái cài tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu suất sử dung nguyên, nhiên
liệu hoặc thay thế nguyên, nhicn liệu ít gây ô nhiẽm hơn, áp dụng kỹ thuật chống ô nliiỗm. Các
loại thuế môi trường chú yếu:
- Thuế ô nhiễm bầu không khí.
- Thuế ô nhiễm tiếng ồn.
- Thuế ô nhiễm các nguồn nước.
Chính phủ các nước còn áp dụng các biện pháp miễn giảm thuế nhằm kluiyến khích các
hoạt động có lợi cho môi trường như giảm thuê' cho các ngành sản xuất phân bón vi sinh thay cho
phân bón hóa học, các ngành công nghiệp xử lý nước thải, rác thải, sản xuất “sản phàm xanh"
(Đặng như Toàn, 1996).
- Các loại phí và lệ phí:
Thực hiện nguyên tấc “người sử dụng phải trả tiền”, nhiều nước qui định thu phí và lệ phí
thêm nguồn thu cho Chínli phủ để sử dụng vào việc cải thiện chất lượng môi trường.
Phí đánh vào nguồn gfly ô nhiễm dược sử dụng rộng rãi nhất là các chất gây ô nhiễm
nguồn nước mặn. Ngoài ra, tại một số nước, phí này còn được dùng dể đánh vào chất g&y ô nhiễm
không khí (như NOx), tác nhân gay ra tiếng ồn (máy bay) Tuy nhiên, việc áp dụng loại phí này
dối với chất gữy ô nhiẽm không khí có pliàn phức tạp dó rất khó kiểm soát lượng ô nhiễm thải ra
để tính mức thu phí. Đối với chất thải Iắn thì phí gây ô nhiễm chỉ được áp dụng hạn chế ớ một sỏ
nước như Mỹ, Hà Lan, Bỉ, dưới dạng time' đánh vào chấl thải độc hại và plií sử dụng phân bón quá
mức quy định (Organisation for Economic Co-operation and Development, 1994).
+ Phí sử citing:
Là tiền phải trả do dược sử dụng các hệ thống cổng cộng xử lý và cải thiện chất lượng
mối trường như: hệ thống thoát nước, thu gom rác thải Các khoản thu từ phí này được dùng để
góp phàn hù đắp chi phí hảo đảm cho hệ thống này hoạt dộng. Mục dích chính cùa phí này clo dó
chủ yếu là nhằm lăng nguồn thu cho Chính phủ và đối tượng thu là nlnrng cá nhân hay đơn vị trực
tiếp sử dụng hệ thống (lịch vụ công cộng.
+ Phí (íáiih vào sản phẩm :
Là loại phí được dùng dối với những loại sàn phẩm gây tác hại tới môi trường một khi
chúng dược sử (lung trong các quá trình sàn xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng.
Loại phí này được áp dụng đổi với những sản phẩm chứa chất độc hại và với một khỏi
lượng nhất định chúng sẽ gftv tác hại tới môi trường, chẳng hạn nliư các chất kim loại nặng, pvc,
CFC Cìirtng như phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm vừa đề cập ử trên, phí đánh vào sản phẩm
nhằm hai mục đích là khuyến khích giảm ổ nhiễm bằng giảm việc sử dụng/tiêu dùng các sản
phẩm hị đánh phí và tăng nguồn thu cho Chính phủ. Mức phí do đó sẽ tuỳ thuộc vào mục tiêu đật
ra với loại phí này là gì. Đối với mục đích tăng nguồn thu cho Chính phủ thì mức phí dược xác
định (lưa vàn tổng mức tlni dự clịnli sẽ thu liàng năm và số sản phẩm sẽ được liêu thụ.
Còn (lối với mục đích kluiyến khích giảm ó nhiễm thì mức thu phí dược xác dinh dựa vào
nhân tố nlnr (lộ co giãn về clánli giá của dường cẩu của sản phẩm bị đánh phí, khả năng tồn tại sản
phẩm thay thế kliông hoặc ít gây ô nhiễm hơn và mục tiêu muốn giảm lượng ô nhiễm (tức là
giảm sản phẩm dược ticii thụ).
Phí đánh vào sản phẩm có thể được sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm nếu vì lý do nào dó,
người ta không thể trực tiếp tính dược phí dối vói các chất gây ỏ nhiễm. Loại phí này có thể dánli
Tiền trợ cấp được dùng để nghiên cứu khoa học, áp (lụng kỹ tlniại mới về hảo vệ mỏi
trường, khuyến khích phương pháp canh tác có lợi cho việc bảo vệ môi trường hoang ciã (ờ Anh),
quản lý đất rừng, phục hồi rừng và các khu khảo cổ. Hình thức trợ cấp là chi (làu tư trực tiếp từ
ngân sách. ƯU dãi vẻ thuế, tín dụng
Nhưng cũng có những khoản trợ cáp làm cho tài nguyên hư hại, môi trường thêm ô Iihiềm
Iilur trợ cấp cho phàn bón hoá học, thuốc trừ sâu dùng trong sàn xuất nông nghiệp
Nhu' vậy các mrớc phải soát xét lại chính sách trợ cấp tài chính, xoá bỏ những khoản Irơ
cấp dẫn đến khuyến khích việc làm suy thoái tài nguyên và môi trường (Đặng Như Toàn. 1996).
- Các biện ph áp tài cliínli ngăn ngừa ô nhiễm :
(ìitíy phép chuyển nhii'ựiìị>: Loại giấy này cho phép được đổ phế thài hay sử dụng mội
nguồn lài nguyên đến một mức định trước do pháp luật qui địnli và dược chuyển nhượng bằng
cácli đàu (hầu lioạc trên cơ sờ quyền sử dụng dã có sắn. Các hãng kinh doanh clưực phép mua và
kín giAy plicp sứ dụng này. Những, giây plicp chuyển nhượng này ƯU việt hơn thuê trong trường
- 16-
hợp cần xác lập một mức độ tối đa sô rác thải hoặc định mức sử dụng tài nguyên. Bât cứ một
hệ thống giấy phép chuyển nhượng nào cũng phải dựa tiên những tiêu chuẩn thích hợp và bổn
vững đối với chất lượng môi trường xung quanh và bảo vệ những nguồn tài nguyên tái tạo được.
Giấy phép chuyển nhượng sẽ không có hiệu lực khi những phế thải bị hạn chế dên một tỉ lệ rất
nhỏ so với toàn bộ chi phí sản phẩm, lúc đó sẽ không còn tác dụng khuyến khích sự tham gia
nữa. Nó cũng không áp dụng đối với những chất phế thải độc hại vì những thứ này cần phải được
xử lí đặc biệt nghiêm ngặt. Nói chung, nó dược coi là một biện pháp tạm thời trong khi chờ đợi
đạt được những tiêu chuẩn chính xác hơn.
- Hệ thống dặt cọc và hoàn trả - ký cược - bân hiềm - uỷ llìác, tiền cơm kết - tiên kỷ quỹ: Các
hệ thống này bao gồm việc ký một số tiền cho các sản phẩm có tiềm năng gay ô nhiễm. Nếu các
sản phẩm dược dưa Irả về một số điểm thu hồi quy định hợp pháp sau khi sử dụng, tức là tránh
khỏi bị ỏ nhiễm, tiền ký thác sẽ hoàn trả.
Tirơng tự phải nộp tiền ký quỹ khi việc sản xuất gây độc hại hoặc không thích hợp với mồi
trường và số tiền đó sẽ dược hoàn lại khi vấn đề dã dược giải quyết tốt. Tiền ký quỹ có thể úng
dụng tốt đối với một cá nhân, cũng như đối với một cộng đồng hoặc một nhà máy. Đó là một biện
pluíp ích lợi để đảm bảo rằng giá chi phí kinh tế của việc bảo vệ môi trường phản ánh chi phí xã
khoá, ngân sách.
• Tạo lập thị trường và hỗ trợ thị trường.
Có thể áp dụng cách thay dổi trực tiếp mức giá hoặc chi phí, ví dụ như khi phí dược đánh trên
sàn phẩm sàn xuAt (phí theo sản phẩm) hoặc trên qui trình sản xuất (phí phát thải, phí Iiãng lượng,
plií nguyên vật liệu), hay khi các hệ thống ký thác - hoàn trả được đưa vào hoạt động. Ngoài ra, có
thể áp (lụng trợ cấp Irực tiếp, tín dụng ưu dãi hay khuyến khích tài chính (như khấu hao nhanlì) dể
khuyến khích các cồng nghệ sạch hay khuyến khích kinh tế để thực hiện qui định môi trường
cũng có thể xếp vào loại này.
Tạo lập thị trường thường được (hực hiện trên cơ sờ luật !ệ hay qui định dược thay dổi, ví
dụ như mua bán giấy phép phát thải, dấu giá hạng ngạch nhằm hạn chế mức pliál thái hay mức
đánh bắt cá trong một khu vực nhất định hoặc các chương trình bảo hiểm đáp ứng với sự thay dổi
luật lệ về phạm vi trách nliiệm Hỗ trợ cho thị trường xảy ra khi các cơ quan nhân trách nhiệm
ổn định giá cả hay ổn định một số thị trường nhất định (ví dụ đối với nguyên liệu thứ cấp như
giây tái sinh hay sắt lái sinh).
Nếu chúng ta mở rộng dinh nghĩa các công cụ khuyến khích kinh tế, nghĩa là nếu cliúng la
đưa vào cả các công cụ tài chính và thuế klioá ngân sách không nhằm làm biến đổi trực tiếp hành
vi của người gây ò nhiễm và những người sử dụng tài nguyên, thì ta sẽ có một danh sách dáng kể
các công cụ loại này. Opshoor và Vos đã tiến hành khảo sát tổng quát về tình hình sử dụng cóng
cụ khuyến khích kinh tế cùa sáu nước (Ý, Tliuỵ Điển, Mỹ, Pháp, CHLB Đức, Hà Lan), kết quà
khảo sát cho thấy có tổng cộng tám mươi lăm cồng cu loại này đã được sử dụng, trung bình có
mười bốn công cụ cho mỗi quốc gia. Khoảng 50% này là phí/thuế, chỉ khoảng 30% là trợ giá, và
số còn lại là các loại khác như các hệ thông ký thác hoàn trả và các chương trình chuyển nhượng.
Trong số đó. những còng cụ khuyến khích kinh tế thành công nhất là phí ỏ nhiễm nước ớ
Hà Lan, một số kinh nghiệm của Mỹ trong việc chuyển nhượng giấy phép phát thài, và một số hệ
thông ký lliác hoàn trả ỚThuỵ Điển.
-18-
Việc lựa chọn công cụ hay nhóm các công cụ phụ thuộc vào nhiều điều kiện, không
chỉ là hiệu quả kinh tế mà cả những điều mà nhiều khi các nhà phân tích chính sách thường bỏ
qua. Vấn đề quan trọng ở chỗ là nhóm các công cụ được chọn vừa phải có hiệu quả kinh tế vừa
phải có tính công bằng, khả thi về mặt quản lý, tin cậy được và thực sự góp phần vào việc cải
X
X
Đan Mạch X
X
X X X
Phần Lan
X
X
X
X X X
Pháp
X X X X X X
X
Đức
X X
X
X
X
X X
Ý
X
X
X
X
Nhật
X
X X
I là Lan
X X
X
Việc sử dụng thuế và phí trong mỏi trường cho một hoặc nhiổu loại khai thác khác nhau
đã tồn tại ở các nước này ít nhất là từ năm 1970. Những đối tượng đánh thuế và phí thông dụng có
thể tóm tắt thành các loại cơ bản sau dây:
- Thuế và phí đánh vào nguồn phát sinh ô nliiễm:
Đây là các khoản lệ phí phải trả cho việc thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường. Loại
phí này thường được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng các chất gây ô nhiễm thải ra
như:
- Thuế và phí nước thải
- Thuế và phí rác thải
- Thuế và phí ồ Iihiễm không khí
- Tluiế vì\ phí tiếng ỔI1.
- Phí đánh vào người sử dụng:
Đây là các khoản phí và lệ plií phải trả cho các dịch vụ thu gom hay xử lý các chất tlìài ỏ
nhiễm. Mức phí ô nhiễm là thống nhất, nhưng cũng có thể là có sự chênh lệch nào đó tuỳ thuộc
chất thải thu gom hay xử lý.
- Thuê và phí đánh rào sản phàm:
Đây là những khoản thuế và phí đánh vào sàn phẩm được chế tạo mà trong quá trình sử dụng và
sau khi sử dung có thể gây ô nhiễm môi trường (sulfua cacbon, pliân bón, ). Thông thường, các
tluiế và plií này dược đưa vào giá hán các sản phẩm găy ô nhiễm môi trường.
- Thuế và plií h àn h cliínli:
Đây là loại thuế và pln' trả cho các hoạt dộng giám sát, thục thi chức năng và quvền hạn
dược giao hay các dịch vụ khác mà chính quyền tiến hành nhằm mục đích kiểm soát, khống chế
mức ô Iiliiễm
- T huê cấp sai:
Là các hiện pháp ưu tiên về thuế cho các sàn pliẩm có ích, hoặc không làm tổn hai đến
môi trường và ngược lại, có thể đánh thuế nặng hơn đối với các sản phẩm có hại cho môi trường.
Những hiện pháp này mang lính khuyến khích là chính, bởi vì chúng không làm ảnh hưởng tới
nguồn thu ngân sách.
-20-
Thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm ở một số nước thuộc OECD, có tliể rút ra
ngành còng nghiệp đã bị phàn dối kịch liệt vì họ không muốn phải chịu thèm gánh nặng về tài
chính. Đây là điểm yếu của hê thống plií và lệ phí của Pháp. Người gây õ nhiễm sẩn sàng thực
-21-
Thống qua việc nghiên cứu kinh nghiệm ở một sô' nước thuộc OECD, có thể rút ra
một số nét cơ bản về việc sử (lụng thuế và phí môi trường như sau:
Canada:
Năm 1972, một loại thuế 15% cho mội tấn dầu biển đã dược thu cho quỹ thành lập hoạt
động tàu hiển Canada nhằm hảo vệ môi trường.
Năm 1974 phản ứng trước khủng lioảng clÀu lan rộng, Chính phủ liên bang dã đánh thuê
môn bài clặc biệt đối với các loại plurơng tiện giao thông tiêu thụ nhiều năng lượng, bao gồm các
loại ô tổ, xe gắn máy, máy bay. tàu thuyền. Thuế Iiày tkrợc một số nước thẩm dịnli và diéu chỉnh.
Từ đó đến nay, sô' lượng các loại thuế và phí môi trường dã tăng lên nhanh chóng. Hiện nay, thuế
và phí môi trường đã đang tồn tại nhiều hình thức khác nhau. Những hình thức chính là:
+ Phí dối với người sử dụng, hao gồm:
- Plií ruiức: có ý nghĩa và hiệu quả tích cực đối với khoảng 30% thị xã và thị trấn ở
Canada.
- Phí hoa lợi cải lạo đất.
- Phí sử (lụng I1UỚC mưa
+ Phí kliổi phục hoặc loại bỏ (Urợc trả trước cho các cơ quan quản lý tài chínli chính vào
việc sử dụng tilling đồ uống, ắc quy, các tilling thuốc sâu, và tlùing sơn gây ra ô nhiễm.
+ Phí một dơn vị phát thải do các cơ quan tài chính địa phương tliu đối với hệ thống giám
sát chất lượng không khí.
+ Phí cho các cơ quan có chức nâng xử lý quy lắc, như là phí liên bang cho giấy phép đổ
xuống biển
- Thuê dầu vào cấp liên bang (lánh vào xăng dầu từ năm 1985 và 6 loại thuế cấp tỉnh, liêu
khu đối với xăng dầu.
- Thuế “gas guzzler” cấp tỉnh về chất dốt không hiệu quả sử dụng trong ô tô được dùng ứ
Ontario và các tỉnh khác.
- Phí phát tán, dặc biệt là đối với việc phái thải N 02, S02, v o c , co
Nhìn chung, các dạng phí, lệ phí và một phẩn thuế nhằm bảo vệ môi trường ỡ Canada dược thực
nhiễm A. nếu việc giảm 2 đơn vị ô nhiễm rẻ hơn việc giấy phép cho 2 dơn vị ô nhiễm, về mặt
nguyên tắc thì nên bán giấy phép, nếu chi phí xử lý ô Iiliiễm này rẻ hơn giá giấy phcp. Tóm lại,
han đầu đã có một mức phân phôi tương đương và sau đó, người gâv ô nhiễm dược lự do mua bán
quyền ô nhiễm ticn thị trường. Kinh nghiệm của Mỹ dược minh lioạ ở bảng 4 dưới dây:
Bàng 4: Kinh nghiêm của M ỹ về giấy phép môi trường có th ể mua bán được
TT
Nội dung
Mức độ Bù trừ
Lạp mạng Ngân hàng
Liên
bang
Tiểu bang
ô nhiễm
1
Sô' lượng mua bán
42 89 2000 5000-12000 <120
2
Tiết kiệm chi phí
(triệu USD)
300 135
Nhiều
525-12300
ít
3
Tác dộng chất
lượng không khí
0
0 0 Không dáng kể
Không đáng
kể
cho những người khác. Trong số các nước OECD, biện pháp này dược sử dung rộng rãi nhái ờ Mỹ
và thực (ố (lã thu (lược kết quả tốt, Iihâì là trong lĩnh vực không chế ỏ nhiễm mỏi trường k I HI 11 u
khí. Tuy nhiên, hình lluíc till phiếu giảm phát thái lại khổng phát trie’ll manh dối với mõi trường
-23-
- Phí vi phạm quy định về phòng chống ô nhiễm, theo đó người gây ô nhiễm phải nộp
một khoản phí nhất định Irong trường hợp vi phạm quy dinh sẽ bị xử phạt hành chính. Các biện
pháp này tạo ra động lực kinh tế cho việc tuân thủ (hay vi phạm) các quy định. Có hai biện pháp
thường được áp dụng nhất là:
- Bảo lãnh: Là khoản tiền phải nộp cho chính quyền để đảm bào rằng các quy định được
tuân thủ nghiêm ngặt. Khi các quy định đã dược tuân thủ nghiêm ngặt, khi các quy định sẽ được
tuân thù hoàn toàn thì số tiền dó sẽ dược trả lại cho chủ nhân.
Động cơ thúc đẢy tài chính tlưực thực hiện ở Canacla là thúc dẩy thuế vay và cho vay trực tiếp
dành cho mục dích bảo vệ môi nường. Ngoài ra còn có một sô' loại dộng cơ tài chính hiện dang
được sử dụng như:
- Trả tiền quỹ môi trường cải tạo mỏ.
- Thúc đẩy các tỉnh chi phí một khoản tiền để xác nhận trang bị những thứ cần thiết cho
kiểm soát ô nhiễm.
- Quỹ môi trường hợp tác Canada
Mặc dù dộng cơ thúc dẩy tài chính cho bảo vệ môi trường ở các nước OECD mứi thực
hiện chủ yếu lừ năm 1970 trở lại đay nliirng trong nhiều trưừng hợp cluing đã dem lại hiệu quà
khá tích cực.
d. Iỉệ thống đặt cọc - hoàn trả
Như dã phân lícli, hệ thống dặt cọc hoàn trà cũng là một công cụ kinh tế dược sử dụng khá
rộng rãi ở các nước OECD vào mục tiêu bảo vệ môi trường. Xét về mặt bàn chất, dặt cọc hoàn trá
là việc cộng thêm vào giá hán sản phẩm một khoản phụ thu (như tiền đặt cọc), được áp (lụng với
các mặt hàng có thê gây ô nhiễm. Nếu sau khi hàng lioá dó đã được sử dụng mà khóng gây ó
nhiễm, người ta có thể đem sàn phẩm dó hoặc phần còn lại cùa nó trả cho các dơn vị thu gom phố
thải, và dược nhận lại phần tiền phụ thu do các cơ quan này trả lại.
Đôi với các nước thuộc nhóm OECD, phần lớn hệ thống đặt cọc - hoàn trả dược áp dụng
cho các loại nước uống, bia, rượu và thực sự đã dem lại hiệu quả cao cho việc thu gom các loại