DẠY HỌC XÁC SUẤT THỐNG KÊ THEO HƯỚNG VẬN DỤNG VÀO NGHIỆP VỤ Y TẾ CHO SINH VIÊN NGÀNH Y – DƯỢC - Pdf 41

Header Page 1 of 123.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THANH TÙNG

DẠY HỌC XÁC SUẤT THỐNG KÊ
THEO HƢỚNG VẬN DỤNG VÀO NGHIỆP VỤ Y TẾ
CHO SINH VIÊN NGÀNH Y – DƢỢC
Chuyên ngành: LL và PPDH môn Toán
Mã số: 62 14 01 11

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2016

Footer Page 1 of 123.


Header Page 2 of 123.

Công trình đƣợc hoàn thành tại: Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội

Người hướng dẫn Khoa học: 1. TS. Trần Luận
2. PGS.TS. Cao Thị Hà

Phản biện 1: GS.TS Đào Tam
Trường Đại học Vinh
Phản biện 2: PGS.TS Đỗ Tiến Đạt
Viện Khoa học giáo dục Việt Nam

Hội thảo Khoa học: Phát triển năng lực nghề nghiệp Giáo viên Toán
Phổ thông Việt Nam, NXB ĐHSP, tr.221-227.
5. Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Dạy học Thống kê cho SV Y – Dược”,
Chương trình và Tóm tắt báo cáo Hội thảo toàn quốc XSTK: Nghiên
cứu, ứng dụng và giảng dạy, tại Thành phố Đà Nẵng từ ngày 23 đến
25/5/2015.
6. Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Đổi mới dạy học XSTK theo hướng tích
hợp để nâng cao năng lực NCKH cho SV Y – Dược”, Tạp chí Khoa học
Đại học Sài gòn, số 30, tháng 7/2015, tr.74-77.
7. Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Khai thác số liệu thực tế thuộc lĩnh vực y học
nhằm kích thích hứng thú cho SV chuyên ngành Y – Dược trong dạy học
XSTK”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 119, tháng 8/2015.
8. Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Dạy học XSTK cho SV ngành Y – Dược
theo hướng phân hóa phù hợp từng chuyên ngành”, Tạp chí Giáo dục,
số 365, tháng 9/2015, tr.43-45.
9. Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Bồi dưỡng cho SV trường Đại học Y –
Dược năng lực suy luận thống kê để diễn giải việc đọc số liệu và dự
đoán thống kê về các vấn đề y học”, Tạp chí giáo dục, số đặc biệt,
tháng 10/2015, tr.127-130.
10. Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Dạy học tích hợp với các môn Thống kê
Y học, Tin học và Nghiên cứu khoa học trong các Trường Đại học Y –
Dược”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Số 8A,
Vol.60, tr.187-192.
Footer Page 3 of 123.


Header Page 4 of 123.

BÁO CÁO KHOA HỌC


cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để mọi người tự học, tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu
trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã
hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học (NCKH). Đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
1.2. Những khó khăn trong NCKH của cán bộ y tế và sinh viên (SV) Y-Dược
Thuận lợi đối với các y bác sĩ là nguồn cơ sở dữ liệu, số liệu nhưng
họ lại không biết vận dụng Xác suất Thống kê (XSTK) vào đề tài nghiên
cứu của mình.
Đối với SV thì ngược lại, họ được trang bị kiến thức XSTK ngay từ
khi vào trường, thế nhưng việc lấy số liệu thực tế trong y học rất khó khăn,
phải khám và chữa bệnh mới có số liệu để NCKH.
1.3. Vai trò của XSTK đối với lĩnh vực Y học
* Vai trò của XSTK đối với cán bộ y tế
XSTK giúp cho việc chẩn đoán bệnh: Một bệnh nhân khi đến khám
bệnh, họ sẽ được Bác sĩ hỏi một số điều về tình trạng bệnh tật của bệnh
nhân, nếu chưa đủ cơ sở chẩn đoán bệnh, họ sẽ yêu cầu xét nghiệm thêm để
hỗ trợ cho việc chẩn đoán. Từ kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, các kết
quả xét nghiệm (dữ liệu), các dữ kiện y học kết hợp với các phương pháp
XSTK sẽ là cơ sở để họ đưa ra chẩn đoán đúng và chọn phương pháp điều
trị thích hợp cho bệnh nhân.
Việc khám chữa bệnh, đòi hỏi cán bộ y tế phải ghi chép lại, rút kinh
nghiệm cho các lần chẩn đoán bệnh, khám bệnh và chữa trị bệnh sau này.
Họ cần phải coi trọng Thống kê và NCKH. Nếu một y bác sĩ chỉ chú trọng
đến khám chữa bệnh thì họ chỉ là một người thợ có tay nghề, nếu đúng
nghĩa là y bác sĩ thì họ cần phải làm và biết NCKH, và có như thế người y
bác sĩ mới được gọi là thầy thuốc.
* Vai trò của Thống kê đối với nghiên cứu Y học
Ngoài việc khám và chữa bệnh, nhân viên y tế cần phải biết XSTK để
làm NCKH và ứng dụng các NCKH đối với công việc của mình.

NCKH cũng như vào nghiệp vụ y tế của mình trong khi học tập và sau khi ra
trường. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để SV chuyên ngành Y tế thích học môn
XSTK và thấy rõ vai trò quan trọng của XSTK trong Y học? Phải đổi mới
phương pháp dạy và học XSTK Y học như thế nào cho phù hợp, đúng đắn và
hiệu quả? Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Dạy học XSTK theo
hướng vận dụng vào nghiệp vụ Y tế cho SV ngành Y – Dược.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về dạy học XSTK cho SV chuyên
ngành Y – Dược
Chương trình LOE cho việc học thống kê ở trường Y, do GS.TS
Muriel NEY, Viện nghiên cứu LIG, Trung tâm NCKH Quốc gia và TS.
Marie – Caroline Croset, Viện Đào tạo Giáo viên và Viện Nghiên cứu
LIG, Đại học Grenoble biên soạn: Ở Grenoble từ năm 2009, một hoạt động
giả lập trên mạng để tạo động cơ và lôi cuốn SV. SV được trải nghiệm thế
Footer Page 6 of 123.


Header Page 7 of 123.

3

giới sức khỏe cộng đồng. SV sẽ học cách phê phán những bài báo khoa học
bằng cách tự mình thực hiện điều tra và viết bài. Họ sử dụng các dữ liệu
thực (điều tra trên đối tượng SV hoặc công chúng), tuy nhiên không phải
về y học và với số lượng ít.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học XSTK cho SV chuyên
ngành Y – Dược
Năm 1980, GS Nguyễn Xuân Lộc lập nhóm Ứng dụng Thống kê của
Viện Tính toán Điều khiển kết hợp với Bệnh viện Việt - Đức nghiên cứu
về Chất độc màu da cam.

Header Page 8 of 123.

4

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
* Tổng quan một số vấn đề có liên quan đến đề tài.
* Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc vận dụng XSTK vào hoạt động
nghiệp vụ trong lĩnh vực y tế.
* Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình và giáo trình XSTK
trong một số Trường Đại học Y – Dược.
* Tìm hiểu thực trạng dạy học XSTK cho SV khối ngành Y tế với
việc tăng cường vận dụng vào TT nghề nghiệp.
* Đề xuất một số biện pháp dạy học XSTK cho SV ngành Y tế ở
trường đại học Y – Dược theo định hướng tăng cường vận dụng Toán học
vào TT y học.
* Thực hiện thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và
hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là nghiên cứu việc dạy học một số
chương của môn XSTK mà chủ yếu là Thống kê cho SV ngành Y tế ở trường
Đại học Y – Dược theo hướng tăng cường vận dụng vào nghiệp vụ y tế.
6. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn XSTK ở trường Đại học Y – Dược.
6.2. Đối tượng nghiên cứu
Dạy học môn XSTK ở trường Đại học Y – Dược theo hướng tăng
cường vận dụng vào nghiệp vụ y tế.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp dạy học XSTK cho SV ngành Y –
Dược theo định hướng tăng cường vận dụng vào nghiệp vụ y tế và sử dụng

NCKH trong dạy học ở Trường Đại học Y - Dược.
- Thiết kế hệ thống các bài tập phân hóa cho phù hợp với các chuyên
ngành trong Trường Đại học Y – Dược.
10.2. Về mặt thực tiễn
- Hệ thống các ví dụ và bài tập theo hướng phân hóa phù hợp với các
đối tượng SV theo các chuyên ngành khác nhau ở Trường Đại học Y Dược.
- Xây dựng lại nội dung hai chương “Mẫu và các đặc trưng mẫu” và
“Tương quan - Hồi quy” của giáo trình XSTK của Trường Đại học Kỹ
thuật Y – Dược Đà Nẵng theo hướng tăng cường vận dụng vào nghiệp vụ
y tế.
- Đề xuất các biện pháp tác động vào quá trình dạy học các chương Lí
thuyết mẫu, Ước lượng tham số Thống kê, Kiểm định giả thuyết Thống kê,
Tương quan và Hồi quy cho SV ngành Y tế ở trường Đại học Y – Dược.

Footer Page 9 of 123.


Header Page 10 of 123.

6

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Sơ lƣợc về XSTK
1.2. Khái quát về vai trò của XSTK đối với lĩnh vực Y học
1.3. Vấn đề vận dụng XSTK vào thực tiẽn y học
1.3.1. Một số khái niệm cơ bản
* Vận dụng, ứng dụng, áp dụng
* Thực tiễn, thực tế?
* Tình huống thực tiễn

Header Page 11 of 123.

7

người học, trong đó năng lực vận dụng giải quyết các bài toán TT trong y
học phải được xem trọng trong chương trình.
- Đổi mới thi cử, tăng cường tỉ trọng toán ứng dụng, phần thực hành
trong đánh giá, kiểm tra SV.
- Xây dựng khung đánh giá năng lực vận dụng XSTK vào TT y học
trong đánh giá SV.
1.4. Thực trạng Dạy học XSTK ở Trƣờng Đại học Y – Dƣợc
1.4.1. Giới thiệu một số chuyên ngành Y học ở Trường Đại học Y – Dược
1.4.2. Thực trạng Dạy học XSTK cho SV chuyên ngành Y – Dược ở Việt Nam
Việc dạy học XSTK ở Việt Nam dường như đang bị coi nhẹ. Thực tế
cho thấy nhiều giảng viên (GV) còn lúng túng trong thực hành giảng dạy,
thậm chí có những quan niệm sai lầm về mục đích dạy học XSTK. Các
kiến thức về XSTK được giảng dạy hoàn toàn tách rời và ít vận dụng vào
nghiệp vụ y tế.
1.4.3. Thực trạng việc giảng dạy XSTK ở các trường đào tạo cán bộ y tế
với việc tăng cường vận dụng Toán học vào TT nghề nghiệp.
1.4.3.1. Khảo sát một số giáo trình XSTK tại một số trường Đại học Y – Dược
Một số giáo trình tại các Trường Đại học Y – Dược đã đưa một số nội
dung về y tế nhưng không nhiều, vẫn còn nhiều nội dung không gắn với
nghề nghiệp, một số nội dung thuần túy về lĩnh vực toán. Các nội dung liên
quan đến ngành nghề thì có tính chắp vá và không đi theo một chuyên
ngành nào.
1.4.3.2. Thực trạng việc dạy học XSTK ở một số trường Đại học Y – Dược
1. Mục tiêu khảo sát
Khảo sát thực trạng để làm cơ sở đề xuất các biện pháp dạy học
XSTK theo hướng tăng cường vào nghiệp vụ y tế cho SV Y – Dược.

Giáo trình XSTK theo chuyên ngành Y – Dược chưa có (42%).
b. Đối với các y bác sĩ, dược sĩ: Các cán bộ y tế đều có chung nhận
xét rằng: môn Thống kê rất quan trọng đối với việc NCKH (53%). Tuy có
thuận lợi về kinh nghiệm (44%), có nguồn dữ liệu từ việc khám chữa bệnh
(56%) và có thực tế (32%) nhưng các y bác sĩ ít làm NCKH và nếu có làm
thì chất lượng còn yếu kém. Nguyên nhân do họ không nắm vững kiến
thức Thống kê và chỉ sử dụng kiến thức Thống kê sơ sài, đơn giản (54%);
thiếu hiểu biết NCKH (66%) và không biết sử dụng phần mềm Thống kê
SPSS (22%).
c. Nhận xét kết quả điều tra dành cho SV
Qua điều tra, chúng tôi nhận được: 82% SV cho rằng XSTK là môn
học khó, trừu tượng, chỉ có 26% SV thích học môn này. Các em không xác
định được hướng giải bài tập hoặc làm sai ngay từ đầu, hiểu sai bản chất.
Một số SV có ý thức học tốt thì cũng chỉ tập trung vào áp dụng lý thuyết,
công thức đã học để tính toán, giải một số bài toán trong giáo trình. Việc
vận dụng kiến thức XSTK vào các tình huống nghiệp vụ y học còn nhiều
hạn chế. Khi được hỏi: Có nên tăng cường ứng dụng vào nghiệp vụ y tế
đối với môn XSTK không? thì có đến 95% SV trả lời là nên và đồng tình
ủng hộ.

Footer Page 12 of 123.


Header Page 13 of 123.

9

CHƢƠNG 2
BIỆN PHÁP DẠY HỌC XÁC SUẤT THỐNG KÊ
THEO HƢỚNG VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀO THỰC TIỄN

SV thông qua việc khai thác số liệu thực tế trong y học, đồng thời hướng
dẫn SV biết xử lý số liệu và diễn giảng các kết quả sau khi đã xử lý số liệu.
- Ý nghĩa của biện pháp là làm cho SV thấy được việc học XSTK
thực sự là để phục vụ cho nghiệp vụ của mình sau này.
Footer Page 13 of 123.


Header Page 14 of 123.

10

2.2.1.3. Nội dung và kỹ thuật thực hiện biện pháp
a. Kỹ thuật 1: Sử dụng những công cụ khám sức khỏe có thật từ thực tế

Dụng cụ đo mắt

Dụng cụ đo thể lực

Dụng cụ đo thể lực

Dụng cụ đo huyết áp

Thuốc viên bổ sung vitamin tổng hợp
Multivitamin

Thuốc men tiêu hóa sống
Biosubtyl - II

Footer Page 14 of 123.


GV phải phân công, chia nhóm, chia tổ, giao công việc hợp lý. Đảm
bảo em nào cũng làm việc. Đảm bảo đúng thời gian và tiến độ.
Việc lấy số liệu phải chính xác và khoa học, SV ghi chép cẩn thận.
2.2.2. Biện pháp 2: Tích hợp ba môn XSTK, Tin học ứng dụng (SPSS) và
NCKH thành một môn TKNCYH để giúp SV có kết quả đầu ra là năng lực
thực hiện Khóa luận hoặc công trình NCKH sau khi ra trường.
2.2.2.1. Cơ sở khoa học của biện pháp
Ở Việt Nam, thực tế tích hợp trong dạy học đã xuất hiện từ rất lâu,
chỉ có điều trước kia không dùng thuật ngữ “tích hợp” và chưa được hiểu
một cách thấu đáo, chỉ dừng lại ở chỗ coi tích hợp là sự liên hệ, lồng ghép.
Footer Page 15 of 123.


Header Page 16 of 123.

12

Với các quan điểm tích hợp của Forgaty (1991), của Xavier Rogier,
của Susan M.Drake, Tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và đào tạo về tích
hợp đã đề cập 3 mức độ tích hợp: Tích hợp trong nội bộ môn học; Tích
hợp đa môn; Tích hợp liên môn.
2.2.2.2. Mục đích, Ý nghĩa của biện pháp
Mục đích của biện pháp: Biện pháp này nhằm rèn luyện năng lực tiến
hành các NCKH và thực hiện khóa luận.
Ý nghĩa của biện pháp: Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách
gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ
thể mà SV sẽ gặp sau này. Tập dượt cho SV vận dụng các kiến thức kĩ
năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho công việc.
2.2.2.3. Nội dung và kỹ thuật thực hiện biện pháp
Vận dụng dạy học tích hợp đối với chuyên ngành Y – Dược

d. Phối hợp ba kỹ thuật trên
2.2.2.4. Các chú ý khi thực hiện biện pháp
Khó khăn khi thực hiện DH tích hợp ba môn này: vì đây là một quan
điểm mới đối với nhà trường, GV và phương diện quản lí. Các chuyên gia,
các GV phụ trách ba môn học trên rất khó để chuyển đổi từ chuyên môn
sang lĩnh vực mới trong đó cần sự kết hợp với chuyên ngành khác. Đào tạo
lại GV phải nắm vững ba môn học là vấn đề khó. GV phải lựa chọn phương
pháp DH phù hợp, linh hoạt với mỗi chủ đề tích hợp. Các phương pháp
thường được sử dụng đó là phương pháp DH theo dự án, phương pháp trực
quan, phương pháp thực địa, phương pháp DH nêu và giải quyết vấn đề.
2.2.3. Biện pháp 3: Rèn luyện kỹ năng giải một số dạng toán XSTK
thường gặp trong NCKH và hoạt động nghiệp vụ cho SV ngành y tế, phù
hợp theo từng chuyên ngành.
2.2.3.1. Cơ sở khoa học của biện pháp
Để SV có thể tiến hành tốt các NCKH và hoạt động nghiệp vụ y tế,
cần phải rèn luyện cho họ kỹ năng giải một số dạng Toán XSTK thường
gặp trong các lĩnh vực này, với nội dung càng gần với TT hoạt động của
họ càng tốt.
Theo Thái Duy Tuyên: “Kiến thức trong các bài tập không nằm dưới
dạng những khái niệm, định luật và lý thuyết chung chung, mà thường tồn
tại trong những điều kiện nhất định nào đó, phản ánh những trạng thái nhất
định của lí thuyết và TT. Trong trường hợp này, kiến thức không còn là
một cái gì trừu tượng, mà đã được cụ thể hóa trong điều kiện nhất định làm
chỗ dựa cho trí nhớ.”
2.2.3.2. Mục đích, Ý nghĩa của biện pháp
- Mục đích của biện pháp là rèn luyện kỹ năng giải một số dạng toán
có nội dung gắn với chuyên môn nghiệp vụ y tế, thường có trong NCYH
và hoạt động nghiệp vụ.
- Ý nghĩa của biện pháp là: Kỹ năng giải các dạng toán này là cơ sở
quan trọng để tiến hành các NCYH và hoạt động nghiệp vụ sau này của

vực y tế;
- Thường xuyên tìm tòi, sưu tầm, sáng tác các ví dụ phù hợp với các
chuyên ngành khác nhau;
- Nên viết riêng Giáo trình cho mỗi chuyên ngành, chẳng hạn Giáo
trình XSTK cho chuyên ngành Dược, Giáo trình XSTK cho chuyên ngành
Xét nghiệm, Giáo trình XSTK cho chuyên ngành Nha, Giáo trình XSTK
cho chuyên ngành Bác sĩ Đa khoa, Giáo trình XSTK cho chuyên ngành Hộ
sinh… chứ không nên dùng Giáo trình XSTK chung như hiện nay.
2.2.4. Biện pháp 4: Thiết kế hệ thống bài tập lớn theo hướng vận dụng
XSTK trong NCKH và hoạt động nghiệp vụ cho SV ngành y tế.
2.2.4.1. Cơ sở khoa học của biện pháp
Quá trình dạy học ở Đại học, về bản chất là quá trình nhận thức có tính
chất nghiên cứu của SV được thực hiện dưới vai trò chủ đạo của GV, nên
phương pháp dạy học ở Đại học phải xích gần với phương pháp nghiên cứu
khoa học.
2.2.4.2. Mục đích, Ý nghĩa của biện pháp
Mục đích là đào tạo SV biết đem kiến thức ra để phục vụ cho cộng
đồng ngay sau khi rời ghế nhà trường. Đối với môn học Thống kê, ngoài việc
trang bị những kiến thức và kĩ năng cơ bản, GV cần phải giúp cho các em
biết NCKH để phục vụ tốt công tác chăm sóc sức khỏe con người sau này.
Footer Page 18 of 123.


Header Page 19 of 123.

15

2.2.4.3. Nội dung và kỹ thuật thực hiện biện pháp
a. Kỹ thuật 1: Giao Bài tập lớn cho SV.
b. Kỹ thuật 2: Tìm Bài tập lớn từ các tạp chí, luận án, luận vănY học.

nghiệp vụ y tế.
2.2.5.1. Cơ sở khoa học của biện pháp
Theo Nguyễn Bá Kim, mục tiêu bao trùm của các hoạt động ngoại
khóa là nhằm hỗ trợ việc dạy học nội khóa. Sự hỗ trợ này thể hiện ở các
mặt sau đây: Gây hứng thú cho quá trình học tập môn Toán. Bổ sung, đào
Footer Page 19 of 123.


Header Page 20 of 123.

16

sâu và mở rộng kiến thức nội khóa. Tạo điều kiện gắn liền nhà trường với
đời sống, lý luận liên hệ với TT, học đi đôi với hành. Rèn luyện cách thức
làm việc tập thể. Tạo điều kiện phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu.
2.2.5.2. Mục đích, Ý nghĩa của biện pháp
Điều quan trọng nhất mà mỗi SV học được từ những buổi sinh hoạt
ngoại khóa chính là kiến thức về xã hội và sự cảm thông, nhạy bén với
những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Chính từ những hoạt động
phong phú này, SV có cơ hội hoàn thiện nền tảng kiến thức vững chắc,
nâng cao tính sáng tạo, sự tự tin cũng như kĩ năng giải quyết vần đề, và
nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm đối với xã hội.
2.2.5.3. Nội dung và kỹ thuật thực hiện biện pháp
a. Kỹ thuật 1: Tổ chức trò chơi về khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe.
b. Kỹ thuật 2: Tổ chức cho SV đi dã ngoại, tham quan, Tổ chức buổi dạ hội.
c. Kỹ thuật 3: Tham gia các hoạt động từ thiện.
d. Kỹ thuật 4: Thành lập các Câu lạc bộ Nghiên cứu Y học.
2.2.5.4. Các chú ý khi thực hành biện pháp
Việc ngoại khoá được thực hiện vào các ngày nghĩ, các dịp nghĩ lễ,
hưởng ứng các phong trào... vừa giúp SV vui chơi, giải trí, vừa làm các

ngành hoặc Trưởng Khoa, Bộ môn chuyên ngành (Khoa Y, Khoa Điều
dưỡng, Khoa Sản, Khoa Xét nghiệm, Khoa Nha, Khoa Dược, Khoa Y tế công
cộng, Khoa Gây mê hồi sức, Khoa Vật lí Trị liệu, Khoa Hình ảnh Y học,...)
- Viết lại Giáo trình TKNCYH chuyên ngành.
- Xây dựng Phòng Thực hành Thống kê Nghiên cứu Y học.
d. Kỹ thuật 4: Góp phần hoàn thiện mục tiêu, nội dung chương trình môn
học XSTK theo hướng tăng cường ứng dụng TT và biên soạn lại giáo trình
XSTK y học theo hướng tích hợp
2.2.6.4. Các chú ý khi thực hành biện pháp
- Để vận động có hiệu quả cần phải có những kết quả thực nghiệm
đáng tin cậy và có tính thuyết phục.
- Trong quá trình thực nghiệm sư phạm cần tham khảo ý kiến của các
chuyên gia, đồng nghiệp, các y bác sĩ...

Footer Page 21 of 123.


Header Page 22 of 123.

18

CHƢƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức, nội dung thực nghiệm
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
- Thực nghiệm sư phạm được thực hiện nhằm kiểm nghiệm tính đúng
đắn của giả thuyết khoa học đã nêu ra trong luận án. Cụ thể:
+ Thực nghiệm vòng 1: Thực hiện một số nội dung trong các biện
pháp 1, 2, 3, 4 và kiểm nghiệm sự phù hợp của mỗi biện pháp.
+ Thực nghiệm vòng 2: Rút kinh nghiệm từ Thực nghiệm vòng 1. Thực

Footer Page 22 of 123.


Header Page 23 of 123.

19

3.1.5. Nội dung thực nghiệm
Trong quá trình thực hiện đề tài tại trường Đại học Kỹ thuật Y –
Dược Đà Nẵng, chúng tôi đã thuyết phục đồng nghiệp cùng đưa thực hành
vào chương trình giảng dạy. Trong các giờ bài tập, chúng tôi đã đưa ra các
bài tập lớn và giao cho SV về nhà thực hiện. Ngoài ra, chúng tôi tiến hành
dạy thực nghiệm tại trường Đại học Y – Dược Huế, Đại học Y – Dược
Thành phố Hồ Chí Minh với 2 chương: Chương I: Mẫu và các đặc trưng
của mẫu; Chương V: Tương quan và hồi quy (Chương đầu và chương cuối
của môn Thống kê).
Giáo án thực nghiệm được tổng hợp từ các giáo trình XSTK của các
trường Đại học Dược Hà Nội, Đại học Y - Dược Thành phố Hồ Chí Minh,
Đại học Y - Dược Huế, Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng và các Giáo
trình XSTK của các trường Đại học khác, kể cả các giáo trình Thống kê của
trường Đại học Y tế công cộng. Đối với các lớp thực nghiệm, chúng tôi dạy
theo giáo án tự biên soạn, còn các lớp đối chứng thì dạy theo giáo trình đang
sử dụng tại các trường mà chúng tôi đi thực nghiệm.
Trong thực nghiệm, chúng tôi tiến hành hai công việc chính sau:
- Tiến hành dạy thực nghiệm biện pháp 1, 2, 3 và 4 đã nêu ở chương
2 của luận án.
Khảo sát và điều tra về quan điểm và nhận thức của SV trong quá
trình học môn XSTK. Sau thực nghiệm, đánh giá hiệu quả tiếp cận tri thức
lý thuyết môn học; đánh giá khả năng của SV trong vận dụng kiến thức
môn XSTK vào nghiệp vụ Y tế, qua đối chiếu kết quả hai nhóm thực

Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng.
3.2.2. Quy trình, cách thức triển khai nội dung thực nghiệm
3.2.2.1. Quy trình thực nghiệm
- Chọn mốc thời gian thích hợp để chuẩn bị dạy các lớp thực nghiệm
phù hợp với tiến độ giảng dạy ở các trường, đảm bảo GV dạy thực nghiệm
và đối chứng tiến hành đúng tiến độ chương trình.
- Chọn các lớp thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về số
lượng và trình độ.
- Hướng dẫn và giải thích mục đích, nội dung, cách thức tiến hành và
phương pháp thực nghiệm cho các GV dạy các lớp thực nghiệm và đối chứng.
3.2.2.2. Các hình thức triển khai nội dung thực nghiệm
+ Tích hợp trong quá trình DH
Việc tích hợp trong quá trình dạy học được tiến hành với tất cả 5
biện pháp:
Trong biện pháp 1, chúng tôi đã cho SV mang theo các vật dụng y tế
để có thể lấy số liệu, giúp cho việc minh họa bài học qua các ví dụ, bài tập
XSTK có nội dung, có những thuật ngữ liên quan đến Y học cho SV nhằm
gợi động cơ, tạo hứng thú cho các em. Đối với biện pháp này, thì sau các
ví dụ và bài tập, bao giờ chúng tôi cũng diễn giảng cho SV những kết quả
có được từ bài toán Thống kê. Các em đọc được các kết quả từ việc tính
toán, và nhất là SV có thể dự đoán được các bệnh tật và mức phát triển của
bệnh và tình trạng sức khỏe của người bệnh và tiên liệu cách chăm sóc
bệnh nhân trong khám và chữa bệnh sau này.
Trong quá trình dạy thực nghiệm, chúng tôi đã đưa vào Giáo án các
bài tập lớn, các hướng để SV có thể thực hiện các NCKH, và nhất là chúng
tôi đưa vào hướng dẫn thực hành SPSS nếu có thời gian, còn không thì
chúng tôi cho SV đọc thêm ở nhà. Qua đó, việc tích hợp 3 môn Thống kê,
Tin học ứng dụng và NCKH trong biện pháp 2 được thực hiện.
Đối với biện pháp 3, bước đầu, chúng tôi đã dạy thực nghiệm cho SV
Khoa Dược, nên trong Giáo án bài học, chúng tôi đã đưa ra toàn bộ các ví

(Thực nghiệm sư phạm vòng 1)
Điểm xi

Số SV 0 1 2 3

Thực nghiệm
Đối chứng

78
97

4

5

6 7 8

9 10

x

0 0 0 3 3 6 13 2 14 14 22 7,71 4,2407
0 0 0 3 15 13 10 4 10 11 30 7,23 5,7808

35
30
25
20

THỰC NGHIỆM


s2



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status