ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA LŨ LỤT ĐẾN SINH KẾ HỘ NÔNG DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
ĐẶNG THỊ HỒNG THÚY
Huế, tháng 5 năm 2017
1
2
Lời Cảm Ơn
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác.
Để có được kết quả này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn
nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình, sự giúp đỡ của quý thầy cô giáo, gia
đình và bạn bè.
Hợp tác xã
ATNĐ
Áp thấp nhiệt đới
BĐKH
Biến đổi khí hậu
KH
Kế hoạch
KTTV
Khí tượng thủy văn
PCTT
Phòng chống thiên tai
PCLB & TKCN
Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn
ĐVT
Đơn vị tính
HST
Hệ sinh thái
TBNN
Trung bình nhiều năm
BQL
Ban quản lý
DANH MỤC BẢNG
5
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
6
Hiện nay, diễn biến thời tiết ngày càng trở nên phức tạp. Nhiều hiện tượng thời
tiết cực đoan như nước biển dâng mưa đá, bão, lốc xoáy, hạn hán và trong đó có lũ
lụt… xảy ra với tần suất , cường độ và mức độ phức tạp tăng dần qua hằng năm.
Nguyên nhân cả hiện tượng đó là do quá trình phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa
diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới điều này đã kéo theo những thảm họa về môi
trường, sự nóng lên toàn cầu, làm băng tan ở 2 cực khiến mực nước biển dâng, lũ lụt
huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị”, tổng hợp lại cơ sở lý luận về các vấn đề lũ
lụt, cơ sở thực tiễn về tình hình tác động của lũ lụt trên thế giới, Việt Nam nói
chung và địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị nói riêng. Đề tài thống kê các
báo cáo của huyện Hải Lăng trong công tác PCTT năm 2016 đồng thời thu thập
7
các số liệu thiệt hại tại các hộ gia đình, các công tác khắc phục lũ lụt của huyện
Hải Lăng.
Trọng tâm của đề tài phân tích tác động và thiệt hại do lũ lụt gây ra đến
hộ gia đình chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn
thống kê những ảnh hưởng đến các chỉ tiêu con người. Bên cạnh đó tìm hiểu
kinh nghiệm phòng chống lũ lụt của các hộ trên địa bàn từ đó đưa ra những kết
luận về mức độ ảnh hưởng mà lũ lụt gây ra.
Dựa trên những thiệt hại mà lũ lụt gây ra cho cộng đồng cũng như các hộ
gia đình trên địa bàn để đưa ra một số giải pháp, các mô hình dự án nhằm phục
vụ cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong tương lai nhằm hạn
chế đến mức thấp nhất những rủi ro mà lũ lụt gây ra góp phần ổn định đời sống
của người dân.
8
I.
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do lựa chọn đề tài
II.
Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề môi
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
9
VIII.
Xem xét ảnh hưởng của lũ lụt đến sinh kế của hộ nông dân tại huyện Hải
Lăng, tỉnh Quảng Trị.
2.2 Mục tiêu cụ thể
IX. - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề lũ lụt, tình hình lũ lụt của huyện Hải
Lăng những năm gần đây, đặc biệt là năm 2016.
X. - Đánh giá tác động của lũ lụt đến sinh kế của hộ nông dân ở huyện Hải Lăng,
tỉnh Quảng Trị.
XI. - Tìm hiểu khả năng và cách ứng phó với lũ lụt của người dân địa phương.
- Đưa ra các giải pháp phòng chống, tác động của thiên tai nói chung và lũ lụt nói
riêng đến sinh kế hộ nông dân.
3. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu:
XII.3.1 Đối tượng nghiên cứu
XIII.
Đề tài tập trung nghiên cứu về việc đánh giá tác động của lũ lụt sinh kế
hộ nông dân huyện Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị.
XIV.
XV.
XVI.
XVII.
XXII.
- Các phương pháp định giá
XXIII.
+ Phương pháp giá thị trường và chi phí cơ hội:
• Phương pháp giá thị trường: Ước tính những thiệt hại vật chất hữu hình do lũ lụt gây
ra cho cộng đồng (cầu, đường, kênh mương, cơ sở hạ tầng,…) và hộ gia đình (tổn thất
và thiệt hại về nhà cửa và tài sản hộ gia đình; sản lượng nông nghiệp các loại bị mất,
gia súc chết, hàng hóa dự trữ bị hư hại…) được tính bằng giá thị trường.
• Phương pháp chi phí cơ hội: Được sử dụng để tính toán các thiệt hại sản phẩm do
người bệnh mất khả năng làm việc, thiệt hại sản phẩm do người nhà bệnh nhân phải
chăm sóc bệnh nhân.
•
Phương pháp duy vật biện chứng: Sử dụng phương pháp biện chứng trong việc chỉ sự
tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các hiện tượng
tự nhiên bão lũ với các sự vật, con người, động vật, thực vật...
XXIV.
4. Phạm vi nghiên cứu
XXV.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu dựa trên thông tin, số liệu điều
tra từ 60 hộ dân ở 3 xã: Hải Thiện, Hải Vĩnh, Hải Thành thuộc huyện Hải Lăng,
tỉnh Quảng Trị.
XXVI.
- Phạm vi thời gian: Các dữ liệu, thông tin sử dụng được thu thập chủ
yếu trong năm 2016 và điều tra hộ gia đình đầu năm 2017.
XXVII.
- Phạm vi nội dung: Đánh giá tác động của lũ lụt đối với sinh kế của hộ
nông dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
XXVIII.
XXIX.
XXX.
Đông. Dải đất bị chia cắt bởi nhiều nhánh núi Trường Sơn vươn ra đến tận biển nên
đồng bằng ở miền Trung rất hẹp.
XL. Bờ biển vùng duyên hải miền Trung dài 1200 km và gồm các tỉnh từ Thanh
Hoá đến Bình Thuận. Dãy Trường Sơn chạy suốt theo bờ biển. Có nhiều sông tương
đối khá lớn, như sông Gianh ở Quảng Bình, sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, sông
Hương ở Thừa Thiên- Huế, sông Vu Gia ở Đà Nẵng, sông Thu Bồn ở Quảng Nam,
sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi. Sông, suối nhiều nhưng chiều dài các sông đa số ngắn
và có độ dốc lớn. Lưu vực các sông thường là đồi núi nên nước mưa đổ xuống rất
nhanh. Các cửa sông lại hay bị bồi lấp làm cản trở việc thoát lũ cho vùng đồng bằng
(hình 1).
12
XLI.
XLII.
H
XLIII.
Vùng duyên hải miền Trung là một trong những nơi chịu ảnh hưởng
nhiều nhất từ thiên tai. Qua thực tiễn cho thấy đây là khu vực đang chịu ảnh hưởng ít
nhất của 8 loại hình do thiên tai, hiểm họa gây ra bao gồm: Bão, lũ (kể cả lũ quét), lụt,
hạn hán, sạt lở đất, lốc, xâm nhập mặn và xói lở bờ sông.
13
ngập nước của một vùng lãnh thổ do lũ gây ra.
XLIX.
Lụt có thể xảy ra khi mực nước sông dâng cao do lũ lớn làm tràn ngập và
phá hủy các công trình, nhà cửa dọc theo sông. Có thể giảm thiệt hai do lũ bằng cách
di dời dân cư xa sông, tuy nhiên các hoạt động kinh tế, dân sinh thường gắn liền với
sông. Do vậy, con người vẫn cứ định cư trong những khu vực có nhiều rủi ro bị thiệt
hại do lũ, khi đó giá trị thu được do sống gần vực sông cao hơn là chi phí dự báo lũ
định kỳ.
L. Lũ quét: là loại lũ lớn, xảy ra bất ngờ trên sông suối nhỏ, lên xuống rất nhanh,
kéo dài chỉ 3 - 6 giờ, tốc độ chảy rất mạnh, cuốn trôi nhiều bùn đá, có sức tàn phá lớn.
LI.
Phân loại lũ
LII. Người ta có thể phân loại lũ theo một trong các tiêu chí sau :
LIII.
- Theo thời gian xuất hiện lũ;
LIV.
- Theo cấp độ mực nước đỉnh lũ;
14
LV. - Theo mức độ nguy hiểm của trận lũ đối với nền dân sinh, kinh tế.
LVI.
- Hình thái lũ: lũ quét, lũ do vỡ đập, ...
Căn cứ vào mực nước trung bình đỉnh lũ nhiều năm, người ta có thể
phân loại các loại lũ như sau:
LXIII.
· Lũ nhỏ: Là trận lũ có mực nước đỉnh lũ thấp hơn mức lũ trung bình
nhiều năm.
LXIV.
· Lũ vừa: Là trận lũ có mực nước đỉnh lũ đạt mức lũ trung bình nhiều
LXV.
· Lũ lớn: Là trận lũ có mực nước đỉnh lũ cao hơn mức lũ trung bình
năm.
nhiều năm.
LXVI.
· Lũ đặc biệt lớn: Là lũ có đỉnh lũ cao hiếm thấy trong lịch sử.
LXVII.
· Lũ lịch sử: Là trận lũ có đỉnh lũ cao nhất trong thời kỳ quan trắc hoặc
điều tra được.
Phân cấp lũ theo mức độ nguy hiểm đối với dân sinh, kinh tế
LXVIII.
LXXIII.
· Lũ trên mức báo động III: Có thể tàn phá nhiều công trình giao
thông, thủy lợi và gây nguy hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân ở các khu vực
hạ du.
1.1.2.Một số khái niệm liên quan
• Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy
quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân
tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng
triệu năm. Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân
bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình.
• Mực nước: Là độ cao của mặt nước sông so với độ cao mặt nước biển. Thường
được ký hiệu bằng chữ H, đơn vị là cm hoặc m.
LXXIV.
- Mực nước chân lũ lên: Là mực nước sông lúc bắt đầu tăng.
LXXV.
- Mực nước chân lũ xuống: Là mực nước sông lúc xuống thấp nhất.
LXXVI.
- Mực nước đỉnh lũ: Là mực nước sông đạt đến trị số cao nhất.
LXXVII.
- Thời gian lũ lên: Là khoảng thời gian tính từ chân lũ lên đến đỉnh lũ.
Phương pháp đánh giá thiệt hại do lũ lụt
LXXXII. Có nhiều phương pháp đê đánh giá thiệt hại do lũ lụt trong đó có ba
phương pháp được sử dụng phổ biến:
a. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên CVM (Contigent Valuation Method): Mục
đích của phương pháp này là đòi hỏi người dân sẵn sàng chi bao nhiêu tiền để
làm giảm thiệt hại do lũ lụt gây ra. Đánh giá giá trị ngẫu nhiên đơn giản là
phương pháp khảo sát xã hội. Ưu điểm của phương pháp này là dễ lượng hóa
được các giá trị kinh tế của xã hội hoặc cộng đồng. Tuy nhiên , việc lượng hóa sẽ
gặp không ít khó khăn khi công tác thiết kế mẫu bảng hỏi và trình độ phỏng vấn
chưa được đào tạo, hành vi thiếu trung thực của người được hỏi.
b. Phương pháp giá thị trường: Ước tính giá trị kinh tế bị thiệt hại do lũ lụt, những giá trị
vật chất được lượng hóa bằng tiền theo giá thị trường. Ưu điểm dễ thu thập số liệu và
dễ tính toán. Nhược điểm chỉ tính toán được những giá trị vật chất có giá trên thị
trường, không tính được các thiệt hại phi vật chất lo âu, căng thẳng,... Bên cạnh đó gặp
phải khó khăn bởi một số trường hợp có thể bị bóp méo bởi sự thất bại của thị trường
(độc quền, ngoại ứng), các chính sách (thuế, trợ cấp) của chính phủ.
c. Phương pháp chi phí phòng ngừa/thay thế: Được tính bằng chi phí bỏ ra trước khi lũ
lụt để phòng ngừa thiệt hại lũ lụt như: xây dựng kè, đắp đê, di chuyển gia súc, của cải
đi nơi khác...
1.1.3.Một số đặc trưng của lũ lụt các vùng
LXXXIII. Việt Nam có 4 vùng lũ lụt điển hình sau:
LXXXIV. - Đồng bằng và trung du Bắc Bộ chịu tác động chủ yếu của lũ, úng, nước
biển dâng. Hệ thống đê sông, đê biển và nhiều công trình phòng lũ khác hồ chứa, công
trình phân lũ, chậm lũ... đã và đang bảo vệ cho đồng bằng ngày một an toàn hơn.
LXXXV.
- Lũ lụt đồng bằng sông Cửu Long hàng năm gây thiệt hại lớn về người
1.1.4.Những tác động của lũ lụt đến kinh tế- xã hội –sức khỏe– môi trường
Tác động của lũ lụt đến kinh tế:
LXXXIX. Phá hủy vật chất: Lụt có thể làm hại, gây hư hỏng hay sập đổ hoàn toàn
các công trình giao thông như cầu, cống, đường tàu, hệ thống thoát nước, nhà cửa, …
XC.
Thiệt hại trong nông nghiệp: gây ngập các khu vực trồng trọt nên có thể
làm giảm năng suất, là nguyên nhân gây ra mất mùa, gây khan hiếm lương thực. Nhiều
loài thực vật không có khả năng chịu úng bị chết
XCI.
Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sự xuất hiện các
trận lũ lụt, những trận bão biển và mưa lớn xảy ra ngày càng khốc liệt hơn, hàng năm
đã gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn. Thống kê trong 10 năm trở lại đây, bình quân
mỗi năm, bão, lũ, sạt lở đất, lũ quét, hạn hán và các thiên tai khác đã làm chết và mất
tích gần 750 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm 1,5% GDP (năm 2006
GDP của VN hơn 400.000 tỷ đồng). “Xét về tần suất thiên tai, Việt Nam nằm trong số
10 nước hàng đầu thế giới bị thiệt tai tàn phá" [theo John Hendra điều phối viên
thường trú của LHQ tại Việt Nam]. Theo đánh giá của Viện Khoa học khí tượng thủy
18
văn và môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường, thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam
thuộc loại lớn trên thế giới. Minh chứng là trong 5 năm gần đây, mỗi năm thiên tai làm
chết khoảng 500 người, gây thiệt hại 14.500 tỷ đồng, tương đương 1,2% GDP cả nước;
thành quả kinh tế trong 5-10 năm có thể bị biến mất chỉ trong một trận lũ. Những thiệt
hại do vỡ đê, vỡ bờ bao làm ngập chìm nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản, lúa và hoa
Lũ lụt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, làm cho môi trường
bị ô nhiễm .Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu do phân, rác, nước thải, bãi thu gom, tập kết
19
xử lý chất thải rắn, kho chứa hóa chất, kho chứa thuốc bảo vệ thực vật... bị cuốn chung
vào nguồn nước.
XCV.
Các công trình xử lý nước thải, hệ thống thoát nước thải bị phá hủy làm
cho phân, rác, nước thải tồn đọng từ các nhà vệ sinh, hệ thống cống rãnh, chuồng trại
chăn nuôi tràn trực tiếp ra môi trường.
XCVI.
Cây cối, hoa màu bị chết vì bị ngâm trong nước lâu ngày, xác chết của
một số loài động vật, gia súc, gia cầm làm phát sinh dịch bệnh cho người và gia súc
gia cầm. Hơn nữa, đợt mưa lũ này xảy ra trong giai đoạn giao mùa giữa mùa Hè và
mùa Thu nên dễ bùng phát dịch bệnh.
1.1.5.Tính dễ bị tổn thương của người nghèo đối với các loại hình thiên tai
XCVII.
Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định trong
những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục hồi.
XCVIII.
sức khoẻ. Thứ năm, đôi khi cuộc sống người nghèo bị ảnh hưởng trước cả khi thiên tai
xảy ra. Để tránh thời tiết xấu không thể thu hoạch, người nông dân nghèo có thể gieo
trồng những loại cây dài ngày, ít rủi ro. Hậu quả là thu nhập của họ sẽ bị giảm. Ngoài ra,
người nông dân có xu hướng đầu tư ít hơn trong việc mua các công cụ lao động hoặc
sửa sang nhà cửa, bởi sự đầu tư này có thể “trôi xuống sông biển” khi lũ lụt xảy ra.
CI.
Theo đánh giá của WB, Việt Nam là một trong những quốc gia phải gánh
chịu nhiều nguy cơ thiên tai như bão, lốc xoáy, lũ lụt và hạn hán… Tại Việt Nam, ước
tính khoảng 60% tổng diện tích đất đai và 71% dân số phải chịu nguy cơ bão và lũ lụt,
trong số này có rất nhiều người nghèo. Hàng năm, tổn thất kinh tế trực tiếp bình quân
do bão và lụt ước bằng khoảng 0,8% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đứng thứ ba (sau
Myanmar và Philippines) trong các quốc gia ASEAN.
1.1.6.Nhóm chỉ tiêu về thống kê đánh giá thiệt hại kinh tế do lũ lụt
1.1.6.1 Nhóm chỉ tiêu nhà ở
1. Các định nghĩa về nhà ở
- Nhà kiên cố: gồm biệt thự, nhà cao tầng, nhà một tầng mái bằng thời gian sử dụng cao
1.
-
( từ 50 năm trở lên).
Nhà bán kiên cố: là nhà có chất lượng xây dựng và thời gian sử dụng thấp hơn so với
nhà kiên cố (khoảng trên dưới 20 năm). Bao gồm nhà tường xây hay ghép gỗ mái
-
ngói, mái tôn hoặc vật liệu tương đương.
+ Giá trị còn lại của ngôi nhà = giá trị xây dựng ban đầu – (khấu hao
từng năm)*(thời gian có thể sử dụng để ở - thời gian đã ở).
- Nhà bị hư hại: là những ngôi nhà của người dân bị hư hại một phần như tốc
mái, lỡ tường,… do ảnh hưởng trực tiếp của lũ bão mà có thể sữa chữa, khôi
phục hoặc cải tạo lại để đảm bảo an toàn để ở.
CIX.
Phương pháp tính:
CX.
Ước tính thiệt hại: cần đánh giá từng hạng mục, công trình một và dựa
trên:
-
+ Giá trị còn lại của các ngôi nhà ( ước tính như nhà bị sập hoàn toàn)
+ Mức độ thiệt hại do lụt, bão gây ra
+ Ước tính thiệt hại = (giá trị thiệt hại)*(mức độ thiệt hại).
Nhà bị ngập nước: là những ngôi nhà của người dân bị ngập sàn, nền, mức độ ngập từ
-
0,2 m trở lên đối với diện tích sinh hoạt thường xuyên.
CXIV.
Phương pháp tính: giá trị thiệt hại được ước tính như nhà bị hư hại.
Tài sản bị thiệt hại: là toàn bộ tài sản của hộ gia đình bị ảnh hưởng trực tiếp do lũ lụt
CXI.
CXII.
CXIII.
(bàn ghế, giường, tivi, máy tính, máy giặt,… bị cuốn trôi hoặc hư hỏng) có thể sửa
-
Gia súc bị thiệt hại: là số lượng gia súc lợn, trâu, bò,…bị chết hoặc mất do lũ lụt gây
-
ra.
Gia cầm bị thiệt hại: là số lượng gà, vịt…bị chết hoặc mất do lũ lụt gây ra
Diện tích lúa, hoa màu bị thiệt hại: là diện tích trồng luá, hoa màu bị chết , không thể
-
thu hoạch được do lũ lụt gây ra.
Diện tích cây rừng bị thiệt hại: diện tích cây con, cây rừng bị chết do mưa, bão và lũ
lụt gây ra.
-
1.1.6.4 Nhóm chỉ tiêu về thủy lợi
Đê cấp III đến cấp đặc biệt bị thiệt hại: là đê biển, đê sông đã được phân cấp từ cấp III
-
đến cấp đặc biệt bị thiệt hại do lũ lụt gây ra.
Đê từ cấp IV trở xuống bị hư hại: là đê biển, đê sông dưới cấp III, đề bồi, bờ bao bị sạt
-
-
thuyền, ca nô, ô tô, xe máy,… bị hư hại, cuốn trôi, phá hủy do lũ lụt gây ra.
1.1.6.6 Nhóm chỉ tiêu về thủy sản
CXXIV. Phương tiện khai thác thủy, hải sản bị thiệt hại:
Là phương tiện khai thác thủy hải sản: tàu, thuyền, lưới,… bị hư hỏng, phá hủy, cuốn
-
trôi do lũ lụt gây ra.
Tàu thuyền bị mất là tàu thuyền bị chìm, mất tích, phá hủy hoàn toàn không còn khả
năng sử dụng.
- Tàu thuyền bị hư hại là tàu thuyền có thể sửa chữa và tái sử dụng.
1.1.7.Nguyên nhân gây nên lũ lụt và mức độ ảnh hưởng của lũ lụt ở miền Trung Việt
Nam
CXXV.
Mưa lớn và kéo dài (do bão lớn) là nguyên nhân chính gây ra lũ lụt, ngoài
ra ở vùng đồng bằng cửa sông tiếp giáp với biển, triều cường là làm cho lũ lụt trầm trọng
hơn.
23
CXXVI.
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm tăng tần suất và mức độ nghiêm
phá rừng cao nhất xảy ra ở Á Châu, từ 9.5% trong thập niên 1960 đến 11% trong thập
niên 1980. Cũng như nhiều nơi khác trong nước, rừng ở các tỉnh miền Trung đang bị
tàn phá một cách nghiêm trọng. Hiện nay diện tích rừng chỉ còn khoảng 40 phần trăm.
Các cuộc nghiên cứu và điều tra ở Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi khác trên thế giới đã
chứng minh rằng nguyên nhân hàng đầu của lũ lụt là có quá nhiều mưa xảy ra trong
một thời gian ngắn ngủi, và việc phá rừng có thể ảnh hưởng quan trọng đối với lũ lụt
trong các lưu vực hạn hẹp như ở miền Trung. Cây cối có khả năng giữ nước cũng như
24
giảm thiểu việc đất đai sạt lở. Lượng nước lũ ở một vùng có nhiều cây cối sẽ ít hơn
lượng nước lũ từ một vùng trơ trọi. Vì thế nạn phá rừng có thể gia tăng mực nước ở
các vùng hạ lưu.
Việc khai thác bừa bải cát sỏi ở các dòng sông cũng gia
CXXXI.
tăng mức độ của lũ lụt. Tình trạng này làm cho nhiều đoạn bờ sông bị sạt lở nghiêm
trọng. Việc sạt lở các bờ sông cũng như việc bồi lấp các cửa sông cản trở việc thoát lũ,
làm cho lũ lụt lớn hơn và lâu hơn. Điển hình là vụ sạt lở bờ sông Vu Gia làm cho một
khu dân cư ở huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam bị cuốn trôi trong cơn lũ năm 1999 vừa
qua.
CXXXII.
Khác với Sông Hồng ở miền Bắc và sông Cửu Long ở
miền Nam, đa số các sông ngòi ở miền Trung không có hệ thống đê để ngăn lũ. Ngoài
ra cũng không có các hồ chứa nước lớn ở vùng thượng lưu để giảm thiểu lũ lụt ở vùng
đồng bằng. Cho nên các khu đông dân cư ở hai bên bờ sông đành chịu ngập tràn mỗi
khi có mưa to. Những năm gần đây có vài đập thủy điện bị nứt vỡ hoặc hồ chứa nước
CXXXV.
Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng
trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng – hậu quả trực tiếp của
sự tan băng ở Bắc và Nam cực. Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người
vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ
25