Dạy học Xác suất - Thống kê theo hướng tăng cường vận dụng Toán học vào thực tiễn cho sinh viên khối Kinh tế, Kỹ thuật - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Mục tiêu giáo dục đại học
Xu hướng đổi mới giáo dục đại học hiện nay với mục tiêu là hướng vào phát
triển năng lực người học trong đó có năng lực vận dụng vào TT.
1.2. Vai trò của Xác suất - Thống kê trong thực tiễn
Xác suất - Thống kê (XSTK) là một ngành khoa học Toán học (TH) hiện đại. Nó
xuất phát từ các hiện tượng trong đời sống thực tiễn (TT), hình thành và phát triển rất
nhanh nhằm phục vụ các nhu cầu của TT.
1.3. Thực trạng việc dạy học XSTK ở trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật:
Việc dạy TT ở các trường Đại học khối Kinh tế, Kĩ thuật chưa được chú trọng ,
giảng viên (GV) còn lúng túng: Việc giảng dạy chú trọng nhiều đến lý thuyết trừu tượng
chưa cung cấp cách tiếp cận cho các mô hình thực tế đa dạng, chưa có những biện pháp
sư phạm phù hợp với đối tượng sinh viên (SV), SV chưa làm chủ các kiến thức để có thể
sử dụng chúng trong cuộc sống , SV thấy kiến thức lý thuyết trong nhà trường xa vời với
thực tế hàng ngày.
Từ những lý do trên, với mong muốn góp phần đổi mới chương trình giảng dạy
và đề ra được một số biện pháp dạy học XSTK theo hướng tăng cường vận dụng TH vào
TT đối với SV các trường Đại học khối Kinh tế, Kĩ thuật, chúng tôi chọn đề tài “Dạy
học Xác suất - Thống kê theo hướng tăng cường vận dụng Toán học vào thực tiễn
cho sinh viên khối Kinh tế, Kỹ thuật” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Một số nghiên cứu về giảng dạy theo hướng tăng cường vận dụng TH vào TT:
Hội nghị toàn thế giới lần thứ nhất về dạy Toán năm 1969 tại Liông Pháp. Hội nghị
lần thứ hai được năm 1972 tại thành phố Exeter (Anh) và lần thứ ba năm 1976 tại thành
phố Karlsruhe của CHLB Đức. Theo "Pháp lệnh về mục tiêu giáo dục Hoa kì năm 2000",
trong số 8 mục tiêu đưa ra có 2 mục tiêu hàm chứa yêu cầu cao về năng lực vận dụng của

vận dụng TH vào TT cho học sinh Trung học cơ sở; Phan Anh (2012): Góp phần phát
triển năng lực TH hóa tình huống TT cho học sinh Trung học phồ thông qua dạy học
Đại số và Giải tích…
Một số nghiên cứu về vấn đề dạy học XSTK ở trong nước:
Đã có nhiều hội nghị được tổ chức: Nha Trang (1983), Hà Tây (2001), Hà Tây
(2005), Thành phố Vinh (2010); Hội thảo quốc tế Pháp – Việt (2013 tại Thành phố
Hồ Chí Minh). Các tác giả Nguyễn Duy Tiến, Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Đặng
Hùng Thắng, Vũ Viết Yên,...cũng đã có những bài báo khoa học nghiên cứu, tiếp cận
về mục đích, nội dung và phương pháp dạy học XSTK và các biện pháp sư phạm
nhằm giúp học sinh tìm hiểu về các quy luật TK và các ứng dụng của nó.
Những nghiên cứu liên quan tới vấn đề dạy học XSTK ở bậc đại học và bậc
phổ thông có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học sau:
Trần Kiều (1988): Nội dung và phương pháp dạy học TK mô tả trong chương
trình toán cải cách ở trường phổ thông cơ sở Việt Nam; Trần Đức Chiển (2007): Rèn
luyện tư duy thống kê cho học sinh trong dạy học Thống kê - Xác suất ở môn toán trung
học phổ thông; Phạm Văn Trạo (2008): Xây dựng và thực hiện chuyên đề chuẩn bị
dạy học xác suất- thống kê ở trung học phổ thông cho SV toán Đại học Sư Phạm; Đỗ
Mạnh Hùng (1993): Nội dung và phương pháp dạy học một số yếu tố của lý thuyết
Footer Page 3 of 126.


Header Page 4 of 126.

4
XS cho học sinh chuyên toán ở bậc phổ thông trung học Việt Nam; Tạ Hữu Hiếu
(2010): Dạy học môn thống kê TH theo hướng vận dụng trong nghiên cứu cho SVcác
trường đại học thể dục thể thao;Trần Thị Hoàng Yến (2011): Dạy học theo dự án môn
XSTK kê ở trường đại học (chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật); Phan Thị Tình (2012):
Tăng cường vận dụng TH vào TT trong dạy học môn XSTK và môn Quy hoạch
tuyến tính cho SV Toán Đại học Sư Phạm....

5
Tài chính, Quản trị kinh doanh, Kinh tế; Kỹ thuật Điện, Điện tử, Nhiệt lạnh, Cơ khí,
Công nghệ ô tô ở các trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật.
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
Cấu tạo chương trình của môn XSTK ở trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật.
6.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học môn XSTK ở trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật.
7. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ của môn XSTK cho SV trường Đại học khối
Kinh tế, Kỹ thuật nếu đề xuất được một số biện pháp tăng cường vận dụng TH vào
TT và sử dụng hợp lý các biện pháp đó trong dạy học XSTK thì sẽ tăng cường được
khả năng vận dụng TH vào TT cho SV, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
này và thực hiện mục tiêu giáo dục TH ở bậc ĐH.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
8.2. Phương pháp quan sát, điều tra
8.3. Thực nghiệm sư phạm
9. Những vấn đề đưa ra bảo vệ
- Những thành tố của năng lực vận dụng TH vào TT và biểu hiện của năng lực
vận dụng XSTK vào TT, đã đề xuất trong luận án, có cơ sở khoa học và là những
thành tố cơ bản.
- Dạy học XSTK ở các trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật hiện nay chưa tạo
điều kiện cho SV liên hệ và vận dụng XSTK vào TT nghề nghiệp; Cần phải có những
biện pháp khắc phục tình trạng đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học XSTK ở các
trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật.
- Các biện pháp đề xuất trong luận án có tính khả thi và hiệu quả nhằm nâng
cao năng lực vận dụng XSTK vào các lĩnh vực Kinh tế, Kỹ thuật cho SV.
10. Những đóng góp của luận án
- Luận án đã làm rõ thực trạng dạy học học phần XSTK ở trường Đại học khối Kinh

Ứng dụng

Hình thành
Các lý thuyết

toán học
1.1.3. Vận dụng Toán học vào thực tiễn
Theo từ điển Tiếng Việt, vận dụng là đem tri thức, lý luận dùng vào TT (vận
dụng lý luận, vận dụng khoa học,…).Như vậy, quan niệm vận dụng TH vào một vấn
đề TT đòi hỏi tới độ cụ thể và triệt để của quá trình ứng dụng TH vào vấn đề TT đó.
Trong luận án này, chúng tôi chủ yếu đề cập tới các vấn đề TT trên một số
Footer Page 6 of 126.


Header Page 7 of 126.

7
phương diện: TT trong nội bộ môn học, TT trong liên môn, TT gần gũi của cuộc sống
(đối với XSTK cho SV khối Kinh tế, Kỹ thuật).
1.1.4. Về năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn
Theo chúng tôi cấu trúc năng lực vận dụng TH vào TT của SV bao gồm một số
thành tố sau đây: Năng lực thu – nhận thông tin TH từ tình huống TT; Năng lực
chuyển đổi thông tin giữa TT và TH; Năng lực thiết lập mô hình TH của tình huống
TT; Năng lực làm việc với mô hình TH ; Năng lực áp dụng các mô hình TH vào các
tình huống TT; Ý thức lựa chọn phương án tối ưu trong xử lý các tình huống TT
Từ cơ sở lý luận và căn cứ vào đặc thù của môn XSTK, những thành tố của
năng lực vận dụng XSTK vào TT được chúng tôi cụ thể hóa.
1.1.5. Các cấp độ vận dụng Toán học vào thực tiễn
Việc phân chia cấp độ vận dụng TH vào TT được căn cứ vào vận dụng sáng
tạo hay chỉ làm lại, làm tương tự…

chính xác hơn. Dưới chế độ phong kiến, TK đã phát triển hầu hết ở các nước châu
Âu, châu Á…Việc TK tài sản, ruộng đất,… chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị.
TK đã phát triển hơn giai đoạn 1 nhưng chưa đúc kết thành lý luận. Đến cuối thế kỷ
XVII chủ nghĩa tư bản ra đời, kinh tế hàng hóa phát triển. Để phục vụ cho các mục
đích kinh tế, chính trị, quân sự…nhà nước tư bản và các chủ tư bản cần rất nhiều
thông tin về nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự cần thiết phải tìm hiểu, phân tích từ các
nguồn thông tin thu được đòi hỏi phải có sự nghiên cứu lý luận và phương pháp xử lý
dữ liệu, đã đẩy nhanh sự phát triển của khoa học TK...
1.2.1.2. Ứng dụng của Xác suất - Thống kê
Trong cuộc sống hàng ngày thường gặp những hiện tượng không chắc chắn,
thường gặp các “sự kiện” ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên là một phần tất yếu của cuộc sống.
XSTK kê trở thành ngành khoa học quan trọng, đặc biệt là những ứng dụng của nó.
Cuốc sống càng hiện đại, con người càng bận rộn và chịu nhiều sức ép phải đối mặt
với rất nhiều lựa chọn để đưa ra quyết định của mình. Quyết định chính xác sẽ dẫn
chúng ta đến thành công. XSTK là cần thiết, nó là công cụ trợ giúp không thể thiếu
khi mỗi cá nhân phải đứng trước các lựa chọn tình huống để đưa ra quyết định.
XSTK ứng dụng trong một số lĩnh vực: Trong khoa học; Trong kinh tế, kỹ
thuật; Trong TK dân số; Trong nông nghiệp; Trong Y học; Ứng dụng trong Địa chất,
Địa lý, Khí hậu học, Khí tượng thủy văn. Ngoài ra, các phương pháp của XSTK còn
được ứng dụng rộng rãi trong giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc, phục vụ
đám đông, đặc biệt là trong quốc phòng…

Footer Page 8 of 126.


Header Page 9 of 126.

9
1.2.1.3. Đặc điểm của môn Xác suất - Thống kê
Do đó đặc điểm của XSTK là: “ phát hiện cái ổn định trong cái có vẻ bất



Header Page 10 of 126.

10
1.2.2.2. Mục đích của dạy học XSTK ở trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật
- Mục đích của dạy học XS: Việc dạy học XS phải làm cho SV hiểu được cách
tiếp cận khái niệm XS, biết tính XS của một số loại biến cố phức tạp khi biết XS của
biến cố sơ cấp, các quy luật phân phối của biến ngẫu nhiên. Biết vận dụng để giải
quyết một số vấn đề trong TT trong thực tế sản xuất kinh doanh, trong khoa học kỹ
thuật. Ngoài ra, dạy XS phải thấy được mối quan hệ mật thiết của XS và TK. Nếu TK
là cung cấp công cụ cho việc nghiên cứu các khoa học khác và đào tạo công dân thì
các tính toán XS là kiến thức cần có để là chủ những cộng cụ này.
- Mục đích của dạy học TK: Việc giảng dạy TK không thể chỉ nhằm vào các
công thức, vì TK không đơn thuần là một tập hợp kỹ thuật. Đằng sau những kỹ thuật
này là tư duy, là cách nắm bắt dữ liệu, đặc biệt là nhận thức được sự tồn tại của
những cái không chắc chắn, hệ quả của sự thay đổi thông tin và thu thập dữ liệu. Dạy
học TK phải mang lại cho người học khả năng đưa ra quyết định trong những tình
huống không chắc chắn. Ngoài ra dạy học XSTK còn tạo được thói quen nhìn nhận
một vấn đề theo quan điểm TK, có thái độ nghiêm túc trong công việc.
1.2.2.3. Đặc điểm sinh viên ở trường Đại học khối Kinh tế, Kỹ thuật
- SV sau khi ra trường cần có những năng lực cơ bản sau: Năng lực giải quyết về
khoa học kỹ thuật, về tổ chức và quản lý do TT đề ra; năng lực dự đoán tiền đồ phát
triển ngành khoa học của mình; năng lực hoạt động xã hội chính trị; năng lực tự học
cho phù hợp với sự phát triển của xã hội; năng lực NCKH…
- Sự phát triển về thể chất, trí tuệ đã tương đối hoàn chỉnh, có vốn kiến thức và
kinh nghiệm sống nhất định, có hiểu biết, thái độ, khả năng đánh giá bản thân để chủ
động điều chỉnh sự phát triển của chính mình theo hướng phù hợp với xu thế xã hội.
- Đã định hướng được một cách rõ ràng về nghề nghiệp
- Về sở thích, SV ngành Kinh tế – Quản trị: thích kinh doanh, quản lý; thích làm

hướng tăng cường vận dụng TH vào TT, làm một cơ sở đề xuất biện pháp dạy học
XSTK theo hướng tăng cường vận dụng TH vào TT cho SV khối Kinh tế, Kỹ thuật.
1.3.2. Đối tượng và thời gian khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 35 GV và 1450 SV tại 5 trường đại học sau:
Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, Trường Đại
học Hải Dương, Trường Đại học Sao Đỏ (Hải Dương), Trường Đại học Tây Bắc.
1.3.3. Thời gian điều tra
Thời gian khảo sát tháng 11/2011
1.3.4. Phương pháp khảo sát
- Thông qua việc dự giờ, thăm lớp;
- Phát phiếu điều tra cho GV và SV
1.3.5. Kết quả khảo sát và phân tích
- Đa số GV chú trọng nhiều đến việc cung cấp, rèn luyện cho SV các kỹ năng,
Footer Page 11 of 126.


Header Page 12 of 126.

12
quy trình tính toán môn học. Việc vận dụng XSTK vào TT thường chủ yếu vận dụng
trong nội bộ môn học;
- GV thiếu tài liệu định hướng việc dạy học XSTK theo hướng tăng cường vận
dụng TH vào TT nên khả năng khai thác yếu tố TT trong môn học còn hạn chế: Chưa
chú trọng khai thác gợi động cơ, hứng thú học tập cho SV; Chưa cho SV khai thác
các ví dụ, bài toán liên quan đến từng ngành nghề; Việc tập dượt cho SV NCKH chưa
thực hiện được tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục đại học, nhất là yêu
cầu dạy học XSTK cho SV khối Kinh tế, Kỹ thuật; GV chưa chú ý tới việc phát hiện,
chỉnh sửa, ngăn ngừa sai lầm thường mắc phải khi vận dụng XSTK vào TT để SV có thể
biết và khắc phục các sai lầm đó.
- SV chưa hứng thú học môn XSTK; SV chưa có kỹ năng tự đặt ra các bài toán

2.2.1.1. Cơ sở khoa học của biện pháp
Gợi động cơ học tập là một trong bốn thành tố cơ bản của phương pháp dạy
học; Tác giả Wilbert J. Mckeachie cho rằng: “Một trong những nhiệm vụ quan trọng
nhất của dạy học là làm cách nào để hình thành động cơ học tập bên trong để SV
hứng thú học tập”; F.Bruner cho rằng: “Hứng thú nhận được hình thành qua việc tổ
chức học tập như những hành động khám phá” ; Theo Phan Anh “Khai thác nguồn
gốc TT của các tri thức sẽ gợi được động cơ trực tiếp cho việc tiếp thu các tri thức
TH cần truyền thụ…”; Biện pháp được xây dựng theo các định hướng 1 ,2, 3, 4, 5
(trong định hướng xây dựng các biện pháp SP).
2.2.1.2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
Việc xuất phát từ những tình huống TT nhất là tình huống liên quan đến ngành
nghề trong tương lai không những có tác dụng gợi động cơ mà còn góp phần hình
thành thế giới quan duy vật biện chứng nhờ đó góp phần làm tăng phần hấp dẫn, lôi
cuốn SV, làm cho việc học của SV trở nên tự giác, tích cực chủ động, giúp SV nắm
bắt nội dung và sự hữu dụng trong thực tế của học phần.
Vì vậy, khai thác triệt để mọi khả năng gợi động cơ, tạo hứng thú xuất phát từ
TT nhất là TT liên quan đến ngành nghề là rất quan trong và cần thiết.
2.2.1.3. Cách thức thực hiện biện pháp
Gợi động cơ khi giảng dạy XSTK là việc làm liên tục, thường xuyên trong
suốt quá trình dạy học.
a) Kĩ thuật 1: Sử dụng những hình ảnh có thật từ thực tế
Trong kỹ thuật này GV sử dụng các hình ảnh có thật từ thực tế, bài tập ở dạng
điều tra số liệu, khảo sát thực tế các vấn đề nảy sinh trong TT, phân tích các tin tức
trên báo chí, số liệu trong sách giáo khoa hoặc trên mạng internet…về những sự kiện
liên quan đến kiến thức cần trang bị để tăng tính trực quan.

Footer Page 13 of 126.


Header Page 14 of 126.

Chủ tịch Hồ chí Minh đã viết: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một
nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – LêNin.Thực tiễn không có lý luận hướng
dẫn thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận
Footer Page 14 of 126.


Header Page 15 of 126.

15
suông”. Quan điểm này được người nhấn mạnh: “Học để hành, học phải đi đôi với
hành. Học mà không hành thì vô ích, hành mà không học thì không trôi chảy”; Theo
Luật Giáo dục:“Đào tạo trình độ đại học phải bảo đảm cho SV có những kiến thức
khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn tương đối hoàn chỉnh; có phương pháp
làm việc khoa học; có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn”; Theo
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI, số 29-NQ/TW
ngày 04/11/2013: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo
hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của
hệ thống giáo dục...”
Biện pháp được xây dựng theo các định hướng 1, 2,5.
2.2.2.2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
Việc đưa những ví dụ, bài toán XSTK có nội dung, có thuật ngữ liên quan đến
ngành nghề được thực hiện lồng ghép trong quá trình dạy học vào những thời điểm
thích hợp là cần thiết. Bên cạnh mục tiêu trang bị cho SV các kiến thức, kỹ năng cơ
bản của môn học, biện pháp này bước đầu giúp SV có những nhận thức cơ bản về TT
nghề nghiệp.
2.2.2.2. Cách thức thực hiện biện pháp
a) Kỹ thuật 1: Tạo điều kiện để SV tiếp cận các ví dụ, bài toán, các thuật ngữ
liên quan đến ngành nghề.
Thao tác 1: Xác định kiến thức, lựa chọn ví dụ, bài tập, thuật ngữ liên quan
đến ngành nghề

Cách thức thực hiện kỹ thuật này là, tổ chức luyện tập cho SV thông qua một
số ví dụ thích hợp, lồng ghép một cách hợp lý vào quá trình dạy học.
Cấp độ 1: Giảng viên đưa ra số liệu, gợi ý kiến thức sử dụng để lập bài toán
Cấp độ 2: Có thể thực hiện theo hai hướng
Hướng 1: GV đưa ra số liệu, SV liên tưởng kiến thức cần sử dụng và lập bài toán
Hướng 2: Giảng viên gợi ý tri thức sử dụng, còn sinh viên đưa ra số liệu phù
hợp và lập bài toán
2.2.2.3. Chú ý khi thực hiện biện pháp
GV và SV cần nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc liên hệ TT liên
quan đến ngành nghề trong giảng dạy môn XSTK cho SV từng ngành học, từng bài
học, từng phần học; Cùng một mục tiêu về nội dung, kiến thức, kỹ năng có thể lấy
các ví dụ, bài tập với cách dùng từ ngữ, thuật ngữ khác nhau liên quan đến từng
ngành nghề; Trong quá trình lập bài toán GV cần lưu ý cho SV về sự phù hợp giữa số
liệu đưa ra với TT; Việc liên hệ theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đại học,
đạt được mục tiêu môn học, giúp SV dần biết cách tiếp cận với TT, tự mình tìm tòi,
khám khá và tự giải được các bài toán nảy sinh trong ngành học có sử dụng XSTK;
Thường xuyên cho SV tiếp cận, ôn tập lại các bài toán có nội dung, có các thuật ngữ
Footer Page 16 of 126.


Header Page 17 of 126.

17
liên quan đến ngành nghề trong những giờ giảng khác, các phần kiến thức khác để
SV làm quen với thuật ngữ chuyên ngành.
2.2.3. Biện pháp 3: Tập luyện cho sinh viên một số kỹ thuật vận dụng qui trình
giải một bài toán thực tiễn trong dạy học Xác suất - Thống kê
2.2.3.1. Cơ sở khoa học của biện pháp
- Môn XSTK có đặc điểm là các tri thức có liên hệ trực tiếp với TT, bài tập
thường là các bài toán TT. Đây là điều kiện thuận lợi để vận dụng XSTK vào TT;

2.2.4.3. Chú ý khi thực hiện biện pháp
Do yêu cầu về thời lượng dành cho môn XSTK ở trường Đại học khối Kinh tế,
Kỹ thuật và do đặc điểm trình độ của SV nên trong dạy học XSTK, GV không nên đòi
hỏi chặt chẽ lý thuyết các bước vận dụng TH vào TT, chỉ cần đảm bảo tư tưởng cơ bản
là hướng đến mục tiêu thực hiện các yếu tố trong các bước vận dụng TH vào TT.
2.2.4. Biện pháp 4: Khắc phục sai lầm thường gặp của sinh viên khi vận dụng xác
suất thống kê vào một số tình huống thực tiễn
2.2.4.1. Cơ sở khoa học của biện pháp
Theo A.A.Stoliar cho rằng: “Không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ
học các sai lầm của học sinh”
Còn theo J.A.Komenxkec khẳng định “Bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể làm
cho học sinh kém đi nếu GV không chú ý đến sai lầm đó và hướng dẫn học sinh nhận
ra, sửa chữa, khắc phục sai lầm”.
XSTK là môn học khó, rất nhiều SV tiếp thu kiến thức một cách thụ động và
hình thức. Hậu quả là việc vận dụng kiến thức XSTK đã học trong những tình huống TT
rất dễ bị nhầm lẫn, bị sai nếu việc phân tích vấn đề không chặt chẽ, chính xác.
Chính vì vậy, GV trong quá trình dạy học XSTK việc chú ý phát hiện sai lầm,
tìm nguyên nhân và đề ra hướng khắc phục các sai lầm đó là một hoạt động quan
trọng. Biện pháp được xây dựng theo các định hướng 1, 3, 4, 5.
2.2.4.2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
Giúp SV hiểu và tránh được sai lầm khi vận dụng XSTK vào tình huống TT. Biện
pháp này góp phần bồi dưỡng cho SV các thành tố 2, 3, 4, 5.
2.2.4.3. Cách thức thực hiện biện pháp
a) Kỹ thuật 1: Khắc phục sai lầm trong quá trình chuyển đổi từ bài toán
TT và bài toán XSTK:
- Sai lầm này thường xảy ra ở hai khả năng:
Khả năng 1: Sai lầm trong quá trình chuyển đổi từ bài toán TT về bài toán
XSTK, đây chính là sai lầm gặp phải trong bước xây dựng mô hình TH cho bài toán
TT. Trong bước này, sai lầm trong việc"mã hoá", chuyển những yếu tố, đối tượng thực
tế thành các kí hiệu TH, các diễn đạt bằng lời (diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường)

GV, trước hết là những GV trực tiếp hướng dẫn SV NCKH, phải đào sâu nghiên cứu,
mở rộng kiến thức của mình, để không trở nên tụt hậu.
Tập dượt NCKH là một yêu cầu không thể thiếu của SV. Qua việc tập dượt
NCKH khi dạy học XSTK còn giúp cho SV: Củng cố, khắc sâu, mở rộng, hệ thống
hóa, tổng hợp các kiến thức đã học của môn XSTK;
Khi SV làm quen với NCKH sẽ học được phương pháp làm việc khoa học,
phương pháp tự học, tự tìm kiếm tri thức thông qua nhiều nguồn tư liệu khác nhau...
Biện pháp được xây dựng theo các định hướng 1, 3, 4, 5.

Footer Page 19 of 126.


Header Page 20 of 126.

20
2.2.5.2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
Giúp SV được tập dượt, làm quen với các phương pháp NCKH, vận dụng kiến
thức XSTK vào xử lí các số liệu TT thu được để báo cáo, trình bày các vấn đề nghiên
cứu một cách chủ động, tự tin. Từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng
NCKH cho SV; Biện pháp tập dượt cho SV NCKH thông qua tình huống TT còn góp
phần bồi dưỡng niềm hứng thú, say mê, tìm tòi, khám phá, góp phần nâng cao khả
năng vận dụng SXTK vào TT; Biện pháp còn rèn luyện năng lực thu nhận thông tin,
năng lực chuyển đổi thông tin, năng lực huy động kiến thức, năng lực áp dụng mô
hình…cho SV.
2.2.5.3. Cách thức thực hiện biện pháp
Mức độ 1: Những bài tập thực hành đơn giản:
Mức độ 2:Thực hành những bài tập lớn
Mức độ 3: SV thực hiện những dự án
Mức độ 4: SV đề xuất hệ thống bài tập TT
a) Mức độ 1: Những bài tập thực hành đơn giản

Theo chúng tôi, tổ chức thực hiện hoạt động thực hành bài tập lớn gồm các giai đoạn:
Giai đoạn 1: Hệ thống lại lý thuyết cơ bản; Giai đoạn 2: Xây dựng hệ thống bài tập
TT điển hình; Giai đoạn 3: Kiểm định kết quả bài toán, rút ra một số ý nghĩa TT.
c. Mức độ 3: SV thực hiện những dự án
Chúng tôi đưa ra các bước tổ chức thực hiện theo dự án như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu
Ở bước này GV cần xác định nội dung để xây dựng dự án, xác định được mục
tiêu kiến thức, kỹ năng thái độ và yêu cầu của thực hiện dự án. Giúp SV có định
hướng tốt trong toàn bộ quá trình thực hiện dự án.
Bước 2: Lập kế hoạch thực hiện dự án
GV phải có hệ thống câu hỏi định hướng, cung cấp tài liệu, bổ sung kiến thức
cần thiết, đồng thời lường trước các khó khăn gặp trong quá trình thực hiện dự án;
GV chia nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm. Việc chia nhóm SV trong trường
hợp này là những SV có cùng ý tưởng, cùng sở thích điều này giúp SV trong việc
thực hiện sẽ hứng thú hơn, thuận lợi hơn; Trong nhóm thảo luận, lập chi tiết kế hoạch
cụ thể về hướng giải quyết của bài tập; GV xem xét, điều chỉnh, duyệt kế hoạch cho
các nhóm.
Bước 3: Thực hiện kế hoạch dự án
Đây là bước SV hoạt động tại các cơ sở thực tế, thực hiện điều tra để thu
thập các số liệu liên quan đến dự án; Tổng hợp số liệu thu được, sắp xếp, thảo luận
tìm ra sản phẩm của dự án dưới sự tham vấn của GV hướng dẫn.
Bước 4: Đánh giá, rút ra ý nghĩa thực tế
Trong bước này SV tổng hợp kết quả, hoàn thành dự án và trình bày kết quả.
GV nhận xét đánh giá và kết luận về ý nghĩa TT của dự án.

Footer Page 21 of 126.


Header Page 22 of 126.


sư phạm
3.2.1. Thời gian, đối tượng thực nghiệm sư phạm
Đợt 1: Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2012 thực nghiệm lần 1 với 4 lớp, gồm
Footer Page 22 of 126.


Header Page 23 of 126.

23
2 lớp thực nghiệm và 2 lớp đối chứng tại trường Đại học Hải Dương.
Đợt 2: Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2013 chúng tôi thực nghiệm lần 2 với 8
lớp tại trường Đại học Hải Dương và trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh.
3.2.2. Quy trình, cách thức triển khai nội dung thực nghiệm
3.2.2.1. Quy trình thực nghiệm:
- Chọn các lớp thực nghiệm
- Tập huấn cho GV dạy thực nghiệm gồm những vấn đề sau:
- Tiến hành dạy các tiết thực nghiệm tại các lớp học.
- Tiến hành phỏng vấn SV và GV sau giờ học để kiểm chứng và rút kinh
nghiệm những mặt không thể đo được qua bài kiểm tra.
- Cho SV làm các bài kiểm tra và phân tích kết quả thu được.
3.2.2.2. Các hình thức triển khai nội dung thực nghiệm
Tích hợp trong quá trình DH, hướng dẫn SV làm bài tập lớn, thảo luận, NCKH
3.2.3. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm
3.2.3.1. Nội dung đánh giá
Sự hiểu biết của SV về kiến thức lý thuyết của môn học; Sự tiến bộ của SV
trong học tập cũng như trong vận dụng kiến thức vào TT: Thông qua đánh giá của
các GV khác và qua chính các em SV.
3.2.3.2. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm
Kiểm tra tự luận; Phiếu khảo sát dành cho SV; Quan sát lớp học; Phỏng vấn;
Phương pháp TK toán học

theo một cấu trúc thống nhất (Cơ sở khoa học của biện pháp, Mục đích, ý nghĩa của biện
pháp, cách thức thực hiện biện pháp và chú ý khi sử dụng biện pháp).
4) Luận án đề xuất một hệ thống những bài toán áp dụng XSTK vào các lĩnh vực
kinh tế, kĩ thuật phù hợp với chương trình, nội dung học phần XSTK ở các trường Đại học
khối Kinh tế, Kĩ thuật hiện nay ở Việt Nam.
5) Luận án đã tổ chức thực nghiệm sư phạm để minh họa tính khả thi và hiệu quả của
những biện pháp sư phạm được đề xuất. Kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy các biện
pháp sư phạm được đề xuất bước đầu có tính khả thi và thu được hiệu quả tốt.
Từ những kết quả chính trên, có thể kết luận rằng: Giả thuyết khoa học của luận án là
chấp nhận được, mục đích nghiên cứu của đề tài đã hoàn thành, những đóng góp của luận án
có thể triển khai, vận dụng trong thực tế dạy học XSTK cho SV khối kinh tế, kỹ thuật. Luận
án có thể làm tài liệu tham khảo về dạy học XSTK cho GV và SV các trường Đại học khối
Kinh tế, Kỹ thuật.

Footer Page 24 of 126.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status