Đánh Giá Hiện Trạng Cấp Nước Sinh Hoạt Và Đề Xuất Quản Lý, Sử Dụng Nước Sinh Hoạt Tại Xã Kim Liên, Huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An - Pdf 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
---------------------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC SINH HOẠT
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG
NƯỚC SINH HOẠT TẠI XÃ KIM LIÊN,
HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Người thực hiện

: PHẠM THỊ DUNG

Lớp

: MTA

Khóa

: K57

Chuyên ngành

: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. NGUYỄN VĂN DUNG
Địa điểm thực hiện

: XÃ KIM LIÊN HUYỆN NAM ĐÀN

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, anh, chị em và tất cả bạn bè,
những người bạn đã đồng hành và giúp đỡ để em hoàn thành tốt đề tài nghiên
cứu này.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, vì chưa có kinh nghiệm thực tế chỉ
dựa vào lý thuyết đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên bài luận văn chắc
chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận
xét từ quý Thầy cô để đề tài nghiên cứu khoa học được hoàn thiện hơn.
Kính chúc mọi người luôn vui vẻ, hạnh phúc, dồi dào sức khỏe và thành
công trong công việc.

Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Dung

ii


MỤC LỤC
3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên.............................................................................................31
a. Vị trí địa lý....................................................................................................................................31
- Độ ẩm tương đối cao nhất: 91,2%. (tháng 3)................................................................................33
Qua bảng cho thấy, người dân xã Kim Liên chủ yếu là sử dụng nước máy chiếm 75,56%. Tiếp theo
là nước giếng khoan chiếm 47,78%, nước mưa chiếm 42,22%. Số hộ gia đình sử dụng nước ao, hồ
để tưới tiêu chiếm 10,00%..............................................................................................................41
Lý do:...............................................................................................................................................41
Qua bảng cho thấy, lượng nước máy sử dụng của người dân xã Kim Liên đủ chiếm 66,18%, tương
đối đủ chiếm 27,94%. Số hộ thiếu nước sử dụng chiếm 5,88%. Điều này cho thấy người dân xã Kim
Liên đang được cung cấp khá đầy đủ nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường phục vụ
cho sinh hoạt. Một số xóm như Sen 1, Sen 2 tỉ lệ thiếu nước sạch cao do hai xóm này nằm ở vị trí
cuối đường ống dẫn nước nên lưu lượng chảy đến sẽ bé nhất. Xóm mậu 1 nằm ở đầu đuờng ống
dẫn nước do vậy lưu lượng chảy qua sẽ lớn nhất............................................................................47

Bảng 3.9: Mục đích sử dụng nước sinh hoạt của các hộ sử dụng....................................................47
nước máy........................................................................................................................................48
Bảng 3.10: Đánh giá chất lượng nước máy của các hộ điều tra.......................................................49
Bảng 3.11: Đánh giá chất lượng nước khác của các hộ điều tra......................................................49
Bảng 3.12: Đánh giá chất lượng dịch vụ cấp nước máy của các hộ điều tra....................................51
Bảng 3.13: Thống kê các loại bệnh có nguyên nhân do nguồn nước gây ra.....................................52

iv


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
BYT: Bộ Y tế
ĐNN: Đất Nông nghiệp
FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations): Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc.
HTX: Hợp tác xã
KHKT: Khoa học Kỹ thuật
NS & VSMTNT: Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
ODA (Official Development Assistance): Hỗ trợ phát triển chính thức là
một hình thức đầu tư nước ngoài
PTNT: Phát triển nông thôn
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND: Uỷ ban nhân dân
UNCEF (United Nations Children's Fund): Qũy nhi đồng liên hiệp quốc
WB: Ngân hàng thế giới
WHO: Tổ chức Y tế thế giới

v



Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được hiện trạng cấp nước sinh hoạt tại xã Kim Liên
- Thông tin trung thực, chính xác

1


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Nước ngọt có ý nghĩa sống còn đối với an ninh chính trị, an sinh xã hội
của mỗi quốc gia. Đến năm 2010 có 89% dân số thế giới, tức khoảng 6,1 tỷ
nguời được sử dụng nguồn nước đã cải thiện. Tuy nhiên tổ chức Qũy nhi
đồng liên hiệp quốc (UNICEF) và tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng khuyến
cáo còn 11% dân số tức khoảng 783 triệu người trên toàn thế giới vẫn không
được tiếp cận với nguồn nước đảm bảo vệ sinh. Đây là nguyên nhân chủ yếu
khiến hơn 3000 trẻ em trên thế giới phải tử vong hàng ngày do tiêu chảy - một
căn bệnh liên quan tới nguồn nước không đảm bảo điều kiện vệ sinh.
Vấn đề nước sạch dùng cho sinh hoạt cho người dân luôn được các quốc
gia trên thế giới quan tâm. Nước sinh hoạt nông thôn là kế hoạch hành động
của Liên Hợp Quốc trong chương trình nước sạch nông thôn. Để cảnh báo và
ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước ngọt, từ năm 1997 hệ thống quan trắc môi
trường toàn cầu (GEMS) đã cùng với tổ chức y tế thế giới (WHO) và Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) tổ chức triển
khai mạng lưới quan trắc chất lượng nước toàn cầu.
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất cho sinh hoạt nhưng
ngày càng cạn kiệt do bị khai thác quá mức và ngày càng bị ô nhiễn bởi hoạt
động của con người. Do vậy, nhiều quốc gia như Hà Lan, Phần Lan, Anh đã

phủ quan tâm và đươc đưa vào các chương trình mục tiêu của quốc gia trong
từng giai đoạn phát triển. Để giải quyết kịp thời và thoả mãn nhu cầu về nước
sạch cho người dân đã có nhiều tổ chức, cơ quan và các nhà khoa học tham
gia nghiên cứu nhằm bảo vệ nguồn nước sạch và xử lý nước bị ô nhiễm.

3


Trong những năm gần đây, chương trình cấp nước và vệ sinh môi trường
nông thôn do UNIECF tài trợ đã góp phần cải thiện tình hình nước sạch và vệ
sinh cho nông thôn. Hằng năm, nhà nước đã đầu tư nguồn kinh phí lớn và
tranh thủ sử dụng có hiệu quả ngồn vốn của các nhà tài trợ cho việc xã hội
hoá, phát triển thị truờng nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn,
cũng như các công trình nghiên cứu, triển khai các kỹ thuật đánh giá chất
lượng nước cùng các công nghệ xử lý thích hợp và khả thi.
Năm 1996, Phạm Song đã xây dựng phương pháp loại bỏ sắt và mangan
trong nước giếng. Sắt trong nước giếng được khử bằng phương pháp sục khí
rồi lọc với vật liệu là cát, ngoài ra có thể tách sắt ra khỏi nước bằng cách keo
tụ (nhôm sunfat, sắt clorua hoặc hỗn hợp hai chất này). Các chất này hấp thụ
mạnh ion sắt và tất cả cùng kết tủa lắng xuống. Còn Mangan được loại bỏ
khỏi nước bằng phương pháp oxy hoá hay dùng các chủng vi khuẩn như
Metallogenium personatun; Cauloceus manganifer...để trộn vào vật liệu lọc
nhằm tách mangan (II) ra khỏi nước.
Năm 1997, Phan Văn Tinh và Lưu Minh Đại đã giới thiệu một số kết quả
nghiên cứu khả năng kết tủa để loại bỏ các ion Thori (II) và Chì (II) bằng axit
Humic tách ra từ than bùn. Kết quả này làm tiền đề định hướng cho việc phát
triển công nghệ xử lý nước bị nhiễm kim loại nặng độc hại bằng vật liệu là
than bùn có phổ biến ở nước ta.
Năm 2000, Phan Đỗ Hùng và cộng sự đã nghiên cứu và đề nghị phương
pháp xử lý nước sinh hoạt từ nước mặt chất lượng thấp bằng màng vi lọc

vực rất đông dân cư với mật độ cao và có liên quan đến ô nhiễm nước. Các
tác giả đã xác định năm vấn đề môi trường nước ở khu vực này là sự xâm
nhập mặn khu vực ven biển, ảnh hưởng của đất phèn, nguồn nước ô nhiễm từ
hoạt động của con người, tình trạng thiếu nước ngọt trong mùa khô và nước
đục trong mùa mưa. Từ đó đã đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên nước
trong khu vực bằng cách theo dõi và kiểm soát cho cả số lượng và chất lựơng
tương ứng với kinh tế môi trường và phát triển bền vững.

5


Năm 2008, Thịnh Thị Hương và cộng sự đã đánh giá chất lựơng nước sông
Tiền, sông Hậu ở một số vùng dân cư của tỉnh Đồng Tháp,Vĩnh Long và Cần
Thơ trong năm 2006. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhu cầu oxy hoá học lúc
triều thấp vượt quá giới hạn cho phép từ 1,1 - 6 lần. Nhu cầu oxy sinh hoá sau 5
ngày (BOD5) vượt mức cho phép từ 1,5 - 10 lần. Mật độ coliform của nhánh
sông Hậu ở huyện Thốt Nốt, Cờ Đỏ và quận Bình Thuỷ vượt mức cho phép từ
4,6 – 92 lần (theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995, loại A). Nước sông
Tiền, sông Hậu tại các điểm lấy mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Các kết qủa
này sẽ giúp cho các cấp chính quyền, cơ quan y tế xây dựng chương trình cải
thiện chất lượng nước và ngăn ngừa các bệnh truyền qua nước.
Năm 2008, Đặng Ngọc Chánh và cộng sự qua quá trình khoả sát chất
lựong nước sinh hoạt nông thôn và xác định các yếu tố ô nhiễm ảnh hưởng
đến nguồn nước sử dụng tại hộ gia đình ở hai tỉnh Long An và Hậu Giang, kết
qủa cho thấy: Tại Long An tỉ lệ sử dụng nước cấp theo đường ống là 27,2%,
các hộ gia đình vẫn còn đang thích sử dụng nước mưa (26,3%). Tại tỉnh Hậu
Giang có 38% các hộ gia đình thích sử dụng nước bề mặt, tỉ lệ sử dụng nước
giếng khoan là 21,6%. Nhìn chung mẫu nước đạt tiêu chuẩn tại Long An
(44,9%) cao hơn so với Hậu Giang (23,9%), các yếu tố ô nhiễm ảnh hưởng tới
chất luợng nước giếng ở mức trung bình, không có rào chắn gia súc (78%);

xe bồn. Chất lượng nước chưa đảm bảo và chưa đáp ứng được nhu cầu. Tỉ lệ
hộ dân sử dụng nguồn nước đạt tiêu chuẩn khoảng 25-30%.
Năm 2012, Nguyễn Đức Hạnh đã công bố kết qủa khảo sát điều tra chất
lượng nước mặt tỉnh Khánh Hoà trong năm 2011, cho thấy các nguồn nước
hồ, đập trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà chưa bị ô nhiễm nhiều, đạt tiêu chuẩn
chất lượng về mặt hoá lý và có thể sử dụng để phục vụ mục đích tưới trong
nông nghiệp, cần lưu ý về hàm lượng sắt (Fe) và oxy hoà tan trong nước và
cần có các giải pháp thích hợp.
Năm 2012, Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân đã đánh giá thực
trạng các mô hình quản lý khai thác dịch vụ nước sạch nông thôn ở Việt Nam
và chỉ ra những hạn chế trong các mô hình đó là do: Cơ chế, chính sách quản

7


lý cấp nước chưa phù hợp, hoạt động của các doanh nghiệp cấp nước còn
mang tính bao cấp trong đầu tư và quản lý, chưa tự chủ về tài chính. Để phát
huy những thế mạnh và khắc phục những hạn chế từ các mô hình đó, các tác
giả đề xuất một mô hình quản lý, khai thác dịch vụ cấp nước sinh hoạt nông
thôn có sự quản lý kết hợp của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.
Năm 2012, Võ Văn Phú đã khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp
bảo vệ tài nguyên nước ngọt trên đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị phục vụ cho mục
đích sinh hoạt. Kết qủa cho thấy chất lượng nước tại đây đều đạt tiêu chuẩn,
chất lượng nước tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo QCVN02/2009/BYT
của Bộ Y Tế, có thể sử dụng tốt cho sinh hoạt hàng ngày.
Năm 2013, Nguyễn Thị Huyền Trang và Đào Vĩnh Lộc đã nghiên cứu
xây dựng mô hình khử sắt trong nước giếng khoan quy mô hộ gia đình. Trong
đề tài này, phương pháp làm thoáng kết hợp với cột lọc cát dùng để khử sắt
cho hiệu suất xử lý sắt tổng số đạt 84,51% và hàm lượng sắt tổng số sau khi
xử lý 0,48mg/l thấp hơn quy định của QCVN 02/2009 BYT của Bộ Y tế. Mô

trong cơ thể. như suy giảm chức năng thận. Những người thường xuyên uống
không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, đau
đầu, có thể xuất hiện táo bón, hình thành sỏi ở thận và túi mật. Khi cơ thể mất
trên 10% lượng nước có khả năng gây trụy tim mạch, hạ huyết áp, nhịp tim
tăng cao. Nguy hiểm hơn, bạn có thể tử vong nếu lượng nước mất trên 20%.
Bên cạnh oxy, nước đóng vai trò quan trọng thứ hai để duy trì sự sống.
1.2.2. Vai trò của nước đối với sinh vật
− Nước chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90% khối
lượng cơ thể sinh vật là nước, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới
98% như ở một số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức).
− Nước là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốc phân
cực (ưa nước) như hydroxyl, amin, cacboxyl.

9


− Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu
cơ. Nước là môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất vô
cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật.
− Nước bảo đảm cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định. Do
nước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật, duy trì độ trương của tế bào
cho nên làm cho thực vật có một hình dáng nhất định.
− Nước nối liền cây với đất và khí quyển góp phần tích cực trong việc bảo
đảm mối liên hệ khăng khít sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường. Trong
quá trình trao đổi giữa cây và môi trường đất có sự tham gia tích cực của ion
H+ và OH- do nước phân ly ra.
− Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
− Nước còn là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật.
− Cuối cùng nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các
sinh vật, nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.

gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm
được nơi ở mới tốt đẹp hơn. Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô
tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng.
Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và
càng ngày càng phát triển như vũ bão. Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra
đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng
này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Ðô thị trở thành những nơi tập trung
dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước
càng ngày càng trở nên nan giải.
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh
hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị
lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn. Theo sự
ước tính đó thì đến năm 2000, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng
gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới.

11


Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh
hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử
lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Nghiên
cứu của FAO cho biết, đã có 50 nước trên thế giới sử dụng nước thải qua xử
lý để phục vụ sản xuất nông nghiệp, vì nó vừa giải quyết được nạn ô nhiễm ở
các đô thị, vừa giúp nông dân tránh được chi phí khai thác nước ngầm, còn
nguồn chất hữu cơ có trong nước thải có thể giúp giảm chi phí về phân bón,
điển hình là ở Tây Ban Nha và Mê-hi-cô. Tổ chức FAO cảnh báo, trong 15
năm tới sẽ có gần hai tỷ người phải sống trong tình trạng bị thiếu nước. FAO
đã kêu gọi cộng đồng quốc tế sử dụng an toàn nguồn nước thải của các đô thị

đó, trẻ em là người phải trả giá cao nhất khi không được sử dụng nước sạch.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dưới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất
(căn bệnh này gây tử vong cho 4500 trẻ em mỗi ngày).
1.3.2. Quản lý và sử dụng nước sinh hoạt ở Việt Nam
Thực tế đã tồn tại ba loại hình quản lý việc cấp nước sinh hoạt ở nông thôn:
- Loại hình do doanh nghiệp Nhà nước quản lý.
- Loại hình do doanh nghiệp tư nhân bỏ vốn xây dựng, quản lý, vận hành.
- Loại hình do hợp tác xã vận hành, quản lý.
Hiện nay, phần lớn cư dân nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước
sạch, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải
ñược cải thiện và có thể cải thiện được. Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho
thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với sự giúp đỡ của
Chính phủ, họ có thể vươn lên, khắc phục khó khăn, cải thiện môi trường sống
cho mình tốt hơn. Để khắc phục những hạn chế trên, trong công tác quản lý
nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam đã và đang có các hoạt động thiết thực sau:
Tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn và vận động nhân dân tham gia
hưởng ứng phong trào NS & VSMTNT, cấp phát hàng vạn tờ rơi, tranh ảnh,
tài liệu tuyên truyền sự tham gia của cộng đồng vào Chương trình đã có nhiều
tiến bộ, vai trò của người sử dụng và của phụ nữ tham gia vào quá trình quyết
định về đầu tư và quản lý được tăng cường hơn nhiều, từ việc đề xuất nhu

13


cầu, lựa chọn quy mô, loại hình công trình, hình thức tham gia vốn đầu tư,
giới thiệu người thay mặt cộng đồng để quản lý đầu tư và vận hành công trình
như: Mô hình hội phụ nữ cho hội viên vay vốn quay vòng để xây dựng nhà vệ
sinh ở Bạc Liêu, Cần Thơ, Hải Phòng; Mô hình đội thu dọn vệ sinh nông thôn
xóm ở Hưng Yên, Nam Định, Trà Vinh; Mô hình xây dựng hầm biogas trên
diện rộng ở Đan Phượng (Hà Tây), Xuân Trường (Nam Định). Đối với các

nước tự chảy, cấp nước bơm dẫn, cấp nước bằng bơm thuỷ luân, cấp nước
bằng vải địa kỹ thuật...). Các địa phương đã lựa chọn và áp dụng các loại hình
thích hợp để nâng cao số dân được sử dụng nước ở một số vùng nông thôn rất
khó khăn về nước (như Lục Khu của tỉnh Cao Bằng, vùng núi đá của tỉnh Hà
Giang, các vùng nhiễm mặn ở ven biển, vùng ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu
Long...). Đã hình thành được nhiều mô hình về tổ chức quản lý vận hành các
công trình cấp nước. Hiện nay, ở các tỉnh có các loại hình tổ chức quản lý sau:
Tổ dịch vụ nước sạch của HTX nông nghiệp, UBND xã, HTX dịch vụ nước
sạch, tư nhân, tổ hợp tác (Đắk Lắk), cộng đồng dân cư cấp thôn (các tỉnh
miền Núi phía Bắc như Hà Giang, Bắc Cạn và tỉnh Ninh Thuận), Trung tâm
NS&VSMTNT tỉnh được giao quản lý và áp dụng nhiều mô hình mới trong
quản lý khai thác công trình như: Trung tâm là chủ đầu tư, thực hiện nhiệm vụ
quản lý toàn bộ ngay từ sau khi hoàn thành công trình (Bà Rịa - Vũng Tàu,
Vĩnh Long); Trung tâm là chủ đầu tư, thực hiện nhiệm vụ quản lý trên địa
phận một số huyện (Bình Thuận, Ninh Thuận). Các mô hình này đã và đang
hoạt động có hiệu quả và đang tiếp cận dần đến mô hình bền vững.Từng bước
hoàn thiện được bộ máy quản lý thực hiện từ tỉnh đến xã. Các tỉnh đã thành
lập Ban chỉ đạo Chương trình và do Sở Nông nghiệp và PTNT làm thường
trực; đối với các huyện và các xã (có đủ điều kiện) được tỉnh phân cấp thực
hiện nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, giám sát, làm chủ đầu tư... tùy theo quy mô
công trình. Kiện toàn, đổi mới ban quản lý, tăng cường sự phối hợp với các
đoàn thể chính trị - xã hội và thu hút sự tham gia giám sát của người dân ở
cấp huyện, xã (riêng Hà Giang và Tuyên Quang chưa có Ban chỉ đạo cấp tỉnh,
hiện nay ban chỉ đạo do lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT đảm nhiệm).

15


Hình thành được đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện từ tỉnh đến huyện, xã tham
gia các hoạt động của Chương trình. Các tỉnh đã chủ động phối hợp với các

nước ngoài (ODA) và đóng góp của địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng vật chất và xã hội.
- Tạo điều kiện thuận lợi hơn để phát triển các hoạt động kinh doanh vật tư và
phát triển hàng hoá, khuyến khích sự liên kết giữa các doanh nghiệp Nhà
nước với những người buôn bán nhỏ và nông dân.
- Khuyến khích áp dụng trang thiết bị và công nghệ mới trong sản xuất và chế
biến ở nông thôn.
- Hỗ trợ các hộ gia đình hợp tác trong cơ chế mới, thực hiện cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và cho thuê đất một cách linh hoạt hơn.
Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT triển khai
nghiên cứu Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn trong thời kỳ công
nghiệp hoá - hiện đại hoá. Mục tiêu cơ bản là đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia với dân số lên tới 91 - 94 triệu người vào năm 2010, với cơ cấu và
chất lượng bữa ăn được cải thiện. Phát triển toàn diện sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp, nghề muối, công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ để
tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn. Phát triển y tế, giáo dục,
văn hóa, xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại với bản sắc dân tộc; đảm
bảo an toàn xã hội; thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn; xây dựng cơ sở hạ
tầng ở nông thôn. Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát
triển bền vững.
Tình hình nguồn nước:
Nói chung nguồn nước của Việt Nam hiện còn dồi dào. Lượng mưa khá
cao, một hệ thống sông ngòi kênh mương dày đặc, nước ngầm phong phú tại
những vùng đất thấp. Tuy nhiên nguồn nước phân bố không đồng đều theo cả
thời gian và không gian. Một số vùng rất khan hiếm nước. Các vấn đề tồn tại
chủ yếu là: Sử dụng ngày càng nhiều nước mặt để tưới ruộng; nạn phá rừng
ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước; nước ngầm chứa nhiều sắt; măng

17


18


Nam Bộ (84%) và thấp nhất là Đồng bằng Sông Cửu Long (46%). Tỷ lệ trạm
y tế có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 92%. Tỷ lệ trường học
có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 87%. Đã triển khai xây
dựng được 540 công trình cấp nước và vệ sinh trong trường học, 368 trạm y
tế, 721 công trình cấp nước tập trung, trong đó 217 công trình hoàn thành,
143 công trình chuyển tiếp, 86 công trình nâng cấp, sửa chữa, 154 công trình
khởi công mới, 121 công trình chuẩn bị đầu tư.
Tình hình xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt và vệ sinh nông thôn:
Một chương trình lớn về Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn của Chính
phủ được UNICEF tài trợ đã hoạt động từ hơn 10 năm nay ở hầu hết các tỉnh
là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực cấp nước sạch và
vệ sinh nông thôn. Hàng trăm ngàn giếng bơm tay UNICEF và các nhà vệ
sinh đã được xây dựng, đồng thời người dân đã tự đầu tư xây dựng số lượng
công trình cấp nước sạch và vệ sinh lớn hơn 2 - 3 lần số lượng công trình do
chương trình UNICEF tài trợ, đã cải thiện một cách đáng kể điều kiện cấp
nước sạch và vệ sinh cho các vùng nông thôn. Tuy nhiên, tổng đầu tư của cả
nhà nước và nhân dân cho cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn còn rất nhỏ bé
so với yêu cầu cải thiện điều kiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn ở nước ta.
Phương châm, nguyên tắc, cách tiếp cận chung và phạm vi thực hiện
* Phương châm:
- Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy
mạnh xã hội hoá trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng thời tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước trong các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh
nông thôn. Người sử dụng quyết định mô hình cung cấp nước sạch và vệ sinh
nông thôn phù hợp với khả năng cung cấp tài chính, tổ chức thực hiện và
quản lý công trình. Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và hỗ trợ, có chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status