Tiếp cận "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" từ phương diện văn học
Tại Đại hội lần thứ hai của Liên đoàn những người cộng sản, Mác và
Ăngghen được Liên đoàn trao nhiệm vụ soạn thảo một bản cương lĩnh có
đầy đủ chi tiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn. Hai ông đã hoàn
thành công việc này vào tháng 1-1848 và đến tháng 2, "Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản" được công bố tại Luân Đôn.
Về phương diện văn học, "Tuyên ngôn" được coi là một tác phẩm
chính luận nổi tiếng của Mác và Ăngghen, một thể loại rất thịnh hành trong
văn học Đức. Bằng việc sử dụng các yếu tố của văn học nghệ thuật, bằng
một lối hành văn trong sáng, có nhiều hình ảnh, hùng biện và có sức biểu đạt
cao, tác phẩm đã khẳng định được điều tiên đoán của Phrăngxơ Mêring là nó
sẽ "có một vị trí lâu bền trong văn học thế giới". Trong "Tuyên ngôn" Mác
và Ăngghen đã sử dụng một bút pháp không chỉ mang tính khoa học, mà còn
mang tính thẩm mỹ cao, cộng với việc sử dụng các trích dẫn, các dẫn chứng
từ các tác phẩm, tác giả thuộc lĩnh vực văn học nghệ thuật hoặc dùng lại các
khái niệm, các thuật ngữ, từ ngữ của các nhà văn, nhà thơ để tăng cường nội
dung ngữ nghĩa, tăng thêm sức biểu đạt, sức tác động của sự diễn đạt của các
ông. Chẳng hạn Mác và Ăngghen đã dùng cụm từ "theo hình dạng" với một
chút ý vị riêng trong câu: "Nói tóm lại, nó (giai cấp tư sản) tạo ra cho nó một
thế giới theo hình dạng của nó", theo cách sử dụng của Gớt trong đoạn cuối
bài thơ Prômêtê nổi tiếng của ông. ở đoạn thơ đó, Prômêtê khẳng định vị trí
của mình trong thế giới trần thế, khẳng định vai trò sáng tạo của mình ngang
với thần Dớt, vị thần cao nhất trong thần thoại Hy Lạp.
Người ta cũng có thể tìm hiểu xem "Tuyên ngôn" đã góp phần xây
dựng những cơ sở lý luận và phương pháp luận nào cho việc nhận thức, phân
tích và đánh giá các tiến trình văn học trong xã hội tư bản, trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, cho việc xây dựng một lý thuyết văn học mácxít,
một phương pháp luận nghiên cứu văn học mácxít.
học thuyết duy vật lịch sử về xã hội và ngay liền sau đó là học thuyết về chủ
nghĩa cộng sản khoa học mà với chúng mới có thể tạo ra được những cơ sở
để có một tư duy mới về mỹ học, văn học và nghệ thuật.
Tuy nhiên, việc Mác chuyển trọng tâm từ mỹ học và văn học sang
chính trị và xã hội, sang việc phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa, việc xây dựng một học thuyết bao quát về kinh tế của chủ nghĩa cộng
sản khoa học và vạch ra chiến lược và sách lược hành động của giai cấp vô
sản lại không có nghĩa là Mác cắt đứt, là Mác từ bỏ văn học, nghệ thuật mà
ngược lại, người ta thấy Mác vẫn tiếp tục quan tâm, vẫn thường xuyên đề
cập đến văn học, nghệ thuật. Tại sao vậy? Câu trả lời cho câu hỏi này có lẽ
có thể tìm thấy trong nhận định của Lípsic, người vào đầu những năm 30 của
thế kỷ này thuộc vào những người đầu tiên có ý định dựng lại sự hình thành
và phát triển của tư duy thẩm mỹ của Mác. Ông cho rằng: "Quan điểm thẩm
mỹ của Mác... là một bộ phận trong thế giới quan cách mạng của ông" và nó
"phải được nghiên cứu trong mối quan hệ mật thiết với tiến trình hình thành
và phát triển chung của chủ nghĩa Mác". ở đây, chúng ta thử tìm trong
"Tuyên ngôn" những cách đặt vấn đề nào có tính chất lý luận và phương
pháp luận cho việc nghiên cứu và phê bình văn học, nghệ thuật.
Vấn đề đầu tiên là việc xây dựng một quan điểm duy vật cho việc
phân tích các tiến trình và các vấn đề văn học, nghệ thuật. Đối với Mác và
Ăngghen, vào thời điểm những năm 40 của thế kỷ trước, để làm được việc
đó, trước hết là phải thoát ra khỏi lĩnh vực phê bình trật tự xã hội chỉ thuần
tuý về mặt tư tưởng, thí dụ như đạo đức và thẩm mỹ, cũng như phải tước bỏ
những nền tảng của cái ảo tưởng thịnh hành trong văn học Đức trước đó,
vốn cho rằng mỹ học, văn học và nghệ thuật có vai trò quyết định trong việc
tạo ra những mối quan hệ xã hội mới. Người ta có thể nghĩ rằng những công
trình nghiên cứu về mỹ học mà Mác vào các năm 1841-1842 dự kiến tiến
hành cùng với Baoơ là cũng nhằm góp phần đảo ngược sự phê bình mang
đấu tranh chính trị thật sự được nữa, họ chỉ còn có cách đấu tranh bằng văn
học mà thôi "."... Họ rất ít che đậy tính chất phản động của những lời chỉ
trích của họ, cho nên lời lẽ chủ yếu mà họ dùng để buộc tội giai cấp tư sản
thì chính là cho rằng dưới sự thống trị của nó, giai cấp tư sản đảm bảo sự
phát triển cho một giai cấp sẽ làm nổ tung toàn bộ trật tự xã hội cũ".
Cũng như vậy, trong phần viết về "chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản", Mác
và Ăngghen nhận xét: "Trong những nước như nước Pháp, ở đó nông dân
chiếm quá nửa dân số thì tự nhiên là đã xuất hiện những nhà văn đứng về
phía giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, nhưng đã dùng cái thước đo
tiểu tư sản và tiểu nông trong việc phê phán chế độ tư sản, và đã xuất phát từ
những quan điểm tiểu tư sản mà bênh vực sự nghiệp của giai cấp công
nhân". "Nhưng xét về nội dung chân thực của nó, thì hoặc là chủ nghĩa xã
hội này muốn khôi phục lại những tư liệu sản xuất và phương tiện trao đổi
cũ, và cùng với những cái đó, cũng khôi phục lại cả những quan hệ sở hữu
cũ và toàn bộ xã hội cũ, hoặc là nó muốn buộc những tư liệu sản xuất và
phương tiện trao đổi hiện đại phải tuân theo cái khuôn khổ chật hẹp của
những quan hệ sở hữu cũ (...). Trong cả hai trường hợp, chủ nghĩa xã hội này
vừa là phản động vừa là không tưởng". Về "chủ nghĩa xã hội "chân chính""
hai ông cho rằng nó "... trực tiếp đại biểu cho một lợi ích phản động, lợi ích
của giai cấp tiểu tư sản Đức".
Với tính chất là cương lĩnh của giai cấp vô sản cách mạng, nên tất
nhiên khi nghiên cứu, phân tích các loại "văn học xã hội chủ nghĩa và cộng
sản chủ nghĩa", Mác và Ăngghen đã đặc biệt chú ý đến tính chất giai cấp của
chúng. Các vấn đề về tính dân tộc, quan hệ với truyền thống có đề cập tới,
nhưng các ông không bàn luận nhiều.
Điều lý thú và đáng quan tâm là trong "Tuyên ngôn", Mác và
Ăngghen đã nêu ra và luận giải về xu hướng quốc tế hoá và thị trường hoá
các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có cả văn học, nghệ thuật, những
thành hàng hoá, thành quan hệ mua bán lạnh lùng, thành quan hệ chủ tớ,
quan hệ làm thuê. Trong "Tuyên ngôn" Mác và Ăngghen đã nói đến điều
này khi các ông nhận định: "Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn
màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với "những bề trên tự nhiên"
của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người
một quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối "tiền trao cháo múc"
không tình không nghĩa (...). Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá
trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao
quyền tự do đã giành được một cách chính đáng... Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi
sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành người làm thuê được trả lương
của nó".
Thực chất, đó là quá trình gây nên sự tha hoá xã hội, tha hoá con người, tha
hoá các hoạt động tinh thần của xã hội tư bản. Quá trình đó, trong cái nhìn
của chủ nghĩa cộng sản khoa học, chỉ có thể chấm dứt được bằng việc xoá
bỏ quan hệ buôn bán, quan hệ người bóc lột người, quan hệ sở hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, tức là dẫn tới một quan hệ xã hội mới
dựa trên sự công hữu, khi đó thì "thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai
cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người", và khi đó, con người mới trở lại với chính mình và văn học, nghệ
thuật cũng trở lại với chính nó.