Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại việt nam - Pdf 23

1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải thích
KTSTQ Kiểm tra sau thông quan (tên Tiếng Việt)
KTTTQ Kiểm tra trong thông quan
TTHQ Thủ tục hải quan
KTHQ Kiểm tra hải quan
PCA Kiểm tra sau thông quan (tên Tiếng Anh)
WTO Tổ chức thương mại thế giới
WCO Tổ chức Hải quan thế giới
ASEAN Khu vực các nước Đông Nam Á
NĐ-CP Nghị định-Chính phủ
TT-BTC Thông tư-Bộ Tài chính
QĐ Quyết định
CT Chỉ thị
TCHQ Tổng cục Hải quan
GATT Hiệp định trị giá hải quan
GTGT Thuế giá trị gia tăng
TNDN Thuế thu nhập doanh nghiệp
EU Liên minh Châu Âu
KT Kiểm tra
KTTTSHQ Kiểm tra tại trụ sở hải quan
KTTTSDN Kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp
CBCC Cán bộ, công chức
TCCB Tổ chức cán bộ
AEO Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
NSNN Ngân sách nhà nước
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển kinh tế xã hội và việc nước ta trở thành thành viên của Tổ chức

và hoạt động KTSTQ.
- Phân tích thực trạng và kết quả của hoạt động KTSTQ tại Việt Nam.
- Đưa ra ý kiến giúp hoàn thiện hoạt động KTSTQ trong giai đoạn tiếp theo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới hoạt
động KTSTQ trong lãnh Việt Nam từ khi Luật Hải quan sửa đổi được có hiệu lực năm
2006 đến hết năm 2011 và các biện pháp hoàn thiện hoạt động này tới năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, trong đó
vận dụng các quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét, đánh giá từng vấn
đề cụ thể; đồng thời dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của nhà nước về những vấn đề liên quan. Trên cơ sở đó, khóa luận đã sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu dữ liệu như: nghiên cứu dữ liệu thứ cấp (nguồn dữ liệu, thông
tin được thu thập từ các website, số liệu thống kê của cơ quan quản lý, sách, tạp chí );
phương pháp tổng hợp các phân tích, lý luận; phương pháp thống kê, so sánh…
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 phần chính
sau đây:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động kiểm tra sau thông quan
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Việt
Nam
Do hạn chế về thời gian, tài liệu và vì đây là lĩnh vực còn đang tiếp tục cần được
hoàn thiện trong hoạt động hải quan nên khóa luận của em sẽ có thể còn nhiều thiếu
sót. Bởi vậy, em rất mong được sự góp ý của thầy cô và bạn đọc. Người đọc xin chân
thành cảm ơn thầy Đinh Khương Duy, giảng viên Đại học Ngoại thương, người đã tận
tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
1.1. Các khái niệm liên quan đến hoạt động kiểm tra sau thông quan
1.1.1. Thủ tục hải quan

tải, người vào hay rời khỏi lãnh thổ hải quan, phải chịu thuế hải quan hay thuế khác,
đều phải chịu sự kiểm tra hải quan.”
Theo Luật Hải quan Việt Nam sửa đổi năm 2005: “Kiểm tra hải quan là việc kiểm
tra hồ sơ hải quan, các chứng từ liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện
vận tải do cơ quan hải quan thực hiện.”
Tại Việt Nam, kiểm tra hải quan (KTHQ) là một quá trình trong TTHQ. Nội dung
của KTHQ thường bao gồm các vấn đề chính sau:
- Kiểm tra tên hàng, mã số hàng;
- Kiểm tra lượng hàng hóa;
- Kiểm tra về chất lượng hàng hóa (bao gồm cả vệ sinh an toàn thực phẩm);
- Kiểm tra xuất xứ hàng hóa;
- Kiểm tra thuế.
Trong khi cả nước đang thực hiện chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đẩy
mạnh sản xuất xuất khẩu, thì hoạt động kinh tế gian dối, phi pháp của một bộ phận cá
nhân tập thể muốn gian lận thương mại đã gây hại nghiêm trọng tới nền kinh tế, đi
ngược lại và cản trở tiến trình phát triển chung. Vì thế, để bảo vệ thành công các thành
quả kinh tế - xã hội chống gian lận thương mại, đặc biệt trong lĩnh vực hải quan, là một
việc làm cầp thiết, đòi hỏi sự quan tâm của mọi cấp, mọi ngành và các tầng lớp nhân
dân trong xã hội. Trong đó, TTHQ phải được hoàn thiện sao cho đảm bảo lợi ích Nhà
nước thu đúng thu đủ về thuế, không bị thất thu cho ngân sách quốc gia. Và KTHQ
cũng cần được tăng cường để gian lận thương mại và những kẽ hở trong chính sách,
những lỏng lẻo trong hoạt động quản lý thương mại quốc tế phải phá bỏ.
1.1.3. Kiểm tra sau thông quan
Theo Công ước Kyoto sửa đổi 1999 của WCO (Phụ lục tổng quát, Chương II,
định nghĩa E3/F4), Kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) “ post-clearance audit” (PCA)
hay kiểm soát hải quan dựa trên cơ sở kiểm toán “audit-based control” là một quá trình
6
giúp cơ quan hải quan xác minh tính chính xác của việc khai hải quan thông qua kiểm
tra sổ sách, hồ sơ, các hệ thống kinh doanh và tất cả các dữ liệu thương mại liên quan
đến hải quan được các công ty hoặc cá nhân tham gia trực tiếp hay gián tiếp đến

khó khăn vì nó hình thành và hoàn thiện cùng với sự phát triển của khoa học quản lý
rủi ro trong công tác hải quan. Hoạt động này đã được Hội đồng hợp tác Hải quan, tiền
thân của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), triển khai áp dụng vào những năm 1960.
Công ước Kyoto 18/05/1973, có hiệu lực từ 25/09/1974, về đơn giản hóa và hài hòa
hóa thủ tục hải quan được xem là công ước đầu tiên quy định về hoạt động KTSTQ.
Đến tháng 09/1999, khi công ước Kyoto được sửa đổi, bổ sung thì hoạt động KTSTQ
mới được WCO chính thức nêu ra và đưa vào chương trình hoạt động tại phần Phụ lục
tổng quát, Chương VI, quy định về hoạt động kiểm tra sau thông quan và kiểm tra hệ
thống sổ sách doanh nghiệp. Hoạt động này nhanh chóng được triển khai rộng rãi tới
các nước thành viên.
Trong khu vực Châu Á, Nhật Bản là một trong những nước áp dụng hoạt động
KTSTQ đầu tiên. Hải quan Nhật Bản thực hiện thí điểm KTSTQ từ năm 1967 và chính
thức áp dụng hệ thống này vào năm 1968. Tại Trung Quốc, KTSTQ ban đầu chỉ thực
hiện tại ba địa phương phức tạp nhất về xuất nhập khẩu từ tháng 04/1992. Điều lệ
KTSTQ được Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa công bố ngày
01/03/1997.
Trong khối ASEAN, Thái Lan là nước thực hiện KTSTQ sớm nhất vào những
năm 1990 nhưng Indonesia lại là nước có nhiều kinh nghiệm và áp dụng KTSTQ hiệu
quả nhất từ năm 1998 và hiện tại đang là điều phối viên về KTSTQ của chương trình
hợp tác hải quan ASEAN. Hoạt động KTSTQ của Hải quan ASEAN đã có một khuôn
mẫu chuẩn cho các thành viên hoạt động, tuy nhiên chưa được phê duyệt chính thức.
Hiện nay, ASEAN đã thống nhất xây dựng sách Hướng dẫn KTSTQ của ASEAN (được
hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN lần thứ 12 tại Hà Nội phê chuẩn) nhằm
định hướng chiến lược và áp dụng chung cho khối.
8
1.2.2. Tại Việt Nam
Hoạt động KTSTQ tại Việt Nam chính thức triển khai khi Luật Hải quan có hiệu
lực vào ngày 01/01/2002. Tuy nhiên, trước đó, hoạt động KTSTQ đã bắt đầu hình
thành trong một số điều luật về xuất nhập khẩu.
Theo Khoản 5, Điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế xuất

chức thực hiện nghiệp vụ kiểm tra sau giải phóng hàng.
Có thể nói, Nghị định 16/1999/NĐ-CP ngày 27/03/1999 là cơ sở nền tảng cho
quá trình hình thành và phát triển của hoạt động KTSTQ tại Việt Nam. Khoảng thời
gian từ năm 1999 đến 2001 có thể xem là giai đoạn thử nghiệm của hoạt động KTSTQ.
Trong giai đoạn này, ngành Hải quan Việt Nam đã có những nỗ lực và đã đạt được một
số thành tựu đáng kể về kiểm tra và giám sát hải quan.
Ngày 29 tháng 06 năm 2001, Luật Hải quan được ban hành với quy định chính
thức đầu tiên về KTSTQ tại Điều 32, sau đó được cụ thể hóa trong Nghị định
102/2001/NĐ-CP quy định chi tiết về KTSTQ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Những
quy định này bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2002, cũng từ thời điểm đó Hải quan Việt
Nam mới chính thức triển khai hoạt động nghiệp vụ KTSTQ.
Tiếp đó có rất nhiều những nghiên cứu hoàn thiện quy trình nghiệp vụ cũng như
những văn bản pháp luật sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực này. Hiện nay, hoạt động
KTSTQ chính thức được áp dụng sâu rộng theo Luật Hải quan sửa đổi năm 2005, bao
gồm các Nghị định 154/2005/NĐ-CP và Thông tư 194/2010/TT-BTC hướng dẫn thực
hiện. Gần đây nhất, vào ngày 09/02/2010, Tổng cục Hải quan Việt Nam đã ban hành
Chỉ thị 568/CT-TCHQ về tăng cường hoạt động KTSTQ cho các giai đoạn tiếp theo.
1.3. Các đối tượng và hạng mục liên quan tới hoạt động kiểm tra sau thông quan
1.3.1. Đối tượng chịu kiểm tra sau thông quan
Theo Điều 142, Thông tư 194/2010/TT-BTC: “Người xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hoá; người được ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá; đại lý làm thủ tục hải
quan, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh; người
được chủ hàng ủy quyền làm thủ tục hải quan là đối tượng chịu sự kiểm tra sau thông
quan.”
1.3.2. Đối tượng kiểm tra của kiểm tra sau thông quan
Theo Điều 143, Thông tư 194/200/TT-BTC, “đối tượng kiểm tra của kiểm tra
sau thông quan bao gồm:
10
- Hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và đơn vị hải quan làm thủ tục
hải quan cho hàng hóa liên quan.

Tuy nhiên, cơ quan hải quan có thể thông qua các dữ liệu trong sổ sách kế toán,
giao dịch ngân hàng để nắm bắt mọi hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện ra
những trường hợp cố tình vi phạm để có biện pháp xử phạt nghiêm khắc.
Bên cạnh đó, gian lận về giá trị hàng hóa cũng có thể là khai tăng giá trị hàng,
đặc biệt là việc góp vốn cổ phần từ nước ngoài bằng tài sản cố định. Các nhà đầu tư
thường khai tăng giá trị tài sản lên để tăng phần trăm vốn trong doanh nghiệp để được
phân chia lợi nhuận nhiều nhất có thể. Ngoài ra, giá trị của các nguyên liệu đầu vào
nhập khẩu tăng có thể giúp cơ quan hải quan tăng thu thuế nhập khẩu nhưng lại gây
thất thu cho các thuế nội địa như thuế GTGT, thuế TNDN.
b) Số lượng hàng hóa
Đối với các giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa áp dụng thuế lũy tiến theo số
lượng hay có giấy phép cấp hạn ngạch, việc xác minh số lượng là một trong những
điểm quan trọng. Thường gặp nhất là trường hợp khai giảm số lượng hàng thực tế hoặc
không khai để trốn thuế. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể khai tăng số lượng với những
hàng hóa có giá trị hoặc mức thuế suất thấp; và khai giảm với những hàng có giá trị
cao hoặc mức thuế suất cao để thu lợi từ chênh lệch về thuế. Trong những trường hợp
này, hải quan hoàn toàn có thể dựa trên chứng từ, sổ sách kế toán đã giao dịch của
doanh nghiệp để kiểm tra.
c) Tỷ giá tính thuế
Dù giá ghi trên hóa đơn thương mại là nội tệ hay ngoại tệ thì việc tính trị giá
tính thuế đều phải dựa trên đồng nội tệ. Điều này khiến số thuế phải nộp phụ thuộc rất
nhiều vào tỷ giá. Việc KTSTQ giúp cơ quan hải quan xác minh điều khoản tiền tệ đã
thỏa thuận giữa các bên, bằng cách kiểm tra hợp đồng và chứng từ liên quan, từ đó
phát hiện ra các dấu hiệu vi phạm.
1.3.3.2. Các hạng mục liên quan tới thuế suất
a) Mã số hàng hóa
Thông thường, việc phân loại hàng hóa được xác định thông qua mô tả trong
hợp đồng thương mại. Trong trường hợp, việc mô tả hàng hóa chưa đủ căn cứ để phân
loại hoặc khi ý kiến phân loại của cơ quan hải quan có khác biệt với người khai hải
quan thì việc kiểm tra thực tế hàng hóa đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại

Quản lý trên cơ sở đánh giá rồi lựa chọn đối tượng kiểm tra. Nhờ đó mà góp phần giảm
chi phí mà vẫn hiệu quả do chỉ tập trung vào các đối tượng có khả năng gian lận cao
13
nhất. Quan trọng hơn là giảm thời gian thông quan, tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp kinh doanh chân chính, khuyến khích họ có ý thức tuân thủ pháp luật ở
mức độ cao và tự giác.
Hoạt động KTSTQ phát triển do áp dụng tốt phương pháp quản lý rủi ro sẽ thúc
đẩy quá trình hiện đại hóa hải quan, đồng thời giảm thiểu các nguy cơ gây tổn hại tới
liêm chính hải quan.
Hoạt động KTSTQ triển khai nhận được sự đồng thuận từ phía doanh nghiệp
xuất nhập khẩu. Đa số doanh nghiệp nhận thức công tác KTSTQ là vấn đề nghiệp vụ
bình thường như các khâu nghiệp vụ khác của cơ quan hải quan. Hầu hết doanh nghiệp
bày tỏ thiện chí khắc phục kịp thời những sai sót sau công tác KTSTQ. Tuy nhiên,
trong quá trình tác nghiệp, KTSTQ cũng bộc lộ những khó khăn, hạn chế về nhân sự và
những căn cứ pháp lý khi áp dụng vào thực tiễn hay sự chưa thống nhất giữa các chủ
trương của nhà nước. Qua đó, các doanh nghiệp có thể đưa ra các kiến nghị với cơ
quan có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn luật.
Thông qua một số lợi ích quan trọng trên, toàn ngành Hải quan nên phát triển
công tác nghiệp vụ theo hướng KTSTQ, dựa trên hệ thống quản lý rủi ro, thể hiện sự
tiên tiến trong công tác quản lý, bắt kịp định hướng của thế giới.
1.4.2. Lợi ích đối với doanh nghiệp
Đối với đại đa số doanh nghiệp xuất nhập khẩu, cụm từ “kiểm tra sau thông
quan” hay “kiểm toán hải quan” luôn có nghĩa tiêu cực. Họ luôn liên tưởng tới hoạt
động của cơ quan hải quan tập trung vào việc kiểm tra khắt khe giấy tờ, tài liệu của lô
hàng đã thông quan, nhằm phát hiện ra những lỗi vi phạm, dẫn tới việc truy thu thêm
thuế, có khi là bị truy tố.
Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp tuân thủ đúng pháp luật có thể được
lợi từ việc được KTSTQ. Nếu doanh nghiệp có thể vượt qua cuộc sát hạch với những
quy định phức tạp của luật pháp được vận dụng trong cuộc kiểm tra, cũng như trải qua
các chương trình tự đánh giá, doanh nghiệp sẽ có cái nhìn toàn diện và tốt hơn, từ đó

đó tránh những nguy cơ phải nhận những hậu quả pháp lý tiêu cực.
- Cơ hội vận dụng những biểu mẫu đánh giá của cơ quan hải vào việc đánh giá
nội bộ của chính doanh nghiệp.
- Cơ hội đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu như là một khâu của chuỗi sản xuất,
kinh doanh.
15
- Cơ hội thiết lập quan hệ hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau với cơ quan hải quan.
Trong trường hợp kết quả KTSTQ cho thấy doanh nghiệp hoàn toàn tuân thủ tốt
pháp luật về xuất nhập khẩu, doanh nghiệp có những quy trình và tổ chức hiệu quả,…
thì việc công bố kết luận KTSTQ rộng rãi lại là một hình thức quảng bá thương hiệu rất
hiệu quả cho bản thân doanh nghiệp (tương tự như kiểm toán thông thường).
* Tạo sự công bằng giữa các doanh nghiệp, giảm thời gian thông quan
Hoạt động KTSQ tạo sự công bằng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu bởi vì nó đảm bảo mọi doanh nghiệp
đều phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Ngoài ra, khi KTSTQ được thực thi, các doanh nghiệp có ý thức chấp hành tốt
luật pháp luôn được đơn giản hóa thủ tục hải quan, tạo điều kiện cho việc lưu thông
hàng hóa nhanh chóng, dễ dàng và thuận tiện. Nhờ đó, doanh nghiệp giảm được rất
nhiều chi phí lưu kho, chi phí đi lại của nhân viên và rất nhiều chi phí cơ hội khác.
16
1.5. Đặc điểm hoạt động kiểm tra sau thông quan tại một số quốc gia và khu vực
1.5.1. Mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan ASEAN
Về KTSTQ, mục đích của cộng đồng Hải quan ASEAN là hài hòa hóa các thông
lệ và thủ tục KTSTQ để tạo thuận lợi cho thương mại và bảo vệ hiệu quả số thuế do hải
quan đảm nhiệm.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Hải quan ASEAN cũng khuyến nghị các nước
thành viên nên thành lập một đơn vị chuyên trách về kiểm tra sau thông quan tại cơ
quan Tổng cục hay các đơn vị thực thi tại các vùng trực thuộc.
Theo ASEAN PCA Manual, sơ đồ sau sẽ minh họa vị trí của một đơn vị KTSTQ
tại cơ quan hải quan cấp Trung ương hoặc địa phương:

được sử dụng trong tất cả các bước KTSTQ, đồng thời cơ quan hải quan nên chú ý tập
trung vào rà soát và kiểm tra hồ sơ chứng từ của đối tượng kiểm tra. Đây được coi là
điểm nổi bật của mô hình KTSTQ theo chuẩn mực ASEAN. Quá trình thực hiện cần
liên lạc thường xuyên với đối tượng kiểm tra. Thêm vào đó, sự hợp tác với các đơn vị
chức năng khác cũng cần được duy trì để thực hiện KTSTQ có hiệu quả.
Mô hình KTSTQ mẫu của ASEAN là mô hình chuẩn đầu tiên được áp dụng cho
một liên kết kinh tế trên phạm vi toàn thế giới. Điểm mạnh của mô hình là sử dụng một
hệ thống đánh giá rủi ro chất lượng cao cho tất cả các khâu trong quy trình kiểm tra
trực tiếp. Tuy nhiên, quá trình thực hiện mô hình này vẫn gặp một số vấn đề phát sinh
do môi trường tài chính và pháp luật ở các nước thành viên chưa thực sự minh bạch,
đồng đều.
19
1.5.2. Mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Trung Quốc
Với đặc điểm địa lý vô cùng phức tạp, vai trò quản lý của Hải quan Trung Quốc
luôn được nhà nước điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp. Đó cũng là kinh nghiệm quý báu
cho Việt Nam khi tiến hành cải cách và hiện đại hóa hải quan.
Mô hình thực thi KTSTQ của Hải quan Trung Quốc được thiết lập vào năm
1994. Hiện nay, Cục điều tra của Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm chính về công
tác kiểm toán, bao gồm bộ phận kiểm toán và bộ phận điều tra thương mại. Tại các cơ
quan hải quan vùng cũng có các bộ phận kiểm toán và nhân viên kiểm toán chuyên
nghiệp với hàng nghìn nhân viên trong toàn quốc. Để hiểu rõ cơ cấu tổ chức Hải quan
tại Trung Quốc, ta có thể xem mô hình dưới đây:
Hình1.3. Mô hình tổ chức KTSTQ của Hải quan Trung Quốc
20
21
Nguồn:
truy cập ngày 15/04/2012
Mô hình KTSTQ của Hải quan Trung Quốc được tập trung xem xét vấn đề lựa
chọn đối tượng kiểm tra. Hải quan Trung Quốc tiến hành kiểm tra thông quan trong
vòng 03 năm kể từ ngày hàng hóa được thông quan, hoặc trong khoảng thời gian giám

Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm địa lý, kinh tế, sự phát triển không đồng đều giữa các
miền đã dẫn đến sự phức tạp trong việc quản lý, khó khăn trong thống nhất về cơ sở dữ
liệu cũng như thủ tục cho KTSTQ.
1.5.3. Mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Pháp
Theo công bố của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF năm 2010 và 2011, Pháp là một trong
những quốc gia phát triển có nền kinh tế xếp thứ năm thế giới. Đồng thời, chế độ quản
lý tiên tiến, hệ thống giám sát thuế nội địa và hệ thống tài chính minh bạch, dựa trên
nền tảng công nghệ thông tin đã giúp công tác phối hợp thực thi cực kỳ hiệu quả. Tuy
nhiên, mô hình KTSTQ của Hải quan Pháp cũng có nhiều đặc thù, đó là không có hệ
thống riêng mà được tích hợp trong các đơn vị chức năng khác nhau, có thể gây khó
khăn cho việc thực hiện. Xem xét theo khía cạnh đó, mô hình này cần được nghiên cứu
để ứng dụng cho hệ thống KTSTQ tại Việt Nam.
Vai trò của cơ quan Hải quan Pháp, từ chỗ chỉ nhằm mục đích thu thuế, đã có
những thay đổi đáng kể tương ứng với sự phát triển của xã hội nói chung. Ngày nay, cơ
quan này phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ nặng nề khác nhau, trong đó, nhiệm vụ chính
là thu thuế, đồng thời thực hiện nghĩa vụ tài chính với Cộng đồng Châu Âu EU. Ngoài
ra, cơ quan Hải quan Pháp còn có nhiệm vụ đấu tranh chống gian lận thương mại và
buôn lậu quốc tế, chịu trách nhiệm bảo vệ lợi ích kinh tế của EU và các quốc gia thành
viên. Cơ quan Hải quan Pháp cũng đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe và an ninh
cộng đồng, bảo vệ môi trường và truyền thống bản sắc dân tộc (kiểm soát giao dịch cổ
vật và sản phẩm nghệ thuật khác.
Quy trình KTSTQ của Hải quan Pháp tương tự chuẩn mực quốc tế và khuyến
nghị của WCO, bao gồm các bước lần lượt như sau:
- Kế hoạch tổng thể;
- Thu thập thông tin về đối tượng, vụ việc;
- Kiểm tra thực tế;
- Kết thúc, lập biên bản tổng hợp lại tất cả các biên bản trước, kết luận;
- Đưa vào cơ sở dữ liệu (của lực lượng điều tra) phục vụ quá trình tiếp theo.
Trong mô hình nghiệp vụ KTSTQ của Hải quan Pháp, điểm quan trọng vẫn là
khâu phân tích thông tin để lựa chọn đối tượng kiểm tra dựa trên cơ sở quản lý rủi ro.

thông quan được coi là hoạt động mang tính chất điều tra, thể hiện qua cách làm và
thẩm quyền của điều tra viên.
1.5.4. Mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Australia
24
Nền kinh tế Australia vận hành theo định hướng xuất khẩu với một môi trường
thương mại mở cung cấp những chính sách hỗ trợ thuận lợi cho các thị trường nhằm
duy trì cho nền kinh tế luôn ở mức phát triển mạnh mẽ. Trong 30 năm qua, Australia
ủng hộ tích cực cho chủ trương tạo thuận lợi cho thương mại phát triển với việc tạo ra
những hàng rào thương mại "thấp nhất" so với khu vực khác trên thế giới.
Nội bộ cơ quan Hải quan, lãnh đạo Hải quan Australia rất chú trọng tới việc cải
tiến nhận thức về cách ứng xử và nhận thức về mặt xã hội của các nhân viên hải quan,
bằng cách cấp cho họ một thẻ Z. Thực chất đây là một văn bản tập hợp một cách tóm
tắt các quy định hiện hành về liêm chính dưới hình thức một cẩm nang tra cứu. Mục
đích quan trọng của thẻ Z là giúp nhân viên tuân thủ các quy định về liêm chính hải
quan và chấp hành các quy tắc của tổ chức. Thẻ Z được cấp cho tất cả nhân viên hải
quan và sẽ do bộ phận các chuẩn mực nghề nghiệp và liêm chính quản lý.
Biện pháp này được sự thống nhất và ủng hộ của lãnh đạo Hải quan Australia,
nhất là từ người đứng đầu cơ quan này, ngài Michael Carmody-Chủ tịch cơ quan Hải
quan và Bảo vệ biên giới Australia. Theo đánh giá của ngài Chủ tịch, tấm thẻ này
khẳng định vị trí của liêm chính đối với từng cá nhân trong tổ chức và toàn thể tổ chức
nói chung, điều này có giá trị sống còn trong việc giúp giữ gìn lòng tin của người dân
và của chính các nhân viên hải quan. Những giá trị chính của thẻ Z hay còn gọi là thẻ
chống gian lận trong nhân viên hải quan và bảo vệ biên giới là “chuẩn bị, ngăn chặn,
kiểm tra phát hiện và giải quyết” các vấn đề. Với cấu trúc đơn giản nhưng chứa đựng
đầy đủ thông tin cần thiết, thẻ Z là một công cụ tham khảo và tư vấn nhanh chóng.
Hiện nay, Hải quan Australia áp dụng hai loại hình KTSTQ chính: Kiểm tra
trọng điểm và Kiểm tra hoạt động giao dịch. Cơ quan hải quan có quyền kiểm tra tất cả
hoạt động của khách hàng liên quan đến hoạt động hải quan, trong đó bao gồm: hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, khấu trừ thuế quan, kho ngoại quan, cấp giấy phép
xuất nhập khẩu và thuế.

tại Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
TẠI VIỆT NAM
2.1. Cơ sở thực tiễn và pháp lý của hoạt động KTSTQ
2.1.1. Cơ sở thực tiễn

Trích đoạn QUY TRÌNH XỬ LÝ ĐẦU RA Đánh giá mô hình Đánh giá chung những kết quả đạt được trong công tác kiểm tra sau thông quan trong giai đoạn 2006- Đánh giá chung về công tác kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam giai đoạn hiện nay Căn cứ xây dựng chiến lược
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status