Header Page 1 of 134.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-----K J----NGUYỄN HOÀNG LINH CHI
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, NHIỄM GIUN VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM
12-36 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN ĐAKRÔNG
TỈNH QUẢNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Khóa 2005-2011
Giáo viên hướng dẫn : TS LÊ THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI_2011
Footer Page 1 of 134.
Header Page 2 of 134.
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em vẫn phổ biến ở mức ý nghĩa
3
Hướng Hóa vào tháng 12/2009 cho thấy rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
ở đây rất cao: 41.9% (thể nhẹ cân), 44.1% (thể thấp còi) và 13,4% (thể gầy
còm) [23]. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi bị suy dinh dưỡng có nhiều nguyên
nhân, trong đó nhiễm giun đường ruột là một nguyên nhân cần được quan
tâm. Nhiễm giun gây nên chán ăn, hấp thu kém, tiêu hóa kém, viêm mạn tính
ống tiêu hóa, cạnh tranh sử dụng và làm tăng mất các chất dinh dưỡng:
protein, lipid, vitamin A... Lâu dài, giun làm suy dinh dưỡng-thiếu máu, chậm
phát triển thể chất và tinh thần [24], [37]. Các nghiên cứu về tình trạng dinh
dưỡng và nhiễm giun của trẻ em dân tộc thiểu số còn rất ít, là lý do chúng tôi
thực hiện nghiên cứu này với 2 mục tiêu sau:
(1) Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của trẻ em 12-36 tháng
tuổi tại vùng đồng bào dân tộc Pakoh và Vân Kiều của huyện
Đakrông tỉnh Quảng Trị.
(2) Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và nhiễm
giun của trẻ 12-36 tháng tuổi tại vùng đồng bào dân tộc Pakoh và Vân
Kiều của huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị.
Footer Page 3 of 134.
Header Page 4 of 134.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.
Trẻ tiền học đường (preschool child): 2 đến 5 tuổi
-
Trẻ em nhi đồng (child): 6 đến 12 tuổi
-
Trẻ vị thành niên (adolescent): 13 đến 18 tuổi
Header Page 5 of 134.
5
1.1.2. Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ dưới 3 tuổi:
Lứa tuổi này tốc độ lớn có giảm so với lứa tuổi trước 12 tháng nhưng
vẫn còn cao đồng thời các hoạt động đã bắt đầu tăng lên cùng theo với tuổi
tập đi, tập nói... do đó tiêu hao năng lượng so với cơ thể vẫn cao.
Trẻ từ 1-3 tuổi, cơ quan tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh, do vậy các
thức ăn cho trẻ cần phải dễ tiêu hóa, giàu các chất dinh dưỡng có giá trị cao
và đủ các nhóm thực phẩm trong ô dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu các chất
dinh dưỡng. Đảm bảo tốt vệ sinh thực phẩm và ăn uống để phòng tránh nhiễm
khuẩn và các bệnh đường ruột ở trẻ.
Do tiếp xúc rộng rãi với môi trường nên trẻ dễ bị lây các bệnh truyền
nhiễm (sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, viêm gan virus, sốt xuất huyết). Hệ
thống miễn dịch hoạt động tốt, các bệnh nhiễm trùng giảm, nhưng trẻ lại bị
các bệnh dị ứng như viêm cầu thận cấp, hen suyễn, nổi mề đay [30].
1.1.3. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 3 tuổi:
Nhu cầu năng lượng theo bảng khuyến nghị của Việt Nam cho trẻ từ 1-3
Tình hình SDD protein năng lượng của trẻ em
1.2.1. Tình hình SDD protein năng lượng trên Thế giới:
Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho thấy hơn 1/4 trẻ
em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển ở tình trạng SDD nhẹ cân, cuộc
sống đang bị đe doạ. Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn
đến một nửa số ca tử vong là trẻ em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm. Mặc
dù đã có tiến bộ ở một số quốc gia, nhưng trong 15 năm vừa qua các quốc gia
đang phát triển trung bình mới chỉ giảm được 1,5% trẻ em SDD nhẹ cân [20].
Thống kê tỷ lệ SDD qua các cuộc điều tra quốc gia từ 1980-1992 của 79
nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ SDD là 35,8%, tỷ lệ trẻ em còi cọc là
42,7% và tỷ lệ trẻ em gầy còm là 9,2 %. Châu Á có tỷ lệ SDD cao nhất so với
các châu lục khác: 42% trẻ em SDD, 47,1% trẻ em còi cọc và 10,8% trẻ gầy
còm. Châu Úc có 29,1% trẻ em SDD, 41,9% trẻ em còi cọc, 7,2% trẻ em gầy
còm. Châu Phi có 27,4% trẻ em SDD, 38,6% trẻ em còi cọc và 7,2% trẻ em
Footer Page 6 of 134.
Header Page 7 of 134.
7
gầy còm. Có ít nhất 2/3 số trẻ em châu Á và 1 nửa số trẻ em SDD trên thế giới
sống ở khu vực Nam Á [45].
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở Việt Nam tuy đã giảm nhiều, nhưng vẫn
còn ở mức cao so với trung bình các nước trong khu vực và các nước đang
phát triển có thu nhập đầu người tương tự.
Bảng 1.1. Suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam so với khu vực và Thế giới Năm 2000 [9]
19
16
6
Philippin
28
30
6
Indonesia
34
42
13
Lào
40
47
11
Header Page 8 of 134.
8
hướng giảm, nhưng vẫn còn khoảng 1/3 trẻ em cơ thể trong tình trạng kém
phát triển. Con số này đặt nước ta vào số 36 nước có tỷ lệ trẻ em bị suy dinh
dưỡng cao nhất thế giới, và đó là một vấn đề y tế công cộng rất lớn.
1.2.1 Tình hình SDD protein năng lượng trẻ em tại Việt Nam
Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em Việt Nam còn là một thách
thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Các
kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam từ năm 1999 đến năm
2010 cho thấy tình tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em trong cộng đồng đã giảm,
nhưng vẫn là một mức cao theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO [12]. Suy dinh
dưỡng trẻ em làm ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến sự phát triển của
kinh tế-xã hội, làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em lên 2,5-2,8 lần
so với trẻ bình thường.
Diễn biến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc (1999 – 2010)
Thể nhẹ cân
45
40
35
30
25
%
20
15
10
5
0
2004
33,9
32,6
31,9
29,6
25,2
23,4
21,2
19,9
2005
2006
2007
2008
31,9
18,9
2009
29,3
17,5
còn ý nghĩa và chương trình phòng chống SDD trẻ em cần tiếp tục được đẩy
mạnh.
45
43
41.8
40
40.9
40.2
38.6
44.8
41.7
36.3
35
30
%
25
19
20
tháng
37-48
tháng
49-60
tháng
Biểu đồ 1.2. Tỷ lệ (%) SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo nhóm tháng tuổi [8]
Footer Page 9 of 134.
Header Page 10 of 134.
10
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cũng khác nhau rất nhiều giữa các vùng
sinh thái. Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên vì đây là vùng nghèo, còn nhiều
khó khăn, mùa màng thường xuyên chịu tác động nặng nề bởi thiên tai, lũ lụt.
Thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, sông Cửu
Long.
Bảng 1.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của Việt Nam phân bố
theo vùng sinh thái - Năm 2009 [11]
Tỷ lệ %
Thể nhẹ cân Thể thấp còi
Thể gầy còm
7,0
Bắc Trung Bộ
22,9
34,3
6,9
Nam Trung Bộ
19,3
31,8
7,1
Tây Nguyên
28,5
39,2
7,3
Đông Nam Bộ
16,4
Thấp còi
Gày còm
Khu vực
1.3.
Thành thị
19,6
21,9
4,7
Nông thôn
29,3
34,1
7,5
Chung
25,2
29,6
• Cân nặng theo tuổi:
Là chỉ số được dùng sớm nhất và phổ biến nhất. Chỉ số này được dùng
để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng. Cân nặng theo
tuổi thấp là hậu quả của thiếu dinh dưỡng hiện tại. Chỉ số cân nặng theo tuổi
nhạy có thể quan sát trong 1 thời gian ngắn.
• Chiều cao theo tuổi:
Phản ánh tiền sử dinh dưỡng. Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình
trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ bị còi.
• Cân nặng theo chiều cao:
Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại. Chỉ số này phản ánh
tình trạng SDD cấp hay còn gọi “Wasting”. Cân nặng theo chiều cao thấp
phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều
cao, chính là phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng này.
1.3.3. Cách phân loại suy dinh dưỡng
1.3.3.1. Phân loại theo Gomez (1956)
Là phân loại được dùng sớm nhất, nó chỉ dựa trên chỉ só cân nặng theo
tuổi và sử dụng quần thể tham khảo
Tiêu chuẩn
Mức độ SDD
Từ 70%-90% của cân nặng chuẩn
SDD độ I
Từ 60%-75% của cân nặng chuẩn
SDD độ II
Marasmus +
Marasmus
Kwashiorkor
1.3.3.3. Phân loại theo Waterlow (1972)
Để khắc phục nhược điểm phân loại Wellcome là không phân biệt được
suy dinh dưỡng hiện tại hay quá khứ
Chiều cao theo tuổi Cân nặng theo chiều cao (80% hay -2SD)
(90%hay - 2SD)
Trên
Dưới
Trên
Bình thường
Thiếu DD gầy còm
Dưới
Thiếu DD thấp còi
Thiếu DD nặng kéo dài
Thiếu dinh dưỡng gầy còm là thiếu dinh dưỡng cấp tính. Thiếu dinh
dưỡng thấp còi là biểu hiện thiếu dinh dưỡng trường diễn và đã chịu thiếu
Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu
- SDD thể nhẹ cân: CN/T Z-score (WAZ) < - 2SD;
- SDD thể thấp còi: CC/T Z-score (HAZ) < - 2SD
- SDD thể gày còm: CN/CC Z-score (WHZ) < - 2SD.
WHO cũng đưa ra các mức phân loại sau đây để nhận định ý nghĩa sức
khỏe cộng đồng [48].
Bảng 1.4. Phân loại mức suy dinh dưỡng cộng đồng trẻ dưới 5 tuổi [48]
Mức độ suy dinh dưỡng theo tỷ lệ %
Chỉ tiêu
Thấp
T/bình
Cao
Rất cao
Thấp còi ( Stunting )
< 20
20-29
30-39
≥ 40
Nhẹ cân ( Underweight)
còm) trong khi tỷ lệ trẻ được cung cấp đầy đủ 4 nhóm thực phẩm vào ngày
hôm trước rất thấp (13,3%), có đến 45% và 60% bị tiêu chảy và nhiếm trùng
đường hô hấp trong 2 tuần qua [23].
Nghiên cứu của Vũ Phương Hà và cộng sự tại hai huyện Hướng Hóa và
Đakrông của tỉnh Quảng trị trong năm 2010 cho thấy: tỷ lệ SDD cao ở cả 3
chỉ số, trong đó SDD thể nhẹ cân là 42,1% (CN/T), thể thấp còi 48,2%
(CC/T) và thể gầy còm 13,9% (CN/CC). Trên 50% các bà mẹ cho rằng phải
cho con ăn bổ sung trước 6 tháng hoặc không biết nên bắt đầu cho ăn vào thời
điểm nào [15].
Tác giả Lương Thị Thu Hà tiến hành nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng
trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên năm
2008 nhận thấy tỷ lệ SDD ở thể nhẹ cân (35,4%), thể thấp còi (41,5%) và thể
gầy còm (8,4%), độ tuổi có tỷ lệ SDD cao ở nhóm tuổi 13 - 48 tháng tuổi. Ở
thể nhẹ cân, tỷ lệ SDD trẻ gái cao hơn trẻ trai, ở trẻ em người dân tộc thiểu số
cao hơn trẻ em người Kinh. Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố
nguy cơ đối với SDD thể nhẹ cân ở trẻ em như thời gian ăn bổ sung không
đúng, chất lượng thức ăn bổ sung không đảm bảo và tình trạng nhiễm khuẩn
đường tiêu hóa, hô hấp [16].
Footer Page 15 of 134.
Header Page 16 of 134.
1.4.
16
Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên Thế giới và ở Việt Nam
17
52%-80%, Malaysia 43-51%, Singapore tỷ lệ nhiễm thấp: 0,3%-6,1%; Lào
2%-31%, Campuchia 35-56% [8].
1.4.2. Tình hình nhiễm giun của trẻ em ở Việt Nam:
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Vì
vậy có đầy đủ các yếu tố về: khí hậu, thổ nhưỡng cho các bệnh giun truyền
qua đất phát triển. Mặt khác nền kinh tế chưa phát triển, văn hóa xã hội còn
nhiều phong tục tập quán như ăn rau sống, dùng phân tươi trong canh tác...
Tất cả các yếu tố trên đã tạo điều kiện cho mầm bệnh giun sán tồn tại và phát
triển, vì vậy tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở Việt Nam rất cao [2].
WHO đề nghị cộng đồng được xếp loại có tỷ lệ nhiễm giun cao khi 50%
số người thuộc cộng đồng có kết quả xét nghiệm dương tính. Những vùng có
tỷ lệ giun móc lưu hành là những vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc trên 20-30%
[42].
Ở Việt Nam, nhiễm giun là vấn đề sức khỏe cộng đồng. Trên toàn quốc
ước tính số người nhiễm giun đũa khoảng 60 triệu, giun tóc 40 triệu và giun
móc 40 triệu, tỷ lệ nhiễm nói chung từ 50-60% [2], [3]. Đặc biệt, tỷ lệ đa
nhiễm hai, ba loại giun rất cao, đạt 60-70% [2]. Riêng trẻ em, tỷ lệ nhiễm giun
từ 36,1-99,8%; trong đó, nhiễm giun Đũa 30,4-93,9%, giun Móc 6,4-70,2%,
giun Tóc 0,7-86,6 %. Cường độ nhiễm giun khá cao, 1 gam phân có 8,199
trứng giun Đũa, 264 giun Tóc [26].
Theo nghiên cứu của Đỗ Dương Thái và cộng sự, tỷ lệ nhiễm giun đũa ở
trẻ từ 2 - 5 tuổi là 42,8% - 66% [36]. Hoàng Thị Kim và cộng sự nghiên cứu ở
trẻ 1 - 4 tuổi vùng đồng bằng tỷ lệ nhiễm giun móc là 1,4% [27]; Trần Minh
Hậu và cộng sự cho thấy, trẻ em dưới 5 tuổi tại Thái Bình tỷ lệ nhiễm giun
đũa là 77,4%, giun tóc 30,1%, giun móc 1,07% [18] ; Đỗ Thị Đáng nghiên
cứu ở huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ 6
tháng đến 15 tuổi là 87% - 89%, giun tóc 78% - 80% và giun móc 20% [5].
được ăn uống tốt [31], [32].
Giun tóc (Trichuris trichiura) là loài giun nhỏ dài 3-5 mm có phần đầu
mảnh, nhỏ như sợi tóc (Trichusis trichiura) gây ra. Giun tóc ký sinh ở chủ
yếu vùng manh tràng và đại tràng. Giun tóc cắm sâu vào niêm mạc ruột để hút
máu [32]. Do giun tóc có phương thức ký sinh và cắm sâu phần đầu vào niêm
Footer Page 18 of 134.
Header Page 19 of 134.
19
mạc ruột vật chủ nên gây tổn thương tế bào, làm rối loạn chức năng ruột và
viêm ruột. Nhiễm giun tóc nặng, kéo dài có thể gây thiếu máu nhược sắc,
hồng cầu giảm [31].
1.4.3.2. Tác hại đối với sức khỏe và bệnh tật trẻ em của một số loại giun
Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa nhiễm kí sinh trùng và
tình trạng dinh dưỡng biểu hiện qua các chỉ số nhân trắc.
Tác hại của giun đũa thường liên quan đến số lượng giun tích lũy trong
cơ thể. Số lượng giun đũa càng nhiều thì lượng thức ăn bị chiếm đoạt của vật
chủ càng lớn. Các nghiên cứu đều cho thấy nhiễm giun Đũa số lượng lớn sẽ
ảnh hưởng đến sự tăng trưởng [2], [37]. Nhiễm giun số lượng nhẹ - vừa thì
không thấy triệu chứng gì rõ rệt, đôi khi thấy buồn nôn, ăn không tiêu, hay
đau bụng, đi ngoài phân nát. Ở trẻ em hay gặp các triệu chứng như: gầy còm,
bụng chướng, biếng ăn, co giật, ứa nước bọt, đó là những triệu chứng nhiễm
độc thần kinh do độc tố của giun gây ra. Biểu hiện suy dinh dưỡng ở trẻ em
nhiễm giun thường kéo dài, cân nặng và tốc độ phát triển thể lực của trẻ em
nhiều khi rất thấp [32], [37].
Giun móc không những gây ra tình trạng thiếu máu mà còn làm giảm
đũa chiếm 68,1% [43].
Nguyễn Võ Hinh và CS nghiên cứu trên 6882 mẫu phân trẻ từ 1 - 14 tuổi
tại Thừa Thiên Huế thấy tỷ lệ nhiễm ở trẻ 1 - 5 tuổi giun đũa là 81,8%, giun
tóc 20,9%, giun móc 13,64% [20].
Đỗ Dương Thái và CS nghiên cứu trên 1472 trẻ em dưới 3 tuổi tại Hà
Nội, trong nội thành thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 17,84%, giun tóc 3,22%
ngoại thành tỷ lệ nhiễm giun đũa là 46,49%, giun tóc 3,08% [36].
Hoàng Tân Dân và CS nghiên cứu tại trường mầm non nội thành Hà Nội
thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 8,8% - 10,2%, giun tóc 3,47% - 4,34%, không có
trẻ nào nhiễm giun móc, tỷ lệ nhiễm phối hợp thấp, cường độ nhiễm nhẹ,
không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa các lứa tuổi và giới của trẻ [4].
Năm 2003, Phạm Trung Kiên nghiên cứu ở trẻ dưới 60 tháng tuổi tại
Kim Bảng Hà Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung là 93,4%, trong đó trẻ em
ở xã Hoàng Tây có tỷ lệ nhiễm giun đũa là 85,3%, giun tóc 69,5% và trẻ ở xã
Văn Xá tỷ lệ nhiễm giun đũa là 79,5%, giun tóc 63,9% [25].
Footer Page 20 of 134.
Header Page 21 of 134.
21
Tác giả Châu Văn Hiền và CS tiến hành xét nghiệm phân 240 trẻ em từ
12 đến 36 tháng tuổi tại 5 xã của huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị tháng
2/2006, kết quả ghi nhận tình hình nhiễm giun đường ruột chung là 52,50%;
trong đó 35,00% nhiễm giun đũa, 20,10% nhiễm giun móc và không có
trường hợp nào nhiễm giun tóc; nhiễm phối hợp 2 loại giun (đũa+móc) là
2,91%. Trẻ em từ 12 đến 24 tháng tuổi nhiễm giun đường ruột là 47,54%, trẻ
em từ 25 đến 36 tháng tuổi nhiễm giun đường ruột là 57,36%, đồng thời kết
ăn hàng ngày thấp (trung bình 3 bữa/ngày). Ngay ở nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi
cũng chỉ có 17,5% được ăn 3 bữa/ ngày. Tần xuất xuất hiện các thực phẩm
như thịt, cá, trứng, sữa trong bữa ăn của trẻ thấp, thường do điều kiện kinh tế
gia đình hoặc do hiểu biết của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng trẻ em còn quá
hạn chế [34].
- Bệnh nhiễm trùng :
Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được
chứng minh. Bệnh nhiễm trùng dẫn đến SDD, SDD dẫn đến bệnh nhiễm trùng
và vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù
hợp.
Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em. Các tổn thương đường tiêu hóa làm tăng hao hụt các chất dinh
dưỡng, giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu
hoá. Và ngược lại, SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do sức đề kháng giảm. Do
đó, tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa và thường cao trong những mùa có
các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp,
sốt rét) [34]. Bên cạnh đó, các bệnh nhiễm trùng khác cũng ảnh hưởng nhiều
tới dinh dưỡng như nhiễm khuẩn đường hô hấp, sởi và các bệnh kí sinh trùng
đường ruột.
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra
SDD, thiếu máu ở trẻ em. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột với cường độ cao
và trong một thời gian dài có thể gây suy dinh dưỡng như thấp còi, nhẹ cân và
ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong [51].
Nguyên nhân sâu xa (tiềm tàng) của SDD do sự bất cập trong dịch vụ
chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc
Footer Page 22 of 134.
giun sán và bệnh đường tiêu hoá. Theo nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và
Footer Page 23 of 134.
Header Page 24 of 134.
24
Phát triển nông thôn, hố xí hai ngăn là loại hố xí phù hợp nhất với vùng nông
thôn đồng bằng Bắc Bộ. Hố xí dội thấm nước tuy cũng diệt được mầm bệnh
GTQĐ, nhưng có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước.
Giáo dục sức khoẻ có vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh giun
truyền qua đất. Giáo dục sức khoẻ nhằm tăng cường lối sống vệ sinh, lành
mạnh, nâng cao kiến thức vệ sinh phòng bệnh của người dân. Mascie - Taylor
(1999) thấy giáo dục sức khoẻ (cải thiện vệ sinh cá nhân, đi dép, rửa tay, dùng
hố xí sạch) là biện pháp phòng bệnh GTQĐ hiệu quả và ít tốn kém nhất [55].
Nghiên cứu của Lê Nguyễn Bảo Khanh và CS (1998) cho thấy thực hiện tăng
cường giáo dục kiến thức phòng bệnh giun sán cho học sinh tiểu học đã làm
giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất [56]. Tuy nhiên, để giáo dục sức
khoẻ đạt hiệu quả, đòi hỏi phải có sự lồng ghép và liên kết nhiều chương trình
y tế với sự tham gia của cộng đồng, trường học, các đoàn thể xã hội và các
chuyên gia truyền thông. Chỉ có các biện pháp vệ sinh môi trường mới đảm
bảo tính an toàn và hiệu quả lâu dài của chương trình phòng chống GTQĐ.
Footer Page 24 of 134.
Header Page 25 of 134.
Bà mẹ: là mẹ của các trẻ được lựa chọn, không bị tâm thần, không bị rối loạn
trí nhớ và hợp tác.
Footer Page 25 of 134.