DẠY học xác SUẤT THỐNG kê THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG vận DỤNG vào THỰC TIỄN ở TRƯỜNG đại học SAVANHNAKHET nước CHDCND lào - Pdf 41

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả.
Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực. Tác giả chưa
từng dùng kết quả nào trong luận văn để nhận bất kì bằng cấp nào.

Tác giả luận án

Phonexay SILIVONG

1


NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
TT

Viết đầy đủ

Viết tắt

1

CT

Chương trình

2

DH

Dạy học


8

PP

Phương pháp

9

SV

Sinh viên

10

SP

Sư phạm

11

TBC HT

Trung bình chung học tập

12

TH

Toán học


18

XSTK

Xác suất thống kê

2


MỤC LỤC
NỘI DUNG
Mở đầu
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1. Mối liên hệ giữa Xác suất - Thống kê với thực tiễn
1.1.1. Quan niệm về thực tiễn và mối liên hệ giữa toán học và thực tiễn
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của Xác suất – thống kê liền gắn với thực
tiễn
1.2. Năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học Xác suất –
Thống kê
1.2.1. Quan niệm về năng lực vận dung toán học vào thực tiễn
1.2.2. Các cấp độ vận dụng toán học vào thực tiễn
1.3. Dạy học Xác suất Thống kê trong trường Đại học Savanhnakhet nước
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
1.3.1. Mục tiêu của trường Đại học Savanhnakhet nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào
1.3.2. Mục đích của dạy học Xác suất Thống kê
1.3.4. Phân phối chương trình Xác suất Thống kê
1.4. Một số thực trạng dạy, học Xác suất Thống kê theo hướng vận dụng vào
thực tiễn cho sinh viên trường Đại học Savanhnakhet (Lào)

11
11
11
13
13
13
17
18
18
19
20
20
22
28
28
28

29
35
40

47
47
48
56
62
63
64




Đi đôi với phát triển kinh tế, Lào đã đẩy mạnh phát triển các hoạt động
xã hội, tạo ra sự hài hòa trong phát triển.Với chủ trương coi giáo dục là điểm
mấu chốt trong việc xây dựng xã hội Lào văn minh hiện đại, ngành giáo dục
Lào đã có bước tiến dài. Hệ thống giáo dục hằng năm đã đào tạo ra một số
lượng lớn cán bộ có chuyên môn phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước. Đặc biệt, để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngoài số tự đào tạo được, hằng năm
Lào còn gửi hàng ngàn học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập. Riêng với
Việt Nam, hợp tác giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực được ưu tiên
và mở rộng với nhiều hình thức, được thực hiện từ trung ương tới các bộ,
ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp. Mỗi năm, Việt Nam tiếp nhận
khoảng 650 học sinh Lào và hiện có tới gần 5.000 du học sinh Lào đang học
tập tại Việt Nam. Nhờ đó, trình độ của cán bộ Lào không ngừng tăng lên.
Tính đến năm 1995, số cán bộ có trình độ trên đại học của Lào chỉ có 0,45%,
số cán bộ cao cấp và số cán bộ có trình độ Đại học là 15,16%, không có Tiến
sĩ và Phó tiến sĩ. Đến nay ở nước CHDCND Lào đã có khoảng bốn nghìn cán
bộ có trình độ Tiến sĩ và có khoảng mười lăm nghìn cán bộ có trình độ Thạc
sĩ, Đại học.
(2) Toán học có liên hệ mật thiết với thực tiễn và có ứng dụng rộng rãi
trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ cũng như trong
sản xuất và đời sống. Thực tiễn là nguồn gốc, động lực, vừa là nơi kiểm
nghiệm tính chân lý của mọi khoa học nói chung và toán học nói riêng. Toán
học phát triển được là nhờ có mối liên hệ mật thiết với thực tiễn, thông qua
đó để bộc lộ sức mạnh lý thuyết vốn có của nó. Với vai trò đặc biệt, Toán học
trở nên thiết yếu đối với mọi ngành khoa học, góp phần làm cho đời sống xã
hội ngày càng hiện đại và văn minh hơn. Trong đó có ngành Xác suất - Thống
kê (XSTK) - một ngành khoa học ra đời khoảng thế kỷ XVII, có những đóng
góp đáng kể cho sự phát triển đời sống, xã hội. Đối tượng nghiên cứu của
5

6


năng lực thu, nhận thông tin toán học, năng lực chế biến thông tin toán học,
năng lực lưu trữ thông tin toán học, thành phần tổng hợp khái quát: khuynh
hướng toán học của trí tuệ, làm căn cứ cho các nghiên cứu về nâng cao năng
lực vận dụng toán học vào thực tiễn cho người học. Maxlôva G.G (1980) đã
khẳng định vấn đề tăng cường các ứng dụng toán học là xu thế chung của cải
cách giáo dục môn Toán ở nhiều nước trên thế giới trong những thập kỷ gần
đây. Xtôlia A.A, tác giả thiên về quan điểm: Dạy học Toán chính là dạy cho
học sinh biết thực hiện các hoạt động Toán học bắt đầu từ tổ chức thu thập
các tài liệu kinh nghiệm, tổ chức lôgíc các tài liệu đã thu được và tổ chức ứng
dụng,...Tăng cường động cơ học tập của sinh viên (SV) và tiếp cận các
phương pháp dạy học (PPDH) mới trong các trường đại học, cao đẳng. Tiêu
biểu cho hướng này là nghiên cứu của Wilbert J. McKeachie (Anh) và các
cộng sự với công trình “Những thủ thuật trong Dạy học” (2002) trình bày các
chiến lược, các nghiên cứu và lý thuyết về dạy học dành cho các giảng viên
và Cao đẳng…. (D n theo [9])
Một số nghiên cứu về vấn đề giảng dạy XSTK
Tại Việt nam, những nghiên cứu về dạy học Toán ở trường phổ thông với việc
tăng cường vận dụng Toán học vào thực tiễn có một số công trình sau: Luận
án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Anh (1999) [2] về “Khai thác ứng dụng của phép
tính vi phân để giải các bài tập cực trị có nội dung liên môn và thực tế, nhắm
chủ động góp phần rèn luyện ý thức và khả năng ứng dụng toán học cho học
sinh lớp 12 THPT”, đề cập đến các định hướng chỉ đạo, xây dựng hệ thống
bài tập cực trị có nội dung liên môn và thực tế kèm theo những hướng d n về
phương pháp dạy học hệ thống bài tập); Luận án tiến sĩ của Bùi Huy Ngọc
(2003) [13] về “Tăng cường khai thác nội dung thực tế trong dạy học Số học
và Đại số nhằm nâng cao năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn cho học
sinh Trung học cơ sở”. Tác giả đã xây dựng và hướng d n thực hiện các biện

tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học học phần này.

8


4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn là trả lời các câu hỏi khoa học sau đây:
- Cơ sở lí luận của việc dạy học XSTK gắn với thực tiễn là gì?
- Thực tiễn dạy học học phần XSTK ở trường Đại học Savanhnakhet
nước CHDCND Lào hiện nay như thế nào?
- Những biện pháp dạy học XSTK ở trường Đại học Savanhnakhet
nước CHDCND Lào theo định hướng tăng cường vận dụng XSTK vào thực
tiễn là gì?
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi nội dung môn XSTK ở trường Đại học
Savanhnakhet nước CHDCND Lào.
6. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
Chương trình môn XSTK ở trường Đại học Savanhnakhet nước
CHDCND Lào.
6.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình dạy học môn XSTK ở trường Đại học Savanhnakhet nước
CHDCND Lào
7. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ của môn XSTK cho SV trường Đại
học Savanhnakhet nước CHDCND Lào, nếu thực hiện các biện pháp tăng
cường liên hệ nội dung dạy học với thực tiễn như đã đề xuất trong luận văn,
sinh viên sẽ thấy hứng thú hơn trong học tập và nâng cao hơn chất lượng dạy
học chủ đề này ở trường Đại học Savanhnakhet nước CHDCND Lào.

1.1.1. Quan niệm về thực tiễn và mối liên hệ giữa toán học và thực tiễn
Theo từ điển Tiếng Việt [14]: Thực tiễn là những hoạt động của con
người, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết
cho sự tồn tại của xã hội (nói tổng quát).
Toán học có quan hệ mật thiết với thực tiễn và có ứng dụng rộng rãi
trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội và trong lao động
sản xuất. Toán học bắt nguồn từ thực tế,do nhu cầu của con người cần phải có
hiểu biết, tìm tòi và giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, trong quá
trình lao động sản xuất.
Toán học bắt nguồn từ thực tế và ngược lại toán học phục vụ con người
trong hoạt động thực tiễn, toán học là công cụ đắc lực giúp con người giải
quyết các vấn đề khó khăn trong lao động xã hội và trong kỹ thuật. Toán học
nghiên cứu những con số, những đối tượng trong những cấu trúc trừu tượng
được trang bị bởi những phép toán, toán học nghiên cứu những hình dạng có
trong không gian vật lý chúng ta đang sống và cả những không gian trừu
tượng khác. Toán học hình thành nên những khái niệm, phép toán, tính chất...
để phản ánh sâu sắc hơn bản chất quan hệ số lượng và cấu trúc của thế giới
hiện thực. Vì thế toán học ngày càng phục vụ hiệu quả hơn trong hoạt động
thực tiễn.
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của Xác suất – thống kê liền gắn với
thực tiễn
Lý thuyết xác suất (XS) có từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên, bắt
nguồn từ các trò chơi có tính chất may rủi thông qua những con xúc xắc và
những đồng xu. Đó là những trò chơi liên quan đến phép thử ngẫu nhiên rất
11


phổ biến ở vùng Lưỡng Hà từ thời Ai Cập cổ đại.
Tác phẩm “Foundations of the Theory of Probality” của Kolmogorov
A. N. (1933) đánh dấu XS là một lĩnh vực Toán học, có độ trừu tượng cao và

1.2.1. Quan niệm về năng lực vận dung toán học vào thực tiễn
Theo từ điển Tiếng Việt [14]: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan
hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; là phẩm chất tâm lý
và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó
với chất lượng cao.
Theo Lý thuyết thông tin [6], những biểu hiện của người có khả năng
vận dụng TH vào TT là:
- Khả năng thu – nhận thông tin Toán học từ tình huống thực tiễn.
- Khả năng chuyển đổi thông tin giữa Toán học và thực tiễn.
- Khả năng thiết lập mô hình Toán học của tình huống thực tiễn.
- Khả năng ước lượng trong xử lý các thông tin Toán học từ tình huống
thực tiễn.
1.2.2. Các cấp độ vận dụng toán học vào thực tiễn
+ Các cấp độ vận dụng Toán học vào thực tiễn có thể xếp từ thấp tới
cao, từ ứng dụng một cách máy móc đến sự vận dụng một cách nhuần
nhuyễn, từ giải quyết những vấn đề, bài toán tương tự, gần gũi, đơn giản tới
việc giải quyết những vấn đề phức tạp một cách sáng tạo, những “bài toán”
hắc búa. Các cấp độ vận dụng Toán học vào thực tiễn còn thể hiện từ việc
vận dụng Toán học vào giải quyết những vấn đề bằng những kiến thức đơn lẻ
sang giải quyết các vấn đề phức hợp, hoặc liên quan tới sự vận dụng nhiều
nguyên tắc thuộc nhiều môn học để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong
đời sống và nghề nghiệp đặt ra.
+ Theo Bùi Huy Ngọc (2003) [13] hoạt động vận dụng toán học vào
thực tiễn có thể được xem xét dưới hai cấp độ: cấp độ phổ biến và cấp độ
chuyên sâu:
Cấp độ chuyên sâu, có thể hiểu đó là hoạt động nghề nghiệp của một
13


số ít người - các chuyên gia về toán ứng dụng.

phạm vi ứng dụng của nó trong các môn học chuyên ngành.
- Thể hiện mối liên hệ hợp lý với TT trong nội dung và phương pháp
dạy học. Hợp lý ở đây tức là phải phù hợp với thời gian dành cho môn học,
các ứng dụng TT phải vừa sức với khả năng của SV và phù hợp với ngành
học mà họ lựa chọn; đồng thời việc thực hiện mối liên hệ này phải có mục
đích rõ ràng, được thực hiện trong cả nội dung và phương pháp giảng dạy.
- Thể hiện mối quan hệ với các môn học khác (thể hiện môn học có tính
chất liên môn). Điều này phù hợp với đặc điểm của XSTK, đó là môn học với
nhiều ứng dụng trong nhiều ngành khác nhau, trong nhiều môn học khác
nhau.
- Dạy cho SV biết vận dụng kiến thức đã học của XSTK vào TT thông
qua kỹ năng đặt ra các bài toán TT và giải quyết các bài toán đó, nhất là bài
toán có trong các ngành nghề.
Tuy nhiên các đặc điểm trên đây có thể đưa ra bài toán TT để SV giải
quyết chúng trong một khoảng thời gian nào đó, có thể giải quyết cá nhân, có
thể giải quyết theo nhóm, với một số trợ giúp nào đó từ GV hoặc từ thư viện,
Internet... ([15] tr20).
1.2.4. Dạy học Xác suất Thống kê theo định hƣớng vận dụng vào thực
tiễn
Trong toán học ứng dụng, có thể sử dụng các khái niệm có định nghĩa
hình thức hoặc không hoàn toàn chặt chẽ về mặt hình thức. Có thể áp dụng
những khảng định có bao hàm khái niệm thuộc loại này, miễn sao việc áp
dụng những khái niệm và những khẳng định như vậy mà có khả năng d n tới
kết quả mà “ TT chấp nhận được” và “thỏa mãn tính tối ưu”.
Trong quá trình giảng dạy GV cần lưu ý là bài giảng có tính TT sẽ làm
cho các nguyên lý, lý luận trừu tượng, khó hiểu, phức tạp thành những vấn đề
gần gũi, giản dị, dễ tiếp thu. Khi đó sẽ hình thành được nhận thức về nguồn
gốc của XSTK, thấy rõ XSTK không phải là một sản phẩm của một lí thuyết
15




cũng có thể giảng viên thông tin cho SV nhằm gợi động cơ học tập cho SV.
Ngoài ra cũng có thể đưa vào các giờ bài tập, các giờ kiểm tra với nội dung
nhất định để củng cố cho lý thuyết. Đặc biệt là đưa kiến thức TT vào các buổi
tổ chức ngoại khóa cho SV.
1.3. Dạy học Xác suất Thống kê trong trƣờng Đại học Savanhnakhet nƣớc
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
1.3.1. Mục tiêu của trường Đại học Savanhnakhet nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào
Trong

giáo

trình

“Khoa

học

Tự

nhiên”

của

Khamco

VONGARNATHTHA (2013) [18]: Mục tiêu của trường Đại học
Savanhnakhet nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là:

• Để làm cho các sinh viên có thể sử dụng các số liệu thống kê trong nghiên
cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ nghề nghiệp, có thể tự mình ứng dụng kiến
thức đúng cách, có suy nghĩ, phân tích ván đề một cách hệ thống và quy tắc
hơn.
• Để làm cho SV hiểu được cách tiếp cận khái niệm XS, biết tính XS của một
số loại biến cố phức tạp khi biết XS của biến cố sơ cấp, các quy luật phân
phối của đại lượng ng u nhiên. Biết vận dụng XS để giải quyết một số vấn đề
trong thực tiễn, trong thực tế sản xuất kinh doanh, trong khoa học kỹ thuật.
• Để làm cho SV thấy được mối quan hệ mật thiết của XS và TK.
1.3.3. Yêu cầu của dạy học Xác suất Thống kê
Việc giảng dạy Xác suất Thống kê không thể chỉ nhằm vào các công
thức, vì XSTK không đơn thuần là một tập hợp kỹ thuật. Đằng sau những kỹ
thuật này là tư duy, là cách nắm bắt dữ liệu, đặc biệt là nhận thức được sự tồn
tại của những cái không chắc chắn, hệ quả của sự thay đổi thong tin và thu
thập dữ liệu. Dạy học XSTK phải mang lại cho người học khả năng đưa ra
quyết định trong những tình huống không chắc chắn.
Theo Duperret (2002), việc dạy XSTK nhằm đến ba cấp độ:
Cấp độ đầu tiên: Hiểu tác động của sự biến đổi thông tin, biết phân tích
18


nó một cách chính xác, thận trọng.
Cấp độ thứ hai: biết so sánh các dãy dữ liệu. Đây là một trong những
vấn đề cơ bản của XSTK mô tả, có thể thực hiện theo cách thức sau: So sánh
(định tính) dựa trên các biểu đồ XSTK. So sánh dựa vào các chỉ số tóm tắt
m u dữ liệu, ví dụn hư các chỉ số định tâm (trung bình, trung vị, mốt), các chỉ
số định độ phân tán (phương sai m u, độ lệch chuẩn m u)...So sánh (định
lượng) dự trên chỉ số tương quan giữa hai m u số liệu.
Cấp độ thứ ba: Chuyển vào XSTK suy diễn. Đây là nơi của sự mô hình
hóa, mở rộng thong tin nhận được cho một trong một phạm vi rộng lớn hơn.

nghiệp vì vậy họ xác định được mục đích và nhiệm vụ học tập. (D n theo
Trần Thị Hoàng Yên (2011) [16, tr 20])
Một đặc điểm của SV là thích khám phá, tìm tòi cái mới, thích học hỏi,
trau rồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để
khẳng định mình. Hơn nữa, ở SV đã hình thành động cơ đối với nghề nghiệp
đó là động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sang tạo khi thực sự yêu
thích và đam mê với nghề mà họ lựa chọn. Như vậy đặc điểm chung của SV
và cũng là thế mạnh của lưa tuổi này là: tự ý thức cao, có tình cảm nghề
nghiệp, có năng lực, có nhu cầu, có nhiều ước mơ, thích trải nghiệm, dám đối
mặt với thách thức.
Hoạt động chính của SV là học tập, chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ
năng.
Hoạt động học tập của SV diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích,
nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp đào tạo theo thời gian
một cách chặt chẽ nhưng đồng thời không quá bị khép kín, quá câu nệ mà lại
có tính chất mở rộng khả năng theo năng lực, sở trường để họ có thể phát huy
được tối đa năng lực nhận thức của mình trong nhiều lĩnh vực.
Điều quan trọng nhất của SV là tìm ra phương pháp học tập mới ở bậc
ĐH. Phương pháp đó phải phù hợp với những chuyên ngành khoa học mà họ
đang theo đuổi. Không tìm được cách học khoa học, SV không thể đạt được
20


kết quả học tập tốt vì khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo họ phải lĩnh hội
trong những năm ở trường ĐH là rất lớn, rất đa dạng.
* Ngoài đặc điểm chung nói trên, SV chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật còn
có đặc điểm riêng phù hợp với đặc điểm ngành học, SV kinh tế có thái độ năng
động, đánh giá cẩn thận trước các sự kiện thực tiễn... SV kỹ thuật có óc sáng
tạo, thíc khám phá, mày mò, tìm hiểu, đồng thời năng động, thích tiếp cận
những kỹ thuật mới.

%

a. Rất quan trọng

20/27

74,07%

b. Quan trọng

5/27

18,51%

c. Bình thường

2/27

7,40%

d. Không quan trọng

0/27

0%

a. Rất nhiều

9/27


74,07%

c. Trung bình

2/27

7,40%

d. Ít

0/27

0%

a. Thường xuyên

20/27

74,07%

b. Khá thường xuyên

6/27

22,22%

Câu hỏi
Câu 1. Môn XS-TK có quan trọng trong việc đào tạo sinh viên
hay không?


55,55%

b. Thời lượng môn học

10/27

37,03%

c. Hạn chế của GV

1/27

3,70%

d. Kết hợp 3 yếu tố trên

1/27

3,70%

Câu 5. Những khó khăn của GV khi dạy môn XS-TK theo
hướng vận dụng vào thực tiễn cho SV:

Nhận xét chung
(i) Về xác định vị trí môn học: Đa số các GV khi được khảo sát đều xác
định môn XSTK là phần toán ứng dụng thuộc khối kiến thức cơ sở ngành
nhưng lại có ứng dụng thực tiễn rất cao, được đưa vào giảng dạy ở kỳ II năm
thứ nhất của chương trình học. Lúc này SV chưa có nhiều kiến thức chuyên
ngành, chưa có nhiều kiến thức xã hội, kiến thức công nghệ thông tin...Cái mà
SV có được chính là công thức mà GV đưa ra chứ không phải sự tự tìm thấy.

họ phải truyền đạt hết nội dung chương trình cho SV. PP dạy và học hiện nay
chủ yếu chạy theo chương trình, đối phó với các kỳ thi.
Một số GV có sự đổi mới về PP giảng dạy trong giảng dạy XSTK hiện
nay chỉ mang tính hình thức. Thiết bị giảng dạy như: máy chiếu, video ... chỉ
là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy nhưng quan trọng hơn
cả là việc ý thức được giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm
thể hiện qua việc cải tiến về PP và chương trình học thì v n chưa được chú
trọng.
(iv)Về khó khăn của GV khi dạy môn XSTK theo hướng vận dụng vào
thực tiễn cho SV:
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã sử dụng PP phỏng vấn trực tiếp để
tìm hiểu khó khăn của GV trong vấn đề dạy XS-TK theo hướng vận dụng vào
TT cho SV thì thấy: Hầu hết các GV đều khảng định dạy học theo hướng tích
cực, phát huy được tính sáng tạo, khả năng NCKH và khả năng vận dụngTT
24


của SV là rất cần thiết. Nhưng do thời lượng môn học, khả năng nhận thức
của SV, sự thiếu tri thức TT, thông tin liên quan đến ngành nghề mà SV đang
theo học nên việc thường xuyên liên hệ bài học với TT là một vấn đề còn khó
khăn. GV chưa phát hiện và sửa chữa được nhiềusai lầm của SV khi vận dụng
XS-TK vào TT .
b. Phiếu điều tra đối với sinh viên
Phiếu điều tra đối với giảng viên bản tiếng Lào xin xem PHỤ LỤC 2.
Bản dịch sang tiếng Việt như sau:
Để tìm hiểu về khả năng nắm, hiểu và khả năng vận dụng kiến thức của
sinh viên, chúng tôi lập và sử dụng phiếu điều tra từ 171 SV khoa Toán tại
trường Đại học Savanhnakhet.
Kết quả như sau:
Loại câu hỏi điều tra

Khả năng khắc phục sai lầm trong vận dụng XSTK
và TT

23/171 13,45%

12/171

7,01%

15/171

8,77%

Ngoài ra, để khảo sát khả năng hiểu biết xác suất và sự vận dụng kiến
thức vào tình huống TT đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 120 SV của khối lớp
năm thứ hai sau khi học xong môn XSTK tại Đại học Savanhnakhet (Lào).
Các câu hỏi cụ thể như sau:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status