HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
--------------------
ĐÀO THỊ HOA SEN
HOµN THIÖN PH¸P LUËT
VÒ KIÓM TRA SAU TH¤NG QUAN ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 62 38 01 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Hồng Hạnh
Phản biện 1: .............................................................................
.............................................................................
Phản biện 2: .............................................................................
..............................................................................
Phản biện 3: .............................................................................
.............................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi ..... giờ ... ngày ... tháng ... năm ....
Tuy nhiên, pháp luật về KTSTQ cũng đang thể hiện nhiều hạn chế cần
được hoàn thiện nhằm đảm bảo môi trường pháp lý cho Hải quan Việt
Nam tổ chức và triển khai hoạt động KTSTQ. Bên cạnh đó, việc nghiên
cứu lý luận pháp luật về KTSTQ còn nhiều hạn chế. Ở phạm vi nghiên
cứu khoa học luật, khái niệm KTSTQ cũng như pháp luật về KTSTQ còn
là vấn đề mới, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu nên chưa hình thành
được hệ thống tư duy đầy đủ, vững chắc của pháp luật về KTSTQ.
2
Những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách có hệ
thống, chuyên sâu về cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về KTSTQ
trong điều kiện xây dựng hải quan hiện đại là một đòi hỏi bức thiết.
Với lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về
kiểm tra sau thông quan ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án: trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận
về hoàn thiện pháp luật về KTSTQ, đánh giá đúng thực trạng pháp luật và
mức độ hoàn thiện pháp luật về KTSTQ ở Việt Nam, góp phần hình thành
những tri thức lý luận cũng như những luận cứ khoa học để đề xuất quan
điểm và giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về KTSTQ ở Việt Nam.
Nhiệm vụ của luận án:
- Thứ nhất: Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp
luật và hoàn thiện pháp luật về KTSTQ, tìm hiểu KTSTQ theo chuẩn
mực quốc tế và một số nước trên thế giới. Thực hiện nhiệm vụ này, luận
án góp phần xây dựng hệ thống tư duy lý luận đầy đủ, vững chắc về pháp
luật KTSTQ.
- Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về KTSTQ ở
Việt Nam, tìm ra những hạn chế, bất cập cần hoàn thiện và chỉ ra những
nguyên nhân của hạn chế đó.
luận án xác định tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và các yếu tố ảnh
hưởng đến hoàn thiện pháp luật về KTSTQ, có ý nghĩa tham khảo và ứng
dụng đối với các cơ quan lập pháp và hành pháp Việt Nam.
Ba là: Qua nghiên cứu pháp luật về KTSTQ theo chuẩn mực quốc
tế và của các quốc gia trên thế giới, luận án đã góp phần làm sâu sắc
thêm kinh nghiệm xây dựng và thực tiễn điều chỉnh pháp luật về KTSTQ
và rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng trong thực tiễn xây dựng và
hoàn hiện pháp luật KTSTQ ở Việt Nam.
Bốn là: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển và những
nội dung của pháp luật hiện hành về KTSTQ, luận án đã phân tích, làm
rõ những thành tựu của pháp luật về KTSTQ cũng như và hạn chế, bất
cập đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó.
Năm là: Qua nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật về KTSTQ,
luận án đề xuất 3 quan điểm và 4 nhóm giải pháp toàn diện, khoa học và
khả thi cho việc hoàn thiện pháp luật KTSTQ ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án góp phần bổ
sung tri thức lý luận của pháp luật chuyên ngành về hải quan. Luận án có
thể được dùng là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập, bồi dưỡng
4
và đào tạo tại các trường đại học, học viện chuyên ngành kinh tế - tài
chính - hải quan; tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cán bộ công chức
hải quan, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để bổ sung những kiến thức
cần thiết để thực hiện KTSTQ một cách khoa học, đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của
tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết.
hoạt động KTSTQ.
Với thể loại đề tài nghiên cứu khoa học, một số công trình liên
quan KTSTQ được thực hiện như: Mai Văn Huyên, Cơ sở lý luận, thực
tiễn, nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan;
Nguyễn Viết Hồng, Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra
sau thông quan đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ kế hoạch cải cách, phát triển
và hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2004 - 2006; Hoàng Việt Cường,
Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động
thanh toán quốc tế qua ngân hàng; Nguyễn Văn Bình, Nâng cao hiệu
quả kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại
hình gia công; Tạ Thị Mão, Xây dựng phần mềm thu thập, khai thác
thông tin phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan đem lại những góc
nhìn chuyên sâu mang tính nghiệp vụ trong một số lĩnh vực KTSTQ, có
giá trị tham khảo cao cho luận án...
Một số công trình là sách chuyên khảo, tài liệu học tập như: Phạm
Ngọc Hữu, Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan; Trường Hải quan Việt
Nam, Tài liệu đào tạo kiểm tra sau thông quan; Đoàn Ngọc Xuân, Kiểm
tra sau thông quan và một số quy định cần có tính chuẩn mực là những
công trình nghiên cứu chuyên sâu về KTSTQ, có giá trị tham khảo rất
lớn đối với tác giả luận án trong quá trình tiếp cận KTSTQ dưới góc độ
lý luận về KTSTQ đi từ đòi hỏi tất yếu của thương mại quốc tế, khái
niệm, vai trò KTSTQ; khả năng và tính tất yếu phải thể hiện các nội dung
chuẩn mực trên cơ sở một hệ thống văn bản pháp luật.
1.1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về pháp luật hải quan và
pháp luật về kiểm tra sau thông quan
Trong khoa học luật Việt Nam, số lượng các công trình nghiên
cứu về lý luận cũng như thực trạng pháp luật hải quan nói chung và
pháp luật về KTSTQ nói riêng còn hạn chế. Ở thể loại luận văn thạc sĩ
và luận án tiến sĩ, có một số công trình như Vũ Ngọc Anh, Đổi mới và
KTSTQ được các tài liệu tiếp cận là yếu tố tất yếu của hiện đại hóa hải
quan và quản lý hải quan hiện đại, có giá trị tham khảo cao trong việc
nghiên cứu xác định tính tất yếu khách quan của KTSTQ; cơ sở pháp lý
theo chuẩn mực quốc tế mà các nước thành viên trong đó có Việt Nam
nhất thiết phải nội luật hóa để hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình.
7
1.2. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt
ra cần giải quyết trong luận án
1.2.1. Nhận xét tình hình nghiên cứu
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu KTSTQ trong tiến trình cải
cách, hiện đại hóa hải quan cho thấy có giá trị tham khảo cao trong quá
trình xác định cơ sở lý luận của KTSTQ, một số vấn đề trong thực trạng
triển khai, tiến hành KTSTQ của Hải quan Việt Nam.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về pháp luật hải quan và
pháp luật về KTSTQ có giá trị tham khảo cho tác giả luận án trong việc
tiếp cận những nội dung căn bản của lý luận pháp luật về KTSTQ.
Thứ ba, phần tài liệu khoa học nước ngoài là những nghiên cứu,
hướng dẫn về KTSTQ của WCO, Hải quan ASEAN hoặc của các nước,
làm cơ sở tham khảo trong quá trình nghiên cứu lý luận về KTSTQ, đặc
biệt khi đối chiếu, so sánh với các chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm
thực hiện của hải quan các nước.
Thứ tư, nhìn chung các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án còn
một số hạn chế và còn nhiều vấn đề chưa được đề cập. Phần lớn các công
trình nghiên cứu tiếp cận KTSTQ dưới góc độ khoa học quản lý. Công
trình nghiên cứu về KTSTQ dưới góc độ khoa học pháp lý còn hạn chế về
số lượng và phạm vi nghiên cứu, chưa có đánh giá tổng thể pháp luật về
KTSTQ hiện hành và thực trạng pháp luật để chỉ ra những tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân. Đa phần các công trình đều được nghiên cứu trong điều
hóa tại thời điểm xuất nhập khẩu sang vai trò KTSTQ.
Kiểm tra sau thông quan đã được hình thành từ hàng trăm năm
trước ở các nước phát triển với việc thừa nhận quyền hạn của Hải quan
trong việc kiểm tra các chứng từ có liên quan đến hàng hóa nhập khẩu.
Đây là một công cụ hữu hiệu đối với công tác kiểm tra hải quan, bởi vì
nó đưa ra bức tranh rõ ràng và đầy đủ về các giao dịch có liên quan tới
hàng hóa xuất nhập khẩu, được phản ánh trong các sổ sách và ghi chép
của doanh nghiệp.
Từ các khái niệm liên quan, các quan niệm có tính quốc tế và theo
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể xây dựng một khái
niệm chung về KTSTQ như sau: KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ
quan hải quan được thực hiện đối với hàng hóa sau khi đã thông quan để
đảm bảo tính chính xác và trung thực của các nội dung khai báo hải quan
trong quá trình xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa đó.
2.1.1.2. Khái niệm pháp luật về kiểm tra sau thông quan
Pháp luật về KTSTQ được hình thành để điều chỉnh các quan hệ
pháp luật phát sinh trong quá trình cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra
9
đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đã được thông quan. Tổng thể các quy
phạm pháp luật đó có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất điều chỉnh các
quan hệ phát sinh trong hoạt động KTSTQ đảm bảo sự tuân thủ pháp luật
của các đối tượng tham gia vào quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa, đảm
bảo tạo điều kiện thuận lợi thương mại quốc tế và hướng đến lợi ích của
nhà nước và toàn xã hội.
Trên cơ sở lý luận về nhà nước và pháp luật, có thể đưa ra khái
niệm pháp luật về KTSTQ như sau: pháp luật về KTSTQ là hệ thống các
quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều
chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện KTSTQ đối với
hành chính; pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, tổ chức điều tra hình sự...
2.1.2.2. Pháp luật về kiểm tra sau thông quan xuất hiện muộn và
gắn với sự ra đời của pháp luật về quản lý rủi ro
Xét về logic và lịch sử, sự hình thành, phát triển của hoạt động hải
quan gắn liền với sự hình thành, phát triển của trao đổi, lưu thông hàng
hóa. Tuy nhiên, chỉ đến khi tự do hóa thương mại phát triển với sự đòi
hỏi của phát triển kinh tế và giao lưu thương mại đặt ra cho hoạt động hải
quan yêu cầu thực hiện cải cách để đáp ứng cho việc thúc đẩy luân
chuyển hàng hóa, thì KTSTQ mới ra đời. Ở các quốc gia, pháp luật về
KTSTQ mới được quy định và triển khai tại Nhật Bản năm 1968; Trung
Quốc 1994, Hàn Quốc 1996 và áp dụng tại Việt Nam từ Luật Hải quan
Việt Nam 2001, có hiệu lực từ 2002.
Sự xuất hiện của pháp luật về KTSTQ gắn liền với sự ra đời và
phát triển của khoa học về quản lý rủi ro trong hoạt động của cơ quan hải
quan. Quản lý rủi ro vì thế không chỉ được coi là xương sống của quản lý
hải quan hiện đại mà là còn là nguyên tắc tiến hành KTSTQ, gắn liền với
sự xuất hiện, tồn tại của pháp luật về KTSTQ, được pháp luật quốc tế và
pháp luật các nước quy định và tuân thủ, đảm bảo điều kiện tối đa cho
phát triển thương mại và hội nhập.
2.1.2.3. Pháp luật về kiểm tra sau thông quan dựa trên giả định
hàng hóa xuất nhập khẩu đáp ứng tiêu chuẩn thông quan
Với mục đích thẩm định tính chính xác trung thực, đánh giá tính
tuân thủ pháp luật của người khai hải quan trong quá trình thông quan
hàng hóa, đặc điểm của pháp luật về KTSTQ là dựa trên giả định hàng
hóa hàng hóa xuất nhập khẩu đáp ứng các quy định pháp luật về thông
quan hàng hóa. Chính vì vậy, mà KTSTQ còn được gọi là phương pháp
kiểm tra ngược thời gian, diễn ra sau khi thông quan để thẩm định tính
trung thực của quá trình khai báo, thực hiện pháp luật của người khai hai
quan trong thông quan hàng hóa.
nhận thức về yêu cầu tất yếu của KTSTQ trong quản lý hải quan hiện đại,
năng lực, phẩm chất của lực lượng KTSTQ là yếu tố quan trọng để đảm
bảo cho pháp luật về KTSTQ được thực hiện đúng tinh thần, bản chất
của nó, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả quản lý hải quan; các quy định
pháp lý và việc thực hiện hệ thống kế toán doanh nghiệp của quốc gia.
12
2.3. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về kiểm tra sau thông
quan và giá trị tham khảo đối với Việt Nam
2.3.1. Kiểm tra sau thông quan trong các thỏa thuận quốc tế
Luận án nghiên cứu pháp luật về KTSTQ theo chuẩn mực quốc tế
qua các quy định của WCO và Hải quan ASEAN, kinh nghiệm điều
chỉnh pháp luật về KTSTQ của các quốc gia Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn
Quốc là những quốc gia có hệ thống hải quan hiện đại và tiên tiến, có
điều kiện kinh tế xã hội tương đồng Việt Nam. Từ đó rút ra một số kinh
nghiệm quý báu cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật KTSTQ của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2.3.3. Các giá trị tham khảo cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp
luật về kiểm tra sau thông quan
Một số giá trị tham khảo được chỉ ra là: tên gọi và bản chất của
kiểm tra trên cơ sở kiểm toán; nguyên tắc lựa chọn đối tượng KTSTQ;
chuẩn mực về kiểm toán nội bộ doanh nghiệp đối với đơn vị được kiểm
tra; chuẩn mực về tiêu chuẩn của công chức hải quan thực hiện KTSTQ;
chuẩn mực về áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong KTSTQ; kinh
nghiệm về quy định công cụ hỗ trợ thực thi; kinh nghiệm về áp dụng
KTSTQ ngay cùng thời điểm thông quan; kinh nghiệm xác định trong
quy trình KTSTQ, khâu lập kế hoạch, lựa chọn đối tượng kiểm tra là
khâu quan trọng nhất đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động KTSTQ.
Chương 3
gắn với 3 giai đoạn phát triển của pháp luật hải quan: Giai đoạn thực hiện
Luật Hải quan 2001 (từ 2002 - 2005); Giai đoạn thực hiện Luật Hải quan
2005 (từ 2006 đến 2014); Giai đoạn thực hiện Luật Hải quan 2014 (từ
01/01/2015 đến nay). Ở mỗi giai đoạn đều có những đánh giá về ưu điểm
của cơ sở pháp lý cho phương pháp quản lý hải quan hiện đại theo hướng
chuyển dần từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, cũng như hạn chế của pháp
luật về KTSTQ qua các giai đoạn phát triển.
3.2. Thực trạng pháp luật hiện hành về kiểm tra sau thông quan
3.2.1. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về kiểm tra sau thông
quan hiện hành
Luận án nêu các quy phạm pháp luật hiện hành về KTSTQ, bao gồm:
Thứ nhất, quy định về nguyên tắc tiến hành KTSTQ: là nguyên tắc
quản lý rủi ro và việc áp dụng trong KTSTQ.
Thứ hai, quy định các trường hợp KTSTQ gồm 3 trường hợp:
Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; Kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý
rủi ro; Kiểm tra tuân thủ pháp luật của người khai hải quan.
14
Thứ ba, quy định các hình thức KTSTQ gồm 2 hình thức: KTSTQ
tại trụ sở cơ quan hải quan và KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan.
Tương ứng với mỗi hình thức là các quy định về phạm vi, nội dung, trình
tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra.
Thứ tư, quy định nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan,
người khai hải quan trong KTSTQ.
Thứ năm, quy định xử lý kết quả kiểm tra: các trường hợp kết luận
doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật và trường hợp truy thu thuế; hoàn
thuế; xử lý vi phạm; cưỡng chế thực hiện; khởi tố vụ án hình sự hoặc
chuyển hồ sơ có dấu hiệu hình sự cho cơ quan có thẩm quyền.
Thứ sáu, quy định giải quyết khiếu nại khiếu kiện đối với các quyết
năm 2005; năm 2010 số cuộc kiểm tra tăng dần và đến năm 2011 đạt con
số trên 2000 cuộc, gấp hơn 100 lần so với 2005, năm 2015 đạt trên 7.500
cuộc, gấp 3,5 lần năm 2011.
Hai là, pháp luật về KTSTQ củng cố nhận thức về KTSTQ trong
toàn lực lượng hải quan. Sự gia tăng quy mô hoạt động KTSTQ, đặc biệt
từ 2011 đến nay thể hiện sự gia tăng về nhận thức và quyết tâm chính trị
trong toàn Ngành Hải quan, đánh dấu bởi Chỉ thị 568/CT-TCHQ ngày
9/2/2011 về tăng cường công tác KTSTQ và chọn chủ đề năm 2011 của
Ngành Hải quan là “Năm KTSTQ”.
Ba là, pháp luật về KTSTQ giúp cho cơ quan hải quan phát hiện
và xử lý hành vi vi phạm trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa, chống
thất thu ngân sách. Trong những năm đầu thực hiện pháp luật về KTSTQ,
số truy thu chỉ mới ở con số trên 20 tỷ đồng, đến năm 2008 số thu là trên
200 tỷ đồng, đã tăng gấp 10 lần. Từ những năm 2012 trở đi, số thu cho
ngân sách qua các năm đã đạt trên 1.000 tỷ đồng, cho thấy tầm quan
trọng và hiệu quả của hoạt động KTSTQ trong việc xử lý gian lận thương
mại trong quá trình thông quan, chống thất thu cho ngân sách nhà nước.
Bốn là, pháp luật về KTSTQ giúp cơ quan hải quan phát hiện và
kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung những chính sách dễ bị lợi
dụng, nâng cao năng lực quản lý của cơ quan hải quan đối với hoạt động
xuất nhập khẩu.
3.2.3. Hạn chế của pháp luật về kiểm tra sau thông quan ở Việt
Nam hiện nay
Bên cạnh ưu điểm đạt được, trên cơ sở tiêu chí hoàn thiện pháp
luật về KTSTQ, luận án phản ánh một số bất cập, hạn chế của pháp luật
về KTSTQ hiện hành, cụ thể như sau:
Thứ nhất, pháp luật về KTSTQ hiện hành có một số điểm chưa
đảm bảo tiêu chí đồng bộ, thống nhất với chuẩn mực pháp lý quốc tế về
Thứ ba, trong hệ thống văn bản pháp luật về KTSTQ còn thiếu
vắng một số quy định thiết yếu cho việc thiết lập quan hệ KTSTQ, gồm:
thiếu các quy định về phạm vi kiểm tra và nội dung kiểm tra; chưa có
quy định về các ưu đãi hải quan trong trường hợp người khai hải quan
17
tuân thủ tốt pháp luật; thiếu quy định về trách nhiệm của cán bộ công
chức hải quan ở khâu thông quan đối với sai phạm phát hiện trong quá
trình KTSTQ; thiếu quy định về KTSTQ đối với một số loại hình liên
quan chính sách thương mại và số thuế phải nộp; chưa có quy định về
KTSTQ trong thực hiện cơ chế Một cửa quốc gia và Một cửa ASEAN.
Thứ tư, một số quy phạm pháp luật về KTSTQ được quy định tại
các lĩnh vực pháp luật liên quan không đảm bảo tính khả thi. Như việc
quy định thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành hoạt động
điều tra ban đầu cho lực lượng KTSTQ đối với tội buôn lậu và tội vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; quy định biện pháp khắc
phục hậu quả buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất
hàng hóa, buộc tiêu hủy tang vật vi phạm là hàng hóa xuất nhập khẩu đã
được thông quan.
3.2.4. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của pháp luật về
kiểm tra sau thông quan ở Việt Nam
Luận án xác định nguyên nhân khách quan về điều kiện kinh tế xã
hội của đất nước đang trong quá trình phát triển và hội nhập; pháp luật về
KTSTQ của Việt Nam là vấn đề mới, phát sinh phát triển muộn so với
pháp luật về hải quan, chưa có tiền lệ, do đó tiến trình nội luật hóa cam
kết quốc tế cần phải có một quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm để
đảm bảo yêu cầu pháp lý quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của
đất nước. Bên cạnh đó, điều kiện đất nước vừa ra khỏi tình trạng kém
phát triển, nên các điều kiện về kinh tế, xã hội sẽ có những tác động
thông quan đảm bảo phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế
4.2.1.1. Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật để làm rõ tên gọi, bản
chất của kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm toán hải quan phù
hợp chuẩn mực quốc tế
Khái niệm, bản chất của KTSTQ trong pháp luật Việt Nam cần
được xây dựng phù hợp với định nghĩa về kiểm toán hải quan trong
chuẩn mực của WCO tại Công ước Kyoto. Việc sửa đổi, bổ sung khái
niệm KTSTQ thành kiểm toán hải quan không chỉ đảm bảo phù hợp
chuẩn mực quốc tế mà còn có ý nghĩa xác định nội hàm của quan hệ
pháp luật về KTSTQ, các kiến thức cơ bản và yêu cầu nghiệp vụ đối với
công chức hải quan chuyên trách.
4.2.1.2. Sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng kiểm tra sau thông quan
Bổ sung quy định pháp luật về đối tượng KTSTQ với 2 nhóm cụ thể:
- Nhóm hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán, chứng từ dữ
liệu liên quan; hàng hóa đã thông quan nếu còn điều kiện; không hạn chế
đối tượng KTSTQ tại cơ quan hải quan đối với sổ sách, chứng từ kế toán.
19
- Nhóm người khai hải quan: xác định đối tượng KTSTQ là người
khai hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, tránh các quy định chung
về người khai hải quan cho cả phương tiện xuất nhập cảnh như quy định
hiện hành; đồng thời bổ sung thêm đối tượng gián tiếp trong quá trình
xuất nhập khẩu hàng hóa như: nhà cung cấp, người mua hàng nội địa,
đơn vị vận chuyển, bảo hiểm...
4.2.1.3. Bổ sung quy định về kiểm toán nội bộ doanh nghiệp đối
với đối tượng được kiểm tra
Quy định này sẽ đưa ra chuẩn mực để các doanh nghiệp được
KTSTQ tự rà soát, đánh giá, phân tích hoạt động của doanh nghiệp trên cơ
sở yêu cầu kiểm tra của cơ quan hải quan về đối tượng, nội dung và phạm
ban hành quyết định kiểm tra tại cơ quan quản lý thuế của Cục trưởng Cục
Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan; trình tự thủ tục kiểm tra thuế
tại trụ sở người nộp thuế để đảm bảo sự thống nhất với Luật Hải quan.
- Bổ sung Luật quản lý thuế về thẩm quyền ban hành quyết định
kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế của Tổng cục trưởng Tổng cục
Hải quan, Cục trưởng Cục KTSTQ, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh,
thành phố; sửa đổi thời hạn kiểm tra là 10 ngày làm việc.
4.2.2.3. Bổ sung quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính, đảm bảo tính thực thi và đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp đối
với những vi phạm phát hiện trong kiểm tra sau thông quan
- Bổ sung việc phân loại lỗi vi phạm cố ý hay vô ý của người khai
hải quan để xác định chế tài xử phạt. Nếu người khai hải quan cố ý vi
phạm, hoặc đã biết là sai mà không thực hiện sửa sai (khai bổ sung) thì sẽ
bị truy thu, phạt chậm nộp và phạt vi phạm hành chính. Nếu người khai
hải quan hoàn toàn vô ý với nguyên nhân khách quan thì chỉ bị truy thu
thuế mà không phải phạt chậm nộp và phạt vi phạm hành chính.
- Để đảm bảo tính thực thi đối với việc áp dụng biện pháp khắc
phục hậu quả buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, buộc tái xuất, buộc
tiêu hủy tang vật đối với vi phạm phát hiện trong KTSTQ, bổ sung quy
định trong trường hợp còn điều kiện thu hồi hàng hóa để buộc đưa ra
khỏi lãnh thổ, buộc tái xuất hoặc buộc tiêu hủy. Đồng thời để đảm bảo
tính răn đe, chế tài xử lý, cần bổ sung quy định chế tài phạt tiền, tăng
mức phạt lên từ 50% đến 100% nếu hàng hóa không còn điều kiện thu
hồi để thực hiện các biện pháp khắc phục nói trên.
4.2.2.4. Bổ sung quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm
quyền khởi tố của cơ quan hải quan đối với tội danh trốn thuế
Với đặc thù của hoạt động KTSTQ được tiến hành khi hàng hóa đã
được thông quan, các hành vi vi phạm dẫn đến quyết định truy thu ấn
định thuế và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế thường
định nghi vấn; cách thức kiểm tra hồ sơ, sổ sách chứng từ... đối với
những lĩnh vực, loại hình được ưu đãi thuế như gia công, sản xuất xuất
khẩu; nhập ưu đãi đầu tư; hoặc đối với một số phạm vi nội dung liên
quan đến xác định số thuế phải nộp như KTSTQ về trị giá hải quan, mã
số, thuế suất, xuất xứ để đảm bảo hiệu quả của KTSTQ trong chống thất
thu ngân sách.
22
Thứ tư, bổ sung chuẩn mực KTSTQ trong thực hiện cơ chế một
cửa quốc gia và một cửa ASEAN: áp dụng quản lý rủi ro, thu thập và xử
lý thông tin, cách thức, thủ tục tiến hành kiểm tra...
Thứ 5, bổ sung quy định về quyền của người khai hải quan khi
kiểm tra sau thông quan có kết quả đáp ứng tiêu chí tuân thủ pháp luật.
Với sự bổ sung này, doanh nghiệp sẽ nhận thức được lợi ích của
việc tự nguyện tự giác tuân thủ pháp luật trong quá trình thực hiện thủ
tục hải quan tại cửa khẩu cũng như trong quá trình thực hiện KTSTQ.
Các quyền lợi có thể được xác định như: hưởng các ưu đãi trong quá
trình thông quan hàng hóa như việc áp dụng phân luồng đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu; đáp ứng tiêu chí hồ sơ hoàn thuế, xét miễn thuế, không
thu thuế thuộc diện hoàn trước kiểm tra sau; không bị KTSTQ trong thời
hạn từ 5 năm tiếp theo nêu không có dấu hiệu vi phạm pháp luật...
4.2.4. Một số giải pháp khác
Song song giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về
KTSTQ, cần một số giải pháp để đảm bảo hiệu quả của quá trình xây
dựng và thực hiện pháp luật về KTSTQ:
Một là, nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành văn bản pháp
luật đảm bảo cho pháp luật về KTSTQ đáp ứng được các vấn đề: Phù
hợp với chuẩn mực quốc tế; thống nhất, đồng bộ với các lĩnh vực pháp
luật liên quan; đảm bảo đủ các chuẩn mực thiết lập quan hệ pháp luật về
thương mại và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
2. Nền tảng cơ bản nhất cho hoạt động KTSTQ là hệ thống các
nguyên tắc và quy định pháp luật được xây dựng và ban hành theo những
giai đoạn phát triển khác nhau. Luận án đã tiếp cận và cố gắng làm rõ
vấn đề pháp lý của KTSTQ kể cả từ khía cạnh lý luận lẫn thực tiễn của
pháp luật.
3. Về lý luận, luận án làm rõ cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật
về KTSTQ với các vấn đề căn bản của khoa học pháp lý về khái niệm,
nội dung, đặc điểm, vai trò của pháp luật về KTSTQ, tiêu chí đánh giá và
các yếu tố ảnh hưởng đến hoàn thiện pháp luật nhằm đánh giá đúng thực
trạng và mức độ hoàn thiện của pháp luật về KTSTQ ở Việt Nam. Bên
cạnh đó, luận án cũng đã tập trung khảo cứu các chuẩn mực pháp lý quốc
tế về KTSTQ của WCO, Hải quan ASEAN và một số quốc gia có nhiều
kinh nghiệm trong thực hiện KTSTQ theo mô hình hải quan hiện đại, từ
đó rút ra những giá trị cần tham khảo, học tập của Việt Nam trong quá
trình hoàn thiện pháp luật về KTSTQ.