BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TRẦN VĂN CHƯƠNG
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊA PHƯƠNG
Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 62.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN THỊ MINH HẰNG
HÀ NỘI – NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong luận án này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nào của các tác giả khác.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả luận án
iii
LỜI CAM ĐOAN
Trang ii
LỜI CẢM ƠN
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
vii
Viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Ix
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
địa phương trong đào tạo theo hệ thông tín chỉ
29
29
29
30
1.4. Nội dung quản lý đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ trong
các trường đại học địa phương
1.4.1. Một số khái niệm liên quan
1.4.2. Tiếp cận nghiên cứu nội dung quản lý đào tạo đại học theo
hệ thống tín chỉ
1.4.3. Nội dung quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường
đại học địa phương
32
21
32
34
37
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo hệ thống
tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam
1.5.1. Yếu tố chủ quan
1.5.2. Yếu tố khách quan
45
45
trường đại học địa phương ở Việt Nam
67
2.2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo
hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam
82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
87
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
89
3.1. Nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo theo hệ thống
tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý
89
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ
89
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
3.2.4. Giải pháp 4: Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu và chuẩn về chất lượng
3.2.5. Giải pháp 5: Bảo đảm cơ sở vật chất và tài chính phục vụ đào tạo
110
3.2.6. Giải pháp 6: Xây dựng môi trường đào tạo đồng bộ và thuận lợi
117
3.3. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp
quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học
địa phương ở Việt Nam
3.3.1. Mục đích, nội dung và phương pháp khảo nghiệm
121
v
114
121
3.3.2. Kết quả khảo nghiệm
122
3.4. Thử nghiệm một số giải pháp quản lý đào tạo theo hệ thống
tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam
PHỤ LỤC 4
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐ
CLĐT
CN
CNH-HĐH
CNTT
CSVC
CVHT
CTĐT
DH
ĐH
ĐHĐP
ĐT
GDĐH
GD-ĐT
GV
GS
HCTC
HTTC
KT-ĐG
KT-XH
NCKH
NCXH
PGS
QL
kinh tế-xã hội
nghiên cứu khoa học
nhu cầu xã hội
phó giáo sư
quản lý
quản lý đào tạo
quá trình đào tạo
sau đại học
sinh viên
trung học phổ thông
thạc sĩ
thành phố
tiến sĩ
Trung ương
cao đẳng
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.
Bảng 1.2.
Bảng 1.3.
Bảng 1.4.
Nội dung quản lý công tác tuyển sinh
Nội dung quản lý chương trình đào tạo
Nội dung quản lý quá trình dạy học
Nội dung quản lý lý đội ngũ giảng viên, viên chức quản lý
và viên chức hành chính
Bảng 2.26. Thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến
QLĐT theo HTTC
Bảng 2.27. Tổng hợp thực trạng đào tạo theo HTTC
viii
Trang 39
39
41
43
44
45
50
54
55
57
58
59
61
62
63
63
65
67
68
70
71
72
73
75
75
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Quy mô đào tạo theo nhóm ngành
Trang 51
Biểu đồ 2.2. Chỉ tiêu tuyển sinh
55
Biểu đồ 2.3. Số lượng sinh viên nhập học
55
Sơ đồ 3.1.
Quy trình phát triển chương trình đào tạo của
Trường ĐH Phú Yên
Biểu đồ 3.2. So sánh trình độ đội ngũ trước và sau thực nghiệm
ix
130
131
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực cho xã hội là mục tiêu chung nhất của
giáo dục. Mục tiêu giáo dục đại học Việt Nam được xác định ở Luật Giáo dục
đối với các nước đang phát triển. Chuyển đổi từ ĐT theo niên chế học phần sang
HTTC của GDĐH Việt Nam là sự đổi mới tất yếu, phù hợp với xu thế toàn cầu
hóa, đẩy nhanh tốc độ hội nhập của GDĐH nước ta với khu vực và thế giới.
Trong tiến trình đến với hội nhập quốc tế, các trường ĐH Việt Nam từ những
năm 90 của thế kỷ vừa qua đã tham khảo kinh nghiệm và áp dụng HTTC vào CTĐT
của mình (Bộ GD-ĐT cho phép các trường được áp dụng thử nghiệm HTTC từ
năm 1993). Các trường đi đầu trong việc áp dụng này như Trường ĐH Bách khoa
TP Hồ Chí Minh, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Cần thơ, Trường ĐH Đà Lạt,
Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, Trường ĐH Thủy sản Nha Trang
v.v... Bắt đầu từ năm học 2007 – 2008, đào tạo theo HTTC trình độ ĐH và CĐ
hệ chính quy được Bộ GD-ĐT chính thức triển khai trong hệ thống GDĐH
Việt Nam [5]. Ngày 04/5/2012 Bộ GD-ĐT công bố Quyết định ban hành Chương trình
hành động của Bộ GD-ĐT giai đoạn 2011-2016 thực hiện Nghị quyết số 06/NQ-CP
của Chính phủ [6], theo đó, Bộ GD-ĐT yêu cầu: đến năm 2015, tất cả các trường
đại học chuyển hoàn toàn sang đào tạo theo học chế tín chỉ.
1.3. Từ những đặc điểm của HTTC và đặc điểm của CTĐT theo HTTC, thực tiễn
ĐT theo HTTC đáp ứng nhu cầu xã hội ở các trường ĐH, nhất là các trường ĐHĐP
còn có nhiều hạn chế về số lượng và trình độ đội ngũ; về CSVC; về đầu tư ngân sách…
Quá trình triển khai ĐT theo HTTC và QLĐT theo HTTC còn có những khó khăn
nhất định thể hiện ở quy mô ĐT nhỏ (ít ngành ĐH và số lượng SV) và chất lượng
đào tạo chưa cao, ĐT chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội. Vì vậy, các trường
ĐHĐP cần phải đổi mới QLĐT thích hợp với HTTC trên cơ sở nghiên cứu lý luận
và thực tiễn về QLĐT theo HTTC.
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, nghiên cứu về QLĐT theo HTTC công bố
trên các tạp chí, hội thảo, hội nghị chỉ trình bày khái quát thực trạng ĐT theo HTTC
và đề xuất giải pháp nâng cao CLĐT theo HTTC trong công tác QLĐT của trường,
của khoa, từng ngành học. Đối với các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, sách xuất bản
cũng mới đi sâu nghiên cứu đến một số lĩnh vực về QLĐT ở nhà trường ĐH nói
chung; nghiên cứu về mô hình trường ĐHĐP, CĐ cộng đồng ở Việt Nam... Chưa có
công trình nghiên cứu sâu và toàn diện về QLĐT theo HTTC trong hệ thống các
4.1. Giả thuyết khoa học
Đào tạo theo HTTC trong các trường ĐH là phương thức đào tạo tiên tiến,
hiệu quả trong đào tạo nhân lực phục vụ NCXH. Hiện nay, QLĐT theo HTTC
3
trong các trường ĐHĐP còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT
theo HTTC.
Nếu đề xuất được các giải pháp QLĐT theo HTTC dựa theo tiếp cận
hệ thống, tiếp cận phức hợp kết hợp với tiếp cận theo CIPO trong các trường
ĐHĐP một cách đồng bộ và phù hợp, đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC
thì sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực phục vụ
hiệu quả nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương.
4.2. Câu hỏi nghiên cứu
4.2.1. QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam là gì? Bao gồm
những nội dung nào?
4.2.2. QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam hiện nay có những
hạn chế như thế nào? Nguyên nhân?
4.2.3. Việc nghiên cứu nội dung và đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC trong
các trường ĐHĐP ở Việt Nam dựa trên lý thuyết tiếp cận nào?
4.2.4. Những giải pháp quản lý đào tạo nào đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo
HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam nhằm nâng cao CLĐT nhân lực phục vụ
nhu cầu CNH-HĐH hóa địa phương?
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐT và QLĐT theo HTTC trong các trường ĐH
nói chung và trường ĐHĐP.
5.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng ĐT và QLĐT theo HTTC trong
các trường ĐHĐP ở Việt Nam.
5.3. Dựa trên tiếp cận hệ thống, tiếp cận phức hợp kết hợp với tiếp cận theo CIPO
đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam.
Luận án nghiên cứu các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP
trên cơ sở bao quát đầy đủ các thành tố cấu thành QLĐT, xem xét toàn diện, tổng
hợp, đồng bộ và cân đối giữa đối tượng QLĐT với môi trường liên quan.
7.1.3.Tiếp cận theo mô hình quản lý chất lượng đào tạo CIPO
Luận án nghiên cứu các thành tố của QLĐT theo tiếp cận hệ thống (vận dụng
kết hợp các yếu tố: Đầu vào - Input; Quá trình - Process) và tiếp cận phức hợp,
5
đồng thời cũng chú trọng xem xét tác động của các yếu tố: Bối cảnh (Context) và
Kết quả đầu ra (Output) để đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC trong các
trường ĐHĐP ở Việt Nam.
7.1.4. Tiếp cận lịch sử
Luận án nghiên cứu lịch sử phát triển, kinh nghiệm ĐT và QLĐT theo
HTTC ở các nước tiên tiến trên thế giới; những ưu, nhược điểm, nguyên nhân
trong việc vận dụng ĐT theo HTTC vào hệ thống GDĐH Việt Nam. Trên cơ sở đó,
sẽ giúp đề ra các luận cứ thực tiễn, các giải pháp QLĐT phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu của đề tài.
7.1.5. Tiếp cận mục tiêu
Tiếp cận theo mục tiêu giáo dục, cụ thể là việc đề xuất các giải pháp QLĐT
theo HTTC nhằm bảo đảm thực hiện đạt được mục tiêu đào tạo cho SV tốt nghiệp
trình độ đại học phải đạt chuẩn kiến thức - kỹ năng - thái độ theo mục tiêu GDĐH
như Luật định (Luật Giáo dục đại học năm 2012).
7.2. Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài:
- Các tài liệu lưu trữ: các văn bản tổng kết của Bộ GD-ĐT, các báo cáo tổng kết
về ĐT theo HTTC của một số trường ĐH trọng điểm và trường ĐHĐP ở Việt Nam...
- Các công trình khoa học, các tạp chí và báo cáo khoa học...
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Việt Nam đã đề xuất. Triển khai thực hiện thử nghiệm và đánh giá kết quả
thử nghiệm một số giải pháp ở một trường ĐHĐP.
7.3. Các phương pháp toán học
Sử dụng thống kê toán học xử lý thông tin định lượng và định tính.
Ứng dụng phần mềm thống kê SPSS để xứ lý dữ liệu định lượng.
8. Điểm mới của luận án
8.1. Luận án nghiên cứu, hệ thống hóa góp phần làm rõ, bổ sung và phát triển những
vấn đề lý luận về ĐT và QLĐT theo HTTC vận dụng trong các trường ĐHĐP ở
Việt Nam.
8.2. Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về QLĐT theo HTTC trong
các trường ĐHĐP ở Việt Nam nhằm phát hiện những hạn chế trong QLĐT theo
HTTC và những nguyên nhân. Từ đó đề xuất các giải pháp QLĐT khắc phục
7
hạn chế, đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP,
nâng cao CLĐT nhân lực phục vụ hiệu quả nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
địa phương.
8.3. Luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo bổ ích, ít nhất là ở giai đoạn đầu
áp dụng phương thức ĐT theo HTTC trong các trường ĐH và đặc biệt là các
trường ĐHĐP; giúp cho các nhà QLGD, các nhà hoạch định chính sách giáo dục có
cơ sở xây dựng giải pháp chiến lược cho ngành GD-ĐT nói chung và các trường
ĐHĐP nói riêng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
9. Luận điểm bảo vệ
9.1. Việc áp dụng phương thức ĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam
tất yếu phải đổi mới QLĐT đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC trong các
nhà trường.
9.2. Thực trạng QLĐT theo HTTC trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam hiện nay
còn có những hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu cơ bản của ĐT theo HTTC, dẫn đến
chưa bảo đảm chất lượng đào tạo.
Khoa Giáo dục Sư phạm Trường ĐH Califonia Davis, Hoa Kỳ. Trong nghiên cứu
này tác giả đã chỉ rõ lịch sử phát triển của mô hình ĐT theo HTTC đại học của
Hoa Kỳ cũng như cơ chế hoạt động của nó và các lợi ích mà mô hình này đem lại
cho nền GDĐH Hoa Kỳ. Chính nhờ vào mô hình này mà hệ thống giáo dục của
Hoa Kỳ liên tục cao hơn các quốc gia khác. Không một hệ thống nào cho phép
khả năng linh hoạt và chuyển đổi lại có thể hoàn hảo, tập trung vào tiêu điểm chính
của HTTC: tạo ra một nền giáo dục đẳng cấp quốc tế, ĐT một lực lượng lao động
dựa trên những điểm mạnh, mối quan tâm và nguyện vọng của SV. Bên cạnh
nghiên cứu chi tiết của Cary J. Trexler còn có các công trình nghiên cứu khác về
HTTC ở bậc ĐH của Hoa Kỳ như Giáo sư G. Dietrich đã nêu ra vai trò thiết thực,
cần thiết của HTTC tại cuốn “The emergence of the credit system in American
education considered as a problem of social and intellectual history” (Sự xuất hiện
của HTTC trong giáo dục Mỹ được coi là một vấn đề của lịch sử xã hội và trí tuệ)
[81]. Tác giả James M. Heffernan, trong bài viết “The Credibility of the Credit hour:
The History, Use and Shortcomings of the Credit System” (Sự tín nhiệm của giờ tín
chỉ: Lịch sử, Sử dụng và Những nhược điểm của HTTC) [86] đã trình bày tổng quan
HTTC với các khái niệm, QTĐT, ưu nhược điểm, điều kiện tiên quyết để chuyển đổi
thành công và khả năng áp dụng HTTC đối với các nước đang phát triển; bài học
9
kinh nghiệm của Mỹ và thế giới qua triển khai ĐT theo HTTC. Tác giả đã nêu rõ
một số yếu tố quan trọng để chuyển đổi thành công QTĐT theo HTTC như: các
văn bản pháp lý của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước; sự đồng thuận của xã hội;
sự phù hợp với các thành tố của QTĐT. Tác giả cũng lưu ý đối với các trường ĐH
triển khai phương thức này ở các nước đang phát triển không rập khuôn hoàn toàn
mô hình của Mỹ mà cần căn cứ vào các đặc điểm riêng gắn với điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể và văn hóa của đất nước mình mới có thể đạt kết quả khả quan về CLĐT.
Ở Trung Quốc, các nhà khoa học Jinsong Zhang, Changliu Wang và Lulu
Dong đã công bố bài viết “Analysis of restrictive factors on the university credit system
CĐ Việt Nam” [43]. Tác giả nêu ra một trong những khuyến cáo là không nên nghĩ
hệ tín chỉ chỉ thích hợp với các trường "giàu" mà chính các trường "nghèo" lại càng
cần phải triển khai sớm hệ tín chỉ và muốn thành công phải làm theo kiểu “nghèo’.
Nhằm làm rõ bản chất của HTTC, cơ chế hoạt động của phương thức ĐT này,
tác giả Trần Thanh Ái đã công bố nghiên cứu quan trọng “Đào tạo theo hệ thống
tín chỉ: Các nguyên lý, thực trạng và giải pháp” [1]. Tác giả đã công phu: Lược khảo
tài liệu về các nguyên lý của nền giáo dục mới và các biện pháp thực hiện; Nêu một số
vấn đề bất cập khi áp dụng ĐT theo HTTC; Kết luận và kiến nghị 10 điểm cần
thực hiện để bảo đảm triển khai thành công chủ trương của Bộ GD-ĐT về ĐT theo
HTTC ở các trường ĐH Việt Nam. Hai nhà nghiên cứu Eli Mazur & Phạm Thị Ly
nhấn mạnh về mục tiêu sư phạm của HTTC trong bài viết “Mục tiêu Sư phạm của
hệ thống đào tạo theo tín chỉ Mỹ và những gợi ý cho cải cách GDĐH Việt Nam” [25]
đã trình bày khái quát lịch sử và chức năng quản lý của HTTC Mỹ (xác định vai trò
SV, GV, trường ĐH, Nhà nước); Các vấn đề tranh luận và tầm nhìn: HTTC trong các
trường ĐH hiện đại; Bài học của Trung Quốc trong việc thực hiện HTTC ở Mỹ.
Nghiên cứu các thành tố của QTĐT, tác giả Zjhra, Michelle (Phạm Thị Ly
dịch) đã có bài báo “Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi CTĐT và vai trò của
giáo viên” [79], đưa ra một số khuyến nghị liên quan đến CTĐT và xây dựng đội ngũ
GV ở các trường ĐH của Việt Nam.
Một số công trình nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện phương thức ĐT theo
HTTC của một số nước châu Á đáng quan tâm của tác giả Lê Văn Hảo với bài viết
“Tổ chức đào tạo đại học theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Malaysia và so sánh với
Việt Nam” [29]; tác giả Phạm Thị Ly nghiên cứu về “Chuyển đổi sang hệ thống
đào tạo theo tín chỉ - kinh nghiệm của Trung Quốc” [94].
Nghiên cứu thực trạng áp dụng các thành tố ĐT theo HTTC, việc áp dụng
phương pháp dạy học trong ĐT theo HTTC là một trong những vấn đề quan tâm
trong ĐT và QLĐT theo HTTC được đề cập ở các Hội thảo “Đổi mới phương pháp
dạy theo học chế tín chỉ” của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.
Hồ Chí Minh [70],
Systems - HTTC Mỹ). Những kết quả nghiên cứu giúp ích cho việc tìm hiểu
nguồn gốc, mô hình ứng dụng và sự thành công của ĐT theo HTTC tại các trường
ĐH ở châu Âu và châu Mỹ.
Hội thảo về ĐT theo HTTC do ASEM Education Secretariat (Văn phòng
giáo dục các quốc gia thành viên Á, Âu) tổ chức vào tháng 4/2010 với sự tham dự
của 40 chuyên gia GDĐH Á, Âu đã công bố kết quả nghiên cứu “Credit Systems
and Learning Outcomes in ASEM Member Countries” (HTTC và kết quả học tập ở
các nước thành viên ASEM) [80]. Nghiên cứu đã phân tích và giới thiệu về
hệ thống đào tạo tín chỉ tại các nước thành viên của ASEM. Nghiên cứu cũng
cho thấy, ĐT theo HTTC là xu hướng toàn cầu và một trong những điều kiện để các
12
nước nói chung và các nước châu Á, thuộc thành viên ASEM, hội nhập với đào tạo
ĐH trên thế giới.
Ở Đông Nam Á, nhà quản lý giáo dục Vipat Kuruchittham đã công bố
nghiên cứu “Cơ chế thúc đẩy hợp tác và hài hòa giáo dục đại học châu Á: Hệ thống
chuyển đổi tín chỉ và bảo đảm chất lượng” [76]. Tác giả đã trình bày khái quát
thông tin về cơ chế thúc đẩy hợp tác và hài hòa GDĐH ở Châu Á, trong đó
nhấn mạnh đến “thách thức của toàn cầu hóa và cộng đồng ASEAN, cần thiết
đẩy nhanh triển khai hợp tác việc chuyển đổi tín chỉ và đảm bảo chất lượng ở các nước
châu Á và Đông Nam Á(ASEAN) thông qua “Chương trình trao đổi sinh viên ASEAN”.
Nghiên cứu về đào tạo theo HTTC trong các trường ĐHĐP có các công trình
tiêu biểu như:
Trong hệ thống GDĐH Mỹ, loại hình Trường CĐ cộng đồng (Community
Colleges) đã ra đời cách đây hơn 100 năm, là ĐH công lập trực thuộc chính phủ các
bang của Mỹ, nhằm đáp ứng nhanh ĐT và dạy nghề của cộng đồng địa phương
(mô hình này có nhiều điểm tương đồng với mô hình trường ĐHĐP ở Việt Nam).
Đây là mô hình ĐT hai năm ĐH căn bản, nhằm thu hút đông đảo SV, không đặt ra
yêu cầu cao ở đầu vào (giống như ĐH Đại cương của Việt Nam trước đây).
“Cơ sở khoa học xây dựng trường ĐHĐP đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trong
bối cảnh hiện nay” [34] đã làm rõ một số vấn đề lý luận xây dựng trường ĐHĐP
đáp ứng yêu cầu ĐT nhân lực, nhất là nhân lực tại chỗ trong bối cảnh hiện nay;
khẳng định ưu thế và vai trò của trường ĐHĐP so với các thiết chế giáo dục khác
trên địa bàn; làm rõ thực trạng trường ĐHĐP ở Việt Nam, xác định các đặc trưng
khác biệt so với trường ĐH truyền thống, phát hiện các hạn chế chủ yếu, điểm mạnh,
yếu, thời cơ, nguy cơ của trường ĐHĐP; đề xuất những giải pháp cơ bản xây dựng
mô hình tổ chức và hoạt động ĐT của trường ĐHĐP mang tính đặc thù khác biệt với
ĐH truyền thống, tăng cường tính địa phương và gia tăng khả năng phục vụ nền
kinh tế địa phương, đáp ứng yêu cầu ĐT nhân lực trong bối cảnh hiện nay. Trước đó,
tác giả Nguyễn Huy Vị đã bảo vệ luận án “Nghiên cứu mô hình trường CĐ
cộng đồng đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương ở Việt Nam” [74].
Công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thanh Hải [27] “Đào tạo tín chỉ
trong các trường ĐHĐP– Thực trạng và giải pháp” đã khái quát tổng quan về
HTTC và việc áp dụng ĐT theo HTTC ở Việt Nam; nêu các nhược điểm trong ĐT
theo HTTC ở các trường ĐHĐP. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp
cải thiện hoạt động ĐT theo HTTC (khuyến khích sự tham gia tích cực của
người học vào QTĐT; tăng cường vai trò và nhiệm vụ của GV; tạo cơ chế QLĐT
linh hoạt, phù hợp với thực tế về chính sách tuyển sinh, quản lý học vụ, CSVC).
14
Đồng tác giả Nguyễn Đức Vượng và Lê Trọng Đại cũng đã có bài viết: “Tìm lời
giải bài toán đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường ĐHĐP ở Việt Nam
hiện nay” [78]. Các tác giả đã trình bày thực trạng áp dụng loại hình ĐT theo HTTC
trong các trường ĐH ở Việt Nam nói chung và trường ĐHĐP thời gian qua, đồng
thời đề xuất các giải pháp giải quyết các khó khăn trong ĐT theo HTTC.
Ở một số Hội thảo khoa học của các trường ĐHĐP đã có nhiều báo cáo
liên quan đến quy trình ĐT, các nội dung của ĐT theo HTTC. Tháng 5/2013,
Tác giả đã đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động phục vụ đào tạo trong
nghiên cứu có thể xem xét, vận dụng linh hoạt vào các trường đại học trên thế giới.
Luận án TS của tác giả Bùi Thị Thu Hương [39] về “Quản lý chất lượng
chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo
tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” đã nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề
lý luận về quản lý chất lượng CTĐT nói chung, quản lý chất lượng theo quan điểm
quản lý chất lượng tổng thể nói riêng đối với QTĐT hệ cử nhân chất lượng cao tại
các trường ĐH; Cụ thể hóa nội dung và quy trình theo cách tiếp cận này cho quản lý
nhằm đào tạo một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, phù hợp với xu thế hội nhập
hiện nay; Đề xuất một số biện pháp vận dụng một số đặc trưng cơ bản của quản lý
chất lượng tổng thể vào quản lý chất lượng CTĐT hệ cử nhân chất lượng cao,
đồng thời khuyến nghị với các cơ quan quản lý về đào tạo cơ chế và chính sách
phù hợp để trường ĐH có thể từng bước đưa triết lý quản lý chất lượng tổng thể vào
quản lý chất lượng CTĐT của trường mình.
Đặc biệt, luận án TS của tác giả Cấn Thị Thanh Hương “Nghiên cứu quản lý
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam” [37] đã có
những đóng góp mới: Góp phần làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về KT-ĐG kết quả
học tập và vận dụng khoa học quản lý vào quản lý KT-ĐG kết quả học tập trong
GDĐH; Đánh giá thực trạng quản lý KTĐG kết quả học tập trong GDĐH và chỉ ra
những yêu cầu phát triển của xã hội, của GDĐH đối với quản lý KT-ĐG kết quả
học tập; Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của
hoạt động KT-ĐG kết quả học tập ở bậc ĐH có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn
GDĐH Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
Đối với hoạt động CVHT, tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh có bài báo “Quản lý
hoạt động của cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ” đã trình bày các
giải pháp chủ yếu, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng công tác CVHT trong ĐT
theo HTTC [47].
Các nghiên cứu về giải pháp QLĐT theo HTTC cũng được nhiều tác giả
công bố. Tác giả Nguyễn Văn Nhã đã có bài viết “Các giải pháp triển khai
16