Lời cám ơn
Trong thời gian vừa qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, cán bộ, gia đình cùng bạn bè
để hoàn thành khoá luận của mình. Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giảng dạy và hướng
dẫn thực tập khoa Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong thời gian học tập và rèn
luyện tại trường. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Đinh Tiến
Dũng – Viện Môi trường Nông nghiệp và ThS. Nguyễn Thị Thu Hà –trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn dự án “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoá
chất nông nghiệp đến hiện tượng tôm chết hàng loạt Đồng bằng Sông Cửu
Long” cung cấp kỹ thuật, phương tiện và kinh phí để thực hiện nghiên cứu
này. Tôi xin cảm ơn các cán bộ làm việc tại Trung tâm Phân tích và Chuyển
giao Công nghệ Môi trường – Viện Môi trường nông nghiệp đã tạo điều kiện
và trực tiếp giúp đỡ tôi trong bố trí thí nghiệm và phân tích mẫu.
Cuối cùng tôi muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình
vàbạn bè, những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập,
rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm
2013
Người thực hiện
1
MỤC LỤC
2
International Union of Pure and Applied Chemistry
(Liênhiệp Hóa học Thuần túy và Ứng dụng Quốc tế)
NN
Nông nghiệp
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
PAC
Powdered Activated Carbon (than hoạt tính dạng bột)
PBA
3 - phenoxybenzoic acid
PTNT
Phát triển Nông thôn
TCE
Tricloetylen
VLHP
Vật liệu hấp phụ
nguyên nhân chính nữa là do thuốc diệt giáp xác. Rất nhiều báo cáo khoa học,
ý kiến của các nhà quản lý, nông dân cho rằng chính từ thuốc BVTV hoặc hóa
chất có nguồn gốc từ thuốc BVTV mà người nông dân lạm dụng dùng để diệt
tạp cho ao nuôi của mình đã làm cho tôm ngộ độc. Trong các thuốc BVTV thì
Cypermethrin được sử dụng rất phổ biến.
Mặc dù ô nhiễm hóa chất được coi là một trong số các tác nhân gây
chết tôm quan trọng nhưng cho đến nay ở trong nước vẫn chưa có công trình
nghiên cứu chuyên sâu nào về lĩnh vực này. Trong khi đó, các công nghệ xử
lý dư lượng hóa chất trong ao nuôi nói riêng và trong nông nghiệp nói chung
hiện còn rất hạn chế kể cả trên thế giới lẫn trong nước. Than hoạt tính được sử
dụng khá phổ biến trong công nghệ hấp phụ chất ô nhiễm hữu cơ có nồng độ
thấp, thêm vào đó trong nước và trên Thế giới hiện nay đã có nhiều nghiên
cứu làm cơ sở để ứng dụng công nghệ hấp phụ sử dụng than hoạt tính vào xử
lý dư lượng thuốc BVTV. Mặc dù việc sử dụng than hoạt tính khá phổ biến
trong xử lý nước ngọt, trong nước mặn và nước lợ hiện có rất ít nghiên cứu.
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
khả năng hấp phụ Cypermethrin của than hoạt tính (GAC) trong nước
lợ”qua đó đề xuất thiết kế mô hình cột hấp phụ Cypermethrin bằng than hoạt
tính (GAC) xử lý Cypermethrin trong nước lợ.
1.2. Mục đích nghiên cứu
5
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ Cypermethrin
của than hoạt tính dạng hạt (GAC) trong môi trường nước lợ.
- Đánh giá khả năng hấp phụ Cypermethrin của than hoạt tính GAC
làm cơ sở đề xây dựng phương án hấp phụ xử lý Cypermethrin.
1.3. Yêu cầu nghiên cứu
- Xây dựng được cơ sở dữ liệu về khả năng hấp phụ Cypermethrin của
số lượng hoạt chất đã tăng lên tới70. Ở Mexico, năm 2001 có tới 179 hóa chất
đã sử dụng trong ao nuôi tôm.
7
Theo nghiên cứu của Kanchanakarn (1986), ở Thái Lan, Dipterex được
khuyến cáo sử dụng rộng rãi ở lượng 0,25 – 0,3 ppm để diệt các loài giáp xác,
sinh vật và ký sinh trùng đơn bào trong ao nuôi cá. Sử dụng Dipterex cao hơn
2 - 3 lần. Khi phân tích chi phí/lợi ích của các trang trại khác nhau ở miền
đông Thai Lan Tonguthai, Kamonporn (2000) đã cho thấy nông dân đã chi
khoảng 10 baht cho sử dụng hóa chất cho mỗi 1 kg tôm thương phẩm. Năm
1995, khi sản lượng tôm đạt 250.000 tấn, ước tính ít nhất 2.500 triệu Baht
(100 triệu USD) đã phải chi cho riêng các hóa. Những hóa chất này Thai Lan
nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ, Canada, Anh, Australia và Nhật Bản.
Bên cạnh thuốc BVTV được sử dụng trực tiếp để diệt giáp xác trong
ao, 1 lượng thuốc cũng đã xâm hập vào ao qua nguồn nước bị ô nhiễm thuốc
BVTV do rò rỉ, thẩm thấu trong quá trình sử dụng trên các cây trồng NN.
2.1.1. Đặc điểm và tính chất của Cypermethrin
Theo Trương Quốc Phú (2012), Cypermethrin là một loại thuốc trừ sâu
tổng hợp thuộc pyrethoid (thuốc bảo vệ thực vật thảo mộc chiết suất từ các
loài thuộc nhóm hoa cúc), chúng được tổng hợp thành công vào năm 1974 và
được tung ra thị trường lần đầu tiên vào năm 1977do các nhà sản xuất Zeneca
Inc., FMC Corp., và American Cyanamid co., với các tên thương mại như
Demon, Cybush, Ammo, Cynoff… Cypermethrin là một hợp chất hữu cơ có
tên
hóa
học
gian bán hủy của dạng đồng phân trans là 923 ngày, 136 ngày, 5 ngày và 23
phút tương ứng với điều kiện pH là 3, 7, 8 và 11. Dạng đồng phân cis bền hơn
nên có thời gian bán hủy là 1302 ngày, 221 ngày, 21 ngày và 38 phút, tương
ứng với điều kiện pH là 3, 7, 8 và 11.Thời gian bán hủy của cypermethrin do
quang phân tương đối nhanh hơn so với thủy phân. Trong nước (nhiệt độ
200C và pH = 4) thời gian bán hủy là 12,4 - 14,8 ngày, trong không khí thời
gian bán hủy là 3,47 giờ và trong đất thời gian bán hủy là 34,2 - 38,2 ngày.
2.1.2. Nguồn gốc của Cypermethrin trong ao nuôi tôm
Nguồn chủ động: Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản I (2004), ít nhất có 1893 chỉ có 1500 sản phẩm được cấp phép,
trong đó có 476 sản phẩm có chứa chất kháng sinh được sử dụng trong NTTS.
Trong đó có 373 loại diệt trừ dịch hại, 14 loại xử lý đất và nước, 6 chất gây màu
nước, 86 chất khử trùng và diệt tạp, 138 kháng sinh, 47 loại chế phẩm sinh học
(CPSH), 13 loại vitamin, 57 loại thức ăn bổ sung, 10 loại hormone, 5 loại không
xác định. Nuôi tôm dùng 186 loại (có 32 loại kháng sinh); sản xuất tôm giống 98
loại (39 kháng sinh); nuôi cá biển 29 loại (14 loại kháng sinh); nuôi cá lồng nước
ngọt 74 loại (41 loại kháng sinh); nuôi cá ao nước ngọt 67 loại (31 kháng sinh);
sản xuất cá giống nước ngọt 85 loại (37 kháng sinh). Trong số đó, theo Mai Văn
Tài và ctv (2004) vẫn còn 5 loại đã bị Bộ thủy sản (nay là bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn) cấm kinh doanh, sản xuất và sử dụng.
Như vậy có thể nhận thấy các hóa chất chính có trong ao nuôi tôm xuất
phát từ hoạt động khử trùng và diệt tạp, hóa chất sử dụng trong các sản phẩm
chế phẩm sinh học và thức ăn bổ sung, hoocmon. Có 194 loại thuốc, hóa chất
và CPSH được sử dụng trong nuôi tôm với 32 loại thuốc kháng sinh được
29% hộ sử dụng; 98 loại trong sản xuất tôm giống với 39 loại thuốc kháng
sinh. Kháng sinh được dùng chủ yếu là nhóm Oxytetracyclin (Oxytetracyclin,
Tetracyclin, Doxycyclin), đặc biệt là các cơ sở sản xuất giống tôm
9
sulfamethoxazol, cortrimoxazol, aminosid, colistin và trimethoprim cũng
được sử dụng nhiều nhưng chiếm tỷ lệ thấp.
Quỳnh Hương (2012) cho rằng ” trên thị trường hiện có khoảng 20 sản
phẩm có chứa Cypermethrin với các tên gọi khác nhau như Sherpa, Ambush
C, Cymbush, Peran, Cyperan, Barricade, Ripcord, Ammo, Cypermethrine,
Cyperator, Hilcyperi, Neramethrin...Chất có chứaCypermethrin lâu nay chỉ
được dùng làm thuốc BVTV nhưng có trường hợp người dân dùng những sản
phẩm có Cypermethrin vào nuôi trồng thủy sản để diệt giáp xác tại các ao
nuôi thủy sản, nhất là trong quá trình cải tạo ao nuôi tôm. Đây là chất rất độc,
chỉ cần ở nồng độ 0,05 ppm cũng đủ làm tôm chết 50%.”
Bùn nền đáy ao:cũng là nguồn ô nhiễm quan trọngđối với các vùng
nuôi thâm canh, khi sự lắng đọng các chất ô nhiễm trong một thời gian dài mà
khả năng cải tạo cũng không thể làm sạch đường nền đáy ao. Nguyễn Văn
Hảo, Lê Hồng Phước và Cao Thành Trung (2011), đã nghiên cứu ở các mô
hình Trang tại tại Mỹ Thanh, Sóc Trăng cho thấy trong16mẫu đất bùn đáy ao
trên16aonuôitrongtấtcảcáctrangtrạithìcó50% (8/16 ao) chứa hàm lượng
Cypermethrin dao động từ 31.5 - 603.5 ppb. Kết quả phân tích này cho thấy
dư hàm lượng thuốc diệt giáp xác (Cypermethrin) trong ao nuôi rất lớn. Ở
những ao có hàm lượng thuốc diệt giáp xác có nồng độ tồn lưu cao, thì tôm
11
chết rất nhanh và thời gian sống của tôm ngắn. Như vậy có thể nhận thấy quá
trình thâm canh lâu năm đã dẫn đến sự lưu trú của Cypermethrin từ chất diệp
giáp xác, hoocmon… mà quá trình cải tạo ao cũng không thể tẩy hết.
2.1.3. Sự tồn tại và tích lũy sinh học Cypermethrin trong cơ thể tôm
Theo DeeAn Jones, thì khả năng hòa tan của Cypermethrin trong nước
rất là thấp, 4 ppb ở 200C. Cypermethrin rất kỵ nước và sẽ nhanh chóng
chuyển từ dung dịch nước để thành các hạt lơ lửng. Như vậy, một lượng
lơ lửng.
Nhóm thuốc trừ sâu pyrethroid (hiện có trên 30 hoạt chất) tác động đến
sinh vật bằng con đường tiếp xúc và vị độc. Pyrethroid tác động trực tiếp đến
hệ thần kinh của côn trùng và động vật máu nóng; gây rối loạn sự dẫn truyền
xung động của kênh natri dọc sợi trục của tế bào thần kinh côn trùng. Ở côn
trùng, pyrethroid chỉ tác động đến các trung tâm hô hấp; còn ở động vật máu
nóng, pyrethroid tác động đến các trung tâm hô hấp ở tuỷ sống và hệ thần
kinh kiểm soát chức năng của tim. Triệu chứng ngộ độc của pyrethroidtrong
côn trùng và động vật máu nóng rất giống nhau: trước tiên là kích động, rùng
mình, rối loạn tiếp sau là bại liệt và chết. Đại diện nhóm này gồm
cypermethrin, permethrin, fenvalarate, deltamethrin...
Khi tôm tiếp xúc với hóa chất sẽ làm tăng sự căng thẳng, do đó làm
giảm tăng trưởng của tôm, tăng khả năng mẫn cảm với VSV. Theo Bainy
(2000), các chất khử trùng, kháng sinh, thuốc trừ sâu, phân bón và phụ gia
thức ăn ... được sử dụng trong nuôi tôm, tất cả đều có một nguy cơ tiềm ẩn
gây ra tác dụng độc hại đối với tôm nuôi.
Khả năng tác động của Cypermethrin đến tôm nghiên cứu độc tính của
Cypermethrin đối với động vật thân mềm và cá nuôi nước ngọt đã được
nghiên cứu từ rất sớm. Các động vật thân mềm có nồng độ gây chết 50%
trong 24 giờ (24h LC50) từ 0,5 đến 2 ppb Cypermethrin.
13
Các tác giả người Mỹ Pahl & Opitz (1999), cũng nghiên cứu tác động
của Cypermethrin đối với tôm hùm nuôi, kết quả cho thấy LC 50 trong 1 - 48
giờ dao động từ 0,058 đến 1,69 ppb tùy thuộc vào nhiệt độ và giai đoạn phát
triển của tôm hùm. Các nghiên cứu về độc tính của Cypermethrin trên tôm
hùm nhằm cảnh báo tác hại của việc sử dụng thuốc Excis (1%w/c
Cypermethrin) để diệt rận biển (Lepeophtheirus salmonis và Caligus
tômchết tại các tỉnh ĐBSCL năm 2011 có thể là do ảnh hưởng các chất diệt
giáp xác có nguồn gốc thuốc BVTV tăng gấp 3 lần. Phần lớn người nuôi sử
dụng thuốc diệt tạp có thành phần Cypermethrin, thậm chí, rất nhiều hộ sử
dụng trực tiếp thuốc BVTV như Padan, Decid, Thiodan.... Các loại này có tác
14
dụng diệt tạp rất mạnh (do rất độc), giá lại rẻ hơn so với thuốc khử trùng ao
nuôi trong thủy sản nên nhiều nông dân sử dụng. Chúng tồn lưu dài trong đất,
nước, gây ngộ độc mãn tính cho tôm, làm cho gan tụy bị yếu, sức đề kháng
kém nên dễ phát sinh dịch bệnh. Khi gặp thời tiết biến động mạnh, tôm có thể
chết hàng loạt. Các chuyên gia của Trường Đại học Arizona cũng nhận định
rằng, hội chứng hoại tử gan tụy gây chết hàng loạt trên tôm thời gian qua có
thể do bị nhiễm độc từ các độc tố trong môi trường, trong đó có sản phẩm diệt
tạp có chứa Cypermethin.
Nguyễn Văn Hảo, Lê Hồng Phước và Cao Thành Trung (2011)đã
nghiên cứu về thuốc diệt giáp xác tồn dư trong ao nuôi cho thấy, trong 16
mẫu đất trên 16 ao nuôi trong tất cả các trang trại thì có 50% (8/16 ao) có hàm
lượng Cypermethrin dao động từ 31,5 - 603,5 ppb. Kết quả này cho thấy dư
lượng thuốc diệt giáp xác (Cypermethrin) trong ao nuôi rất lớn. Ở những ao
có hàm lượng thuốc diệt giáp xác có nồng độ tồn lưu cao,thì tôm chết rất
nhanh và thời gian sống của tôm ngắn. Nhiều nghiên cứu cho thấy với một
hàm lượng nhỏ thuốc trừ sâu như DDT, Methyl parathion, với nồng độ 0,6 - 6
ppb, 2 - 7 ppb có thể gây chết cho loài giáp xác đến 50%. Theo thí nghiệm
của Flegel và ctv (1992), với nồng độ 0,1 µg ở trong nước có thể gây chết tôm
(1 - 3g) đến 10% trong 10 ngày thí nghiệm điều này cho thấy với một nồng độ
cực nhỏ ở 0,1 ηg/l đã gây chết tôm.
Kết quả phân tích 8 mẫu nước và 13 mẫu bùn lắng lấy từ 2 tỉnh có thiệt
hại tôm chết nghiêm trọng nhất năm 2011 là Sóc Trăng và Bạc Liêu của Cục
BVTV và Viện Môi trường nông nghiệp cho thấy, 100% các mẫu nước này
99% (với tốc độ từ 1,8 đến 3 kg/h).Khí thải khi xử lý an toàn cho môi trường.
Tuy nhiên, nhược điểm của biện pháp này là chỉ sử dụng hiệu quả trong pha
lỏng và pha khí, chi phí cho xử lý cao, phải đầu tư lớn.
2.2.2. Biện pháp oxy hoá bằng ozon/tia cực tím
16
Ozon hoá kết hợp với chiếu tia cực tím là biện pháp phân huỷ các chất
thải hữu cơ trong dung dịch hoặc trong dung môi. Kỹ thuật này thường được
áp dụng để xử lý ô nhiễm thuốc trừ sâu ở Mỹ. Phản ứng phân huỷ hoá học:
Thuốc trừ sâu, diệt cỏ + O3 → CO2 + H2O + các nguyên tố khác
Ưu điểm của biện pháp này là sử dụng thiết bị gọn nhẹ, chi phí vận hành
thấp, chất thải ra môi trường sau khi xử lý là loại ít độc, thời gian phân huỷ rất
ngắn. Nhược điểm của biện pháp là chỉ sử dụng có hiệu quả cao trong các pha
lỏng, pha khí. Chi phí ban đầu cho xử lý là rất lớn.
2.2.3. Biện pháp phân huỷ sinh học
Trong những năm gần đây xu hướng sử dụng vi sinh vật để phân huỷ
lượng tồn dư hóa chất BVTV một cách an toàn được chú trọng nghiên cứu.
Phân huỷ sinh học tồn dư hoá chất BVTV trong đất, nước, rau quả là một
trong những phương pháp loại bỏ nguồn gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức
khoẻ cộng đồng và nền kinh tế. Biện pháp phân huỷ hóa chất BVTV bằng tác
nhân sinh học dựa trên cơ sở sử dụng nhóm vi sinh vật có sẵn môi trường đất,
các sinh vật có khả năng phá huỷ sự phức tạp trong cấu trúc hoá học và hoạt
tính sinh học của hóa chất (BVTV). Tập đoàn vi sinh vật đất có thể phân huỷ
hóa chất BVTV và dùng thuốc như là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và
năng lượng để chúng xây dựng cơ thể.
Một số loài thuốc thường chỉ bị một số loài vi sinh vật phân huỷ nhưng
có một số loài vi sinh vật có thể phân huỷ được nhiều hóa chất BVTV trong
cùng một nhóm hoặc khác nhóm. Ví dụ, thuốc trừ cỏ 2,4-D bị 7 loài vi khuẩn,
đáng ý nghĩa thực tế của xử lý sinh học. Ngoài ra, với những kỹ thuật sinh học
phân tử hiện đai có thể tạo ra những chủng vi khuẩn có khả năng phân huỷ
đồng thời nhiều hoá chất độc hại mà không yêu cầu điều kiện nuôi cấy phức
tạp và không gây hại cho động thực vật cũng như con người. Phương pháp này
sẽ được ứng dụng rộng rãi trong tương lai vì ý nghĩa thực tế của nó khi xử lý
các chất thải độc hại ngày càng được mọi người chấp nhận.
18
2.2.4. Công nghệ oxy hóa tiên tiến (AOT)
Là quá trình tạo ra tác nhân ôxy hoá OH, thông qua sử dụng tác nhân
hoá học H2O2 (với các chất xúc tác thích hợp như muối của Cu, Mn), Ozone,
Fenton (H2O2/ Fe
2+
), Bichromat, Permanganat. Phản ứng xảy ra nhiều giai
đoạn với các sản phẩm trung gian. Cần nghiên cứu xác định điều kiện tối ưu
trong từng trường hợp cụ thể ở nước ta để phản ứng xảy ra có hiệu suất cao
nhất. Tác nhân quang hoá (Photochemical) là quá trình ôxy hoá quang hoá mà
chất hữu cơ độc hại bị phân huỷ dưới tác dụng của tia UV (bước sóng 280 410 nm) và chất xúc tác như TiO2 (Hệ TiO2/UV), với sự có mặt của ôxy trong
không khí. Tuy đây là phương pháp có chi phí thấp song chỉ có thể ứng dụng
khi hàm lượng chất độc thấp và thời gian xử lý kéo dài. Phối hợp tác nhân
ôxy hoá và quang hoá (Ozone+ UV, Fenton + UV,...) có thể tăng hiệu quả
phân huỷ chất độc hữu cơ. Tuy nhiên, hiệu quả phân huỷ cũng phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: độ dày của lớp cần xử lý, điều kiện thời tiết, sự phân huỷ
quang hoá của chính H2O2.
Phương pháp Ozone + UV chỉ có thể áp dụng được cho pha lỏng và
ra ở nhiệt độ và áp suất thường, không gây cháy nổ, không độc hại với môi
trường, an toàn khi xử lý, giá thành xử lý có thể chấp nhận.
Flaherty et al. (1992) đã áp dụng quá trình Fenton để xử lý nước thải
chứa thuốc nhuộm hoạt tính Reactive Blue 15. Nước thải có pH 12, độ kiềm
CaCO3 21.000 gl/l, COD 2.100 mg/l và tổng nồng độ đồng 14 mg/l. Nồng độ
Fe2+ giữ ở 2.10 - 2 M, pH chỉnh xuống 3,5. Trong thí ở dòng liên tục, phản ứng
xảy ra trong thiết bị phản ứng dung tích 1 lít, được khuấy trộn trong 2 giờ.
Kết quả, giảm được 70% COD. Sau khi lắng 24 giờ, nồng độ đồng trong nước
đã lắng trong chỉ còn 1 mg/l, tương ứng với mức độ xử lý 93%.Vella et al.
(1993) đã tiến hành nghiên cứu phân hủy Tricloetylen (TCE) trong nước với
nồng độ pha chế 10mg/l bằng quá trình Fenton. Phản ứng thực hiện ở giữa 3,9
và 4,2 với tỷ lệ mol Fe 2+: H2O2 bằng 0,2 và sử dụng liều lượng H 2O2 là 53 và
75 mg/l. Kết quả cho thấy khi thí nghiệm với H 2O2 53 mg/l hoặc cao hơn, trên
80% TCE bị phân hủy sau 2 phút. Hunter (1996) đã nghiên cứu xử lý 1,2,3 Triclopropan với nồng độ ban đầu là 150 mg/l và cho thấy điều kiện xảy ra tốt
nhất khi pH từ 2,0 đến 3,3. Khi tăng nồng độ Fe 2+ có khả năng làm tăng tốc độ
phân hủy 1,2,3 - Triclopropan.
2.2.7. Biện pháp hấp phụ
Biện pháp hấp phụ có thể sử dụng đối với nhiều đối tượng chất ô nhiễm
khác nhau: không khí, dung dịch. Trong xử lý thuốc BVTV, phương pháp hấp
phụ có ưu điểm: giá thành xử lý thấp, hiệu quả xử lý cao đối với nhiều chất ô
20
nhiễm tương tự đã được chứng minh. Tuy nhiên, bên cạnh đó phương pháp
này cũng có một số nhược điểm như sau: khó bố trí hệ thống xử lý quy mô
lớn, chưa có nhiều nghiên cứu trong nước lợ, tồn tại vấn đề hấp phụ cạnh
tranh khi trong nước có nhiều tác nhân ô nhiễm khác nhau. Đặc tính và khả
năng ứng dụng của phương pháp được chỉ ra ở phần 2.3.
2.3. Phương pháp hấp phụ trong xử lý tồn dư thuốc bảo vệ thực vật
chất hấp phụ và chất bị hấp phụ phức tạp hơn rất nhiều vì trong hệ có ít nhất
ba thành phần gây tương tác: nước,chất hấp phụ và chất bị hấp phụ. Do sự có
mặt của dung môi nên trong hệ sẽ xảy ra quá trình hấp phụ cạnh tranh giữa
chất bị hấp phụ và dung môi trên bề mặt chất hấp phụ. Tính chọn lọc của cặp
tương tác phụ thuộc vào độ tan của chất bị hấp phụ trong nước, tính ưa nước
hoặc kị nước của chất hấp phụ, mức độ kị nước của các chất bị hấp phụ trong
môi trường nước. So với hấp phụ trong pha khí, sự hấp phụ trong môi trường
nước thường có tốc độ chậm hơn nhiều do khuếch tán phân tử chất tan chậm.
Cũng theo Lê Văn Cát, (2002);TrầnVănNhân,HồThị Nga (2005);Trần
Văn Nhân, Nguyễn Thạc Sửu, Nguyễn Văn Tuế, (1998) thì sự hấp phụ trong
môi trường nước chịu ảnh hưởng nhiều bởi pH của môi trường. Sự thay đổi
pH không chỉ dẫn đến sự thay đổi về bản chất chất bị hấp phụ (các chất có
tính axit yếu, bazơ yếu hay trung tính phân li khác nhau ở các giá trị pH khác
nhau) mà còn làm ảnh hưởng đến các nhóm chức trên bề mặt chất hấp
phụ.Trong môi trường nước, các chất hữu cơ có độ tan khác nhau. Khả năng
hấp phụ trên VLHP đối với các chất hữu cơ có độ tan cao sẽ yếu hơn với các
chất hữu cơ có độ tan thấp hơn. Phần lớn các chất hữu cơ tồn tại trong nước
dạng phân tử trung hoà, ít bị phân cực. Do đó quá trình hấp phụ trên VLHP
đối với chất hữu cơ chủ yếu theo cơ chế hấp phụ vật lý.Đặng Trần Phòng,
Trần Hiếu Nhuệ (2005) cho rằng khả năng hấp phụ các chất hữu cơ trên
22
VLHP phụ thuộc vào: pH của dung dịch, lượng chất hấp phụ, nồng độ chất bị
hấp phụ.
Động học hấp phụ: Trong môi trường nước, quá trình hấp phụ xảy ra
chủ yếu trên bề mặt của chất hấp phụ, vì vậy quá trình động học hấp phụ xảy
ra theo một loạt các giai đoạn kế tiếp nhau.Trong đó, giai đoạn nào có tốc độ
chậm nhất sẽ quyết định hay khống chế chủ yếu toàn bộ quá trình hấp phụ.
Đường đẳng nhiệt hấp phụ có thể xây dựng trên cơ sở lý thuyết, kinh nghiệm
hoặc bán kinh nghiệm, hiện nay có một số phương trình phổ biến sau:
Trong các phương trình trên, ν là thể tích chất bị hấp phụ, ν m là thể tích
hấp phụ cực đại, p là áp suất chất bị hấp phụ ở pha khí, p o là áp suất hơi bão
hoà của chất bị hấp phụ ở trạng thái lỏng tinh khiết ở cùng nhiệt độ. Các kí
23
hiệu a, b, k, n là các hằng số. Để đánh giá khả năng hấp phụ của một hệ hấp
phụ, đặc biệt là hấp phụ trong môi trường nước, người ta thường áp dụng
phương trình đẳng nhiệt Freundlich (với giả thiết nhiệt hấp phụ vi phân không
thay đổi khi độ che phủ (dung lượng hấp phụ) thay đổi và khoảng nồng độ
chất bị hấp phụ nhỏ) hoặc Langmuir (với giả thiết bề mặt chất hấp phụ đồng
nhất về năng lượng), do các phương trình này có ý nghĩa vật lý cao và liên
quan trực tiếp đến các thông số cấu trúc xốp của chất hấp phụ.
Bảng 2.2. Một số đường đẳng nhiệt hấp phụ thông dụng
Đường đẳng nhiệt
hấp phụ
Phương trình
Bản chất sự
hấp phụ
Langmuir
Vật lý và hóa
học
24
Hệ số Kf liên quan đến dung lượng nền hấp phụ của chất hấp phụ đối
với chất bị hấp phụ. 1/n là hàm cường độ hấp phụ. Từ phương trình đẳng
nhiệt ta thấy được, đối với một giá trị của K f và C, giá trị 1/n càng nhỏ thì khả
năng hấp phụ càng lớn. Khi 1/n rất nhỏ thì hấp phụ có xu hướng độc lập đối
với C. Và đối với một giá trị cho trước C và 1/n, giá trị K f càng lớn thì khả
năng hấp phụ càng lớn.
2.3.2. Đặc điểm và khả năng hấp phụ của than hoạt tính
Than hoạt tính: Theo Bansal R.C. , Goyal M.(2005), có rất nhiều định
nghĩa về than hoạt tính, tuy nhiên có thể nói chung rằng, than hoạt tính là một
dạng của cacbon đã được xử lý để mang lại một cấu trúc rất xốp, do đó có
diện tích bề mặt rất lớn.Than hoạt tính ở dạng than gỗ đã hoạt hóa được sử
dụng từ nhiều thế kỷ trước. Người Ai cập sử dụng than gỗ từ khoảng 1500
trước công nguyên làm chất hấp phụ cho mục đích chữa bệnh. Người Hindu
cổ ở Ấn độ làm sạch nước uống của họ bằng cách lọc qua than gỗ. Việc sản
xuất than hoạt tính trong công nghiệp bắt đầu từ khoảng năm 1900 và được sử
dụng làm vật liệu tinh chế đường. Than hoạt tính này được sản xuất bằng cách
than hóa hỗn hợp các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật trong sự có mặt
của hơi nước hoặc CO2.
Tất cả các nguyên liệu chứa cacbon đều có thể chuyển thành than hoạt
tính, sản phẩm thu được sẽ có sự khác nhau phụ thuộc vào bản chất của
nguyên liệu được sử dụng, bản chất của tác nhân hoạt hóa và điều kiện hoạt
hóa. Trong quá trình hoạt hóa hầu hết các nguyên tố khác trong nguyên liệu
tạo thành sản phẩm khí và bay hơi, các nguyên tử cacbon sẽ nhóm lại với
nhau thành các lớp thơm liên kết với nhau một cách ngẫu nhiên. Sự sắp xếp
của các lớp thơm này không tuân theo qui luật do đó để lại các chỗ trống giữa
các lớp tạo ra khả năng hấp phụ cao cho than hoạt tính.