V.I.Lênin nói về những luận điểm cơ bản trong "Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản"
"Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", các tư tưởng cơ bản cũng như ý
nghĩa của nó luôn là trọng tâm chú ý của V.I.Lênin. Và như chúng ta đều
biết, ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, V.I.Lênin đã dịch
"Tuyên ngôn" từ tiếng Đức sang tiếng Nga. Trong các tác phẩm của ông,
chúng ta thấy ông đã nhiều lần đề cập đến những nội dung cơ bản, tư tưởng
chủ đạo và ý nghĩa của "Tuyên ngôn". Ông đã nhiều lần trích dẫn nguyên
văn để phân tích và từ đó rút ra những kết luận tương ứng. Xét về phương
diện này, có thể nói, "Tuyên ngôn" giữ vị trí thứ hai sau "Tư bản" - tác phẩm
được V.I. Lênin nhắc đến nhiều nhất. Đương nhiên ở một chừng mực nào
đó, sự so sánh ấy chỉ mang tính chất hình thức. Không phụ thuộc vào số
lượng các đoạn trích dẫn từ những tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, mỗi
tác phẩm của V.I.Lênin đều xuất phát từ những tư tưởng của các nhà sáng
lập chủ nghĩa cộng sản khoa học, vận dụng một cách sáng tạo những tư
tưởng đó vào việc giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đương đại.
Tuy nhiên, sự so sánh có tính hình thức đó cũng cho thấy sự quan tâm đặc
biệt của V.I. Lênin đến "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản".
Trước hết, chúng ta hãy đề cập đến quan niệm của V.I.Lênin về vị trí
lịch sử và ý nghĩa của "Tuyên ngôn" trong di sản lý luận của C.Mác và Ph.
Ăngghen.
Trong tác phẩm "Những người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh
chống những người dân chủ-xã hội ra sao?", trong lời nhận xét về cuốn sách
của C.Cauxki-"Bécstanh và cương lĩnh dân chủ - xã hội", trong bài viết
"Vận mệnh lịch sử của học thuyết của Các Mác" và trong tác phẩm "Các
Mác", khi chỉ rõ mối liên hệ hữu cơ giữa "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản"
với các tác phẩm trước đó của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin nhấn mạnh
rằng " Tuyên ngôn" là kết quả của một khối lượng công việc nghiên cứu
khổng lồ của các ông ở những năm 40. Trước hết V.I.Lênin đã kể đến các
xuất nào đó" .
ở đây, cần lưu ý rằng khi V.I.Lênin viết những dòng đó, ông vẫn chưa
biết đến nội dung của "Hệ tư tưởng Đức". Đó thực sự là một kiệt tác, trong
đó C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày khá tỉ mỉ các luận điểm cơ bản của
chủ nghĩa duy vật lịch sử, đã luận chứng cho tư tưởng về sứ mệnh lịch sử
toàn cầu của giai cấp vô sản, đã xác định rõ nhiệm vụ của giai cấp vô sản là
giành lấy chính quyền. "Hệ tư tưởng Đức" đã khẳng định một cách rõ ràng
tư tưởng của V.I.Lênin cho rằng các kết luận của "Tuyên ngôn" đều dựa trên
một cơ sở khoa học vững chắc, đều được luận chứng một cách khoa học.
V.I.Lênin coi các tác phẩm đầu tiên của chủ nghĩa Mác phát triển là
"Sự khốn cùng của triết học" và "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản". Thiết
nghĩ, ông sẽ kể tới cả "Hệ tư tưởng Đức" nếu như khi đó tác phẩm này đã
được xuất bản. Khi coi các tác phẩm ấy là các tác phẩm đầu tiên của chủ
nghĩa Mác phát triển, V.I.Lênin luôn đánh giá cao và dành một ý nghĩa đặc
biệt cho "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản".
Trên thực tế, V.I.Lênin đã biết rất rõ "Sự khốn cùng của triết học"
(xuất bản năm 1847), trong đó, lần đầu tiên, C.Mác đã công khai trình bày
một cách rõ ràng các nguyên lý của một học thuyết duy vật về các quy luật
của sự phát triển xã hội, cũng như các kết quả nghiên cứu của mình trong
lĩnh vực kinh tế học chính trị, đã phát triển các tư tưởng quan trọng nhất của
chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản.
Song, không phải ngẫu nhiên mà V.I.Lênin vẫn chỉ ra rất rõ ràng rằng chính
"Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" đã "trình bày một cách hết sức sáng
sủa và rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa
duy vật này bao quát cả lĩnh vực xã hội,- phép biện chứng với tư cách là
học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển, lý luận đấu
tranh giai cấp và vai trò cách mạng - trong lịch sử toàn thế giới - của
giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo ra một xã hội mới, xã hội cộng
Xuất phát từ luận điểm của C. Mác và Ph.Ăngghen trong "Tuyên
ngôn" - luận điểm cho rằng "trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với
giai cấp tư sản, thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng";
rằng các tầng lớp "trung đẳng" sẽ bị "suy tàn và tiêu vong" cùng với sự phát
triển của chủ nghĩa tư bản và khi cố gắng bảo vệ sự tồn tại của mình, họ sẽ
trở nên bảo thủ và thậm chí là phản động, còn nếu họ có tinh thần cách mạng
thì cũng chỉ trong chừng mực họ thấy mình phải "rơi vào" đội ngũ của giai
cấp vô sản, vì họ cần bảo vệ lợi ích tương lai của họ, cần từ bỏ lập trường
của mình để đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, V.I. Lênin viết: "Dưới
hình thức khẳng định ta có thể (và phải) chỉ rõ tính chất bảo thủ của
giai cấp tiểu tư sản. Và ta chỉ có thể nói đến tính chất cách mạng của nó
một cách có điều kiện. Chỉ có diễn đạt như vậy, mới hoàn toàn phù hợp
với tinh thần của học thuyết Mác" . Chính là xuất phát từ luận điểm đó
trong "Tuyên ngôn", từ quan niệm của bản thân ông, V.I.Lênin đã đi đến kết
luận: "Tất nhiên lôi kéo tất cả những người sản xuất nhỏ là điều đáng mong
muốn. Nhưng ta biết rằng đó là một giai cấp đặc biệt, dù có quan hệ với giai
cấp vô sản bằng trăm ngàn mối dây liên hệ và khâu trung gian, nhưng cũng
vẫn là một giai cấp đặc biệt". Bởi thế, "Trước tiên phải phân rõ ranh giới
giữa chúng ta với tất cả những người khác, tách riêng hẳn một mình
giai cấp vô sản ra rồi sau đó mới tuyên bố rằng giai cấp vô sản sẽ giải
phóng tất cả mọi người, kêu gọi tất cả mọi người, mời tất cả mọi người.
Tôi đồng ý với chữ "sau đó" ấy, nhưng tôi đòi hỏi trước hết là chữ
"trước tiên".
Cách đặt vấn đề như vậy của V.I. Lênin được lý giải bởi bối cảnh lịch
sử cụ thể ở nước Nga khi đó là: giai cấp vô sản Nga mới chỉ bắt đầu thể hiện
với tư cách là một giai cấp, còn chính đảng của nó thì vẫn chưa được thành
lập. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp vô sản là thiết lập bá
quyền lãnh đạo cách mạng của mình.
công nhân đi từ xung đột giữa những người công nhân riêng biệt với các
nhà tư sản riêng biệt, từ cuộc đấu tranh trong phạm vi địa phương đến
cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp; rằng những người vô sản tổ chức
thành giai cấp và qua đó thành chính đảng của họ. Ông luôn nhấn mạnh
cuộc đấu tranh của công nhân chỉ trở thành cuộc đấu tranh giai cấp khi tất cả
các đại biểu tiên tiến của toàn thể giai cấp công nhân trong cả nước tự ý thức
được mình là một giai cấp thống nhất và bắt đầu tiến hành cuộc đấu tranh
chống lại toàn bộ giai cấp tư sản, chống lại chính quyền bảo vệ cho lợi ích
của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp
tư sản tất yếu trở thành cuộc đấu tranh chính trị cùng với quá trình nó trở
thành cuộc đấu tranh giai cấp. Nhiệm vụ của những người mác xít là tổ chức
cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, biến cuộc đấu tranh tự phát của
họ chống lại những kẻ áp bức thành cuộc đấu tranh của toàn thể giai cấp
dưới sự lãnh đạo của Đảng vô sản vì mục tiêu dân chủ, vì chuyên chính vô
sản và chủ nghĩa xã hội. V.I. Lênin viết: "Nói rằng đấu tranh giai cấp chỉ
trở thành thật sự, triệt để và phát triển, khi nào nó bao trùm lĩnh vực
chính trị, là chưa đủ. Bởi vì cả trong chính trị, người ta cũng có thể hạn
chế trong những chi tiết nhỏ nhặt, hoặc có thể đi sâu hơn, đến tận cái
căn bản. Chủ nghĩa Mác thừa nhận rằng chỉ khi nào đấu tranh giai cấp
không những bao trùm lĩnh vực chính trị, mà nó còn nắm lấy cái căn
bản nhất trong chính trị: tức là việc tổ chức chính quyền nhà nước, thì
khi đó nó mới là một cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đầy đủ, có "quy
mô toàn dân tộc".
Trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", C. Mác và Ph.Ăngghen đã
đặt cơ sở cho học thuyết về đảng vô sản với tư cách là người tổ chức và
lãnh đạo giai cấp vô sản. Chính đảng của giai cấp vô sản, theo quan niệm
của các ông, "không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công
nhân khác", lợi ích của đảng không tách rời lợi ích của toàn thể giai cấp vô
trong toàn bộ di sản lý luận của C. Mác và Ph.Ăngghen, khẳng định ý nghĩa
vĩnh hằng của tác phẩm mang tính cương lĩnh này trong phong trào cách
mạng của giai cấp vô sản toàn thế giới, V.I. Lênin viết: "Cuốn sách nhỏ ấy
có giá trị bằng hàng bộ sách: tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và
thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới
văn minh". Đó cũng là lời khẳng định của chúng ta hôm nay.