Pháp luật về vốn điều lệ trong công ty cổ phần ở việt nam - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI CHÂU

PH¸P LUËT VÒ VèN §IÒU LÖ
TRONG C¤NG TY Cæ PHÇN ë VIÖT
NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI CHÂU

PH¸P LUËT VÒ VèN §IÒU LÖ
TRONG C¤NG TY Cæ PHÇN ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THỊ GIANG THU

HÀ NỘI - 2015



1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần ................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần .............................................................. 7
1.2.

Khái lược về vốn trong công ty cổ phần ........................................... 8

1.2.1. Tổng quan khái niệm về vốn................................................................. 8
1.2.2. Vốn điều lệ trong công ty cổ phần ........................................................ 9
1.3.

Những vấn đề chung về pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của
công ty cổ phần .................................................................................. 11

1.3.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của công ty
cổ phần ................................................................................................ 11
1.3.2. Các bộ phận cấu thành của pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của
công ty cổ phần ................................................................................... 13
1.3.3. Những yêu cầu cơ bản cần phải có đối với pháp luật điều chỉnh
vốn điều lệ của công ty cổ phần.......................................................... 15
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 19


Chương 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỐN ĐIỀU LỆ CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 ................. 20
2.1.

Quy định chung về vốn điều lệ trong công ty cổ phần .................. 20

2.1.1. Vốn điều lệ trong công ty cổ phần ...................................................... 20
2.1.2. Đối tượng góp vốn .............................................................................. 32

3.1.1. Gia tăng thường xuyên các ngành, nghề phải có vốn pháp định
trong khi có một số ngành nghề không cần thiết ................................ 54
3.1.2. Mức vốn pháp định không có tính ổn định ......................................... 56
3.1.3. Vấn đề giám sát, quản lý doanh nghiệp trong việc duy trì mức
vốn pháp định chưa được quy định cụ thể .......................................... 57
3.1.4. Một số kiến nghị.................................................................................. 58
3.2.

Vấn đề về cơ chế giám sát tiến độ góp vốn và chế tài xử lý........... 59


3.2.1. Việc xác định số vốn thực tế của doanh nghiệp khi đăng ký là bao
nhiêu còn bỏ ngỏ, cơ chế giám sát tiến độ góp vốn chưa chặt chẽ....... 60
3.2.2. Chế tài xử lý các vi phạm còn quá yếu ............................................... 63
3.2.3. Một số kiến nghị.................................................................................. 64
3.3.

Cần có chế tài cụ thể trong việc việc định giá tài sản góp vốn...... 65

3.3.1. Một số điểm hạn chế từ quy định của pháp luật về định giá tài sản ........ 66
3.3.2. Một số kiến nghị.................................................................................. 67
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 71
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 77


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTCP:



TTCK:

Thị trường chứng khoán


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một đất nước có nền kinh tế đang phát triển. Công cuộc
đổi mới được khởi xướng kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay
đã được gần 30 năm cũng đạt được những kết quả đáng khích lệ. Kinh tế Việt
Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi dần từ nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là kể từ khi gia
nhập WTO kèm theo các cam kết đã ký, nền kinh tế của Việt Nam ngày càng
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, pháp luật, với tư cách là
một thành tố của kiến trúc thượng tầng phải làm thế nào để có thể
thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh nhưng bền vững?
Luật doanh nghiệp 1999 và 2005 là hai thành tựu pháp luật có thể đánh
giá là khá hoàn thiện của hệ thống pháp luật nước ta, tuy khó tránh khỏi thiếu
sót nhưng đã thực hiện được chức năng điều chỉnh và quản lý cho các chủ thể
kinh doanh kinh doanh làm giàu cho nền kinh tế. Cùng với sự phát triển và
hội nhập, diễn biến khó lường của tình hình chính trị, xã hội trên thế giới cũng có
nhiều tác động đến nền kinh tế, qua 8 năm thực hiện, LDN 2005 cũng được thay
thế bằng LDN 2014 với hy vọng mang đến một hệ thống quy phạm hoàn thiện
hơn, hợp lý hơn, vừa làm cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp cảm thấy
được sự an tâm khi tham gia thị trường, vừa là một công cụ để nhà nước có thể
quản lý một cách hiệu quả.
Trong các loại hình công ty, mô hình CTCP với những ưu điểm được
cho là rất lớn là một loại hình chiếm số lượng rất lớn trong tổng số các doanh

phần trên thế giới cũng như hoàn cảnh kinh tế, xã hội, truyền thống kinh
doanh và tâm lý dân tộc của mỗi nước.
Thứ ba, kiến nghị một vài vấn đề cho việc tiếp tục hoàn thiện các quy
định pháp luật liên quan đến việc quy định về vấn đề vốn điều lệ trong mô
hình CTCP ở Việt Nam.

3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là các quy phạm pháp luật quy định về vốn
trong CTCP theo LDN 2005 và LDN 2014, đồng thời là một số đạo luật về
công ty của nước ngoài như: Luật công ty Nhật Bản 2006, Luật công ty Trung
Quốc 2005 và một số nước khác…. Ngoài ra còn có các văn bản hướng dẫn thi
hành, đồng thời còn nghiên cứu những công trình khoa học có trước đó về các
vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn luận văn thạc sỹ cũng như mục tiêu đề ra từ trước, luận
văn này không có tham vọng nghiên cứu quá chi tiết, quá nhiều các vấn đề mà
tập trung vào một số vấn đề lớn, chính yếu chủ yếu là quy định về vốn điều lệ, số
vốn tối thiểu cần có trong việc kinh doanh một số ngành nghề, việc giám sát
tiến độ góp vốn cũng như trách nhiệm của cổ đông trong việc đảm bảo tiến độ
góp vốn… trong CTCP nhằm qua đó có một cái nhìn tổng quan về vấn đề nêu trên
trong mô hình CTCP theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng
thời có so sánh đối chiếu với những quy định của một số đạo luật về công ty
của nước ngoài, từ đó rút ra một số kinh nghiệm, kiến nghị lập pháp để tiếp
tục nghiên cứu và hoàn hiện pháp luật về lĩnh vực trên trong công ty cổ phần ở
Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị dưới góc nhìn phân tích những
điểm mới quy định về vốn điều lệ trong công ty cổ phần
của Luật doanh nghiệp 2014.

5


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ VỐN ĐIỀU LỆ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
VÀ PHÁP LUẬT VỀ VỐN ĐIỀU LỆ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Những vấn đề chung về công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần
Công ty cổ phần (CTCP) ra đời vào khoảng thế kỷ XVII cùng với sự
phát triển mở đầu nền đại công nghiệp cơ khí của các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển. CTCP phát triển mạnh mẽ nhất trong thế kỷ XIX, khi nền
kinh tế tư bản phát triển như vũ bão và nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đòi hỏi
phải có nhiều vốn đầu tư mới có thể hoạt động có hiệu quả.
Ở Việt Nam cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, CTCP đã
từng bước hình thành và phát triển, được ghi nhận trong LCT 1990, LDN 1999,
LDN 2005 và LDN 2014.
Điều 110, Luật doanh nghiệp 2014 quy định về CTCP:
1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối
thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình

Thông qua các đặc điểm trên của CTCP có thể nói những vấn đề về vốn
có liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành, phát triển, hoạt động cũng như
quản trị CTCP, là một vấn đề quan trọng, không thể tách rời, cần phải được
nghiên cứu rõ ràng và cụ thể.

7


1.2. Khái lược về vốn trong công ty cổ phần
1.2.1. Tổng quan khái niệm về vốn
Vốn có vai trò cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào trên thế
giới khi ra thương trường. Để tiến hành hoạt động kinh doanh bất kỳ một chủ
thể kinh doanh nào cũng cần có vốn. Hoạt động kinh doanh nhìn từ góc độ tài
chính là quá trình tạo lập và sử dụng vốn. Một doanh nghiệp muốn bắt đầu tạo
lập hoặc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần sử dụng vốn. Để thực
hiện các hoạt động kinh doanh, vốn là nhân tố cơ bản, là điều kiện vật chất
không thể thiếu đối với một chủ thể kinh doanh. Vốn là điều kiện quyết định sự
sống còn của doanh nghiệp.
Hiện nay, vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều cách hiểu
khác nhau, sau đây là một số quan điểm:
Theo nghĩa rộng thì: vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí
để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến
thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ
quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công
nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp. Quan điểm này có ý
nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế
thị trường. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức
tạp nhất là khi nước ta trình độ quản lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa
hoàn chỉnh.
Theo nghĩa hẹp thì: vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi

vấn đề nền móng có vững chắc hay không. Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng để
có thể hiện thực hóa mong muốn xây nhà của các nhà đầu tư. CTCP là loại hình
công ty đối vốn chính vì vậy vấn đề về vốn lại càng trở nên phức tạp.
1.2.2. Vốn điều lệ trong công ty cổ phần
1.2.2.1. Khái niệm vốn điều lệ
Sự hình thành và phát triển của CTCP cũng gắn liền với sự hình thành
của thị trường vốn và thị trường tiền tệ. "Công ty cổ phần là một loại hình
9


kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất
cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm
cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển" [5, tr.18]. Cũng như các chủ thể
kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh CTCP cũng cần có
vốn, đó là điều bắt buộc. Vốn của CTCP là một vấn đề phức tạp, không chỉ
liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị
thế, năng lực cạnh tranh của CTCP trên thị trường cũng như hàng loạt các vấn
đề khác. Vốn điều lệ là số vốn do các cổ đông góp cam kết góp trong một thời
hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty.
Cụ thể, Vốn điều lệ trong CTCP là tổng mệnh giá số cổ phần đã bán các
loại. Tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, vốn điều lệ là tổng giá trị mệnh giá cổ
phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.
1.2.2.2. Đặc điểm của vốn điều lệ trong công ty cổ phần
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá
trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu.
Mỗi cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp
vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua
nhiều cổ phần. Căn cứ vào phạm vi số vốn góp (tỷ lệ phần trăm cổ phần trong
vốn điều lệ) công ty có thể xác định trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản khác. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau là một đặc điểm

nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty.
- Tỷ lệ góp và số vốn do các nhà đầu tư tự quyết định lấy tùy theo năng lực
thực tế cũng như quy mô ngành nghề kinh doanh của công ty.
1.3. Những vấn đề chung về pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của
công ty cổ phần
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của công
ty cổ phần
1.3.1.1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của công ty cổ phần
Việc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp là một quá trình phức tạp,

11


có thể nảy sinh nhiều quan hệ xã hội khác nhau đối với các chủ thể khác nhau
chính vì vậy cần có pháp luật để điều chỉnh. Sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp với tính chất là các thực thể kinh tế - xã hội là cơ sở thực tiễn cho sự ra
đời và phát triển của pháp luật về doanh nghiệp, trong hệ thống các văn bản
pháp luật về doanh nghiệp thì hệ thống pháp luật điều chỉnh về vốn là một
phần là một bộ phận không thể thiếu.
Xét về mặt khách quan, tất cả những quy phạm pháp luật liên quan đến
vốn điều lệ của CTCP đã hình thành chế độ pháp lý về vốn điều lệ trong
CTCP. Do đó khái quát khái niệm về pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ trong
CTCP như sau:
Pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ trong CTCP là hệ thống các quy phạm
pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình góp vốn điều lệ, quản lý sử dụng vốn điều lệ,
chuyển nhượng vốn điều lệ và những vấn đề khác liên quan đến sự thay đổi
của vốn điều lệ trong CTCP.
1.3.1.2. Đặc điểm pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của công ty cổ phần
Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể thấy quy chế pháp lý về vốn

được thể hiện chủ yếu và cụ thể trong điều lệ công ty, bao gồm những nội
dung cơ bản như: cấu trúc vốn, chủ thể góp vốn, huy động vốn, vấn đề chuyển
nhượng cổ phần, các trường hợp tăng, giảm vốn của công ty… Hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp bao giờ cũng phải dùng đến vốn, quyền và nghĩa
vụ của các cổ đông cũng thể hiện qua tỷ lệ phần vốn góp của họ trong công ty,
do vậy, các vấn đề liên quan đến vốn cũng cần phải được các cổ đông biết, thống
nhất và thông qua, thể hiện ở điều lệ công ty.
1.3.2. Các bộ phận cấu thành của pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ
của công ty cổ phần
Pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của CTCP là một hệ thống được cấu
thành từ hệ thống các văn bản pháp luật thuộc nhiều cấp độ hiệu lực khác nhau,

13


có mối quan hệ, liên quan chặt chẽ với nhau theo một nguyên tắc pháp lý
chung, đó là chứa đựng các quy phạm pháp luật thuộc nhiều cấp độ hiệu lực
khác nhau điều chỉnh tất cả nội dung có liên quan đến vốn điều lệ của CTCP.
Các bộ phận cấu thành của pháp luật điều chỉnh vốn điều lệ của CTCP
bao gồm:
- Các quy định chung về vốn điều lệ trong CTCP;
- Các quy định về các loại cổ phần: tên gọi, đặc điểm của các loại cổ phần;
- Các quy định về vốn pháp định;
- Các quy định về tăng, giảm vốn điều lệ: trường hợp nào được phép
tăng, giảm vốn của CTCP; trình tự, thủ tục phải áp dụng để tăng, giảm vốn
điều lệ trong CTCP;
- Các quy định về việc xử phạt các vi phạm liên quan đến vốn điều lệ;
Hệ thống pháp luật điều chỉnh về vốn của CTCP được hình thành
cùng với quá trình hình thành hệ thống pháp luật để điều chỉnh các loại hình
doanh nghiệp, xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh các vấn đề phát sinh liên quan

không tồn tại biệt lập mà luôn có mối quan hệ với nhau, do vậy, khi đã tạo
thành một hệ thống pháp luật thì nội dung của các văn bản quy phạm pháp
luật tạo nên hệ thống đó cần phải có sự đồng bộ và thống nhất với nhau. Một hệ
thống pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn sẽ gây ra rất nhiều khó khăn vướng mắc
trong quá trình triển khai thực hiện do vậy rất khó để đi vào cuộc sống. Việc
minh bạch rõ ràng trong văn bản cũng rất quan trọng. Các quy định hệ thống
pháp luật pháp luật phải đảm bảo tính rõ ràng, rành mạch, dễ hiểu, đồng thời phải
được công khai cho để cộng đồng doanh nghiệp cùng biết và nắm bắt được
các quyền và nghĩa vụ của mình qua đó có cơ sở để tuân thủ nghiêm túc và thực
hiện theo các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, trong
thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng hiện nay, cần phải tạo được một môi trường
kinh doanh bình đẳng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và bình đẳng giữa
các nhà đầu tư trong và ngoài nước và hệ thống pháp luật

15


chính là nơi thể hiện sự bình đẳng đó. Phải có pháp luật bình đẳng thì mới thu
hút được vốn của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước qua đó thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, cạnh tranh lành mạnh, có trật tự, kỷ cương, không phân biệt
đối xử giữa các ngành, nghề kinh doanh nhằm khuyến khích các doanh
nghiệp tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, kinh doanh.
Hai là, hệ thống pháp luật về vốn phải tạo ra cơ sở pháp lý phù hợp,
khả thi và có tính dự báo.
Đây là một yêu cầu vô cùng quan trọng và là yếu tố tiên quyết quyết
định sự thành công của hệ thống pháp luật quy định về một vấn đề nào đó, ở
đây là vốn điều lệ của CTCP. Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng hiện
thực khách quan, không thấp hơn và cũng không cao hơn trình độ phát triển
kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, tức là những quy định này phải phù hợp
với sự phát triển của CTCP hiện nay, đồng thời phù hợp với ý chí, nguyện

cũng được quan tâm đầu tư ngay từ đầu để đảm bảo có khả năng giải quyết
được các vấn đề phát sinh, đồng thời tiên liệu
được những v ấn đề sẽ phát sinh trong tương lai. Điều đó đã tăng "tuổi thọ"
của văn quy phạm pháp luật nên làm cho hệ thống pháp luật điều chỉnh về
vốn trong CTCP có tính ổn định và phù hợp, đồng thời mang tính khả thi
cũng như tính dự báo cao để các doanh nghiệp thực hiện, đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp đồng thời cũng quy định cụ thể những việc
các doanh nghiệp không được làm và nghĩa vụ, trách nhiệm mà các doanh
nghiệp phải tuân thủ.
Ba là, hệ thống pháp luật cần có quy định ngăn ngừa, phòng chống rủi ro
và quy định các hình thức biện pháp xử phạt.
Yêu cầu này xuất phát từ nhu cầu quản lý của nhà nước, cần phải có
quy định ngăn ngừa hạn chế những vi phạm từ đầu qua đó làm cho các nhà
đầu tư chùn bước khi có ý định gian dối trong quá trình tạo lập và sử dụng
vốn cũng như làm cho nhà nước có cơ sở để xử phạt nếu vi phạm xảy ra. Hiện

17


nay, các quy định về ngăn ngừa, phòng chống rủi ro cũng như các biện pháp
xử phạt đã được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Về cơ bản, hầu hết các nước đều có pháp luật về doanh nghiệp, thành
lập doanh nghiệp trong đó có pháp luật về vốn và vốn điều lệ trong CTCP.
Tuy nhiên, do có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, về văn hóa pháp lý,
về ngôn ngữ… nên yêu cầu cơ bản cần phải có đối với pháp luật điều chỉnh vốn điều
lệ cũng khác nhau và có những điểm khác biệt nhất định, như: có nước có tính
ổn định cao - có nước thường xuyên thay đổi; có nước quy định chung ở một
luật - có nước lại quy định riêng ở nhiều luật tương ứng với mỗi loại hình doanh
nghiệp; có nước quy định về thành lập doanh nghiệp ở luật - có nước lại quy
định cả những văn bản dưới luật; đặc biệt là ở một số nước liên bang, pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status