MỞ ĐẦU
Trải qua hơn 83 năm lãnh đạo cách mạng, từ lãnh đạo cách mạng trong
điều kiện chưa có chính quyền đến khi trở thành Đảng cầm quyền; từ cầm quyền
khi có nhiều đảng phái tham chính đến khi trở thành một đảng duy nhất cầm
quyền; từ cầm quyền một nửa nước đến cầm quyền trong cả nước; từ lãnh đạo
chiến tranh là chủ yếu đến lãnh đạo xây dựng đất nước trong hoà bình. Mỗi thời
kỳ của cách mạng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải thay đổi cho phù hợp với
yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, của tình hình trong nước và ngoài nước. Điều
này đã được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử, qua các giai đoạn, thời kỳ
Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Trong quá trình đổi mới đất nước, việc xây dựng Đảng diễn ra trong
những điều kiện khác hẳn trước. Nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch
tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Hoạt động trong môi trường kinh tế thị trường đòi hỏi ở Đảng sự kiên
định, năng động, nhạy bén, đồng thời có sức đề kháng cao trước những tác động
tiêu cực của kinh tế thị trường. Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Bước vào thời kỳ mới,
Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng Đảng không làm thay công việc của Nhà nước,
mà xây dựng Nhà nước vững mạnh, để Nhà nước thể chế hoá đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng thành luật pháp, thành các các chương trình, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức thực hiện. Nhà nước phải quản lý đất
nước theo pháp luật và bảo đảm hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Mặt khác, nước
ta đang chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra
với Đảng ta đó là phải “đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước”. Nhiệm vụ này đòi hỏi Đảng phải nhận thức đúng đắn hiện thưc khách
quan và vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Đây là nhiệm vụ
chính trị quan trọng nhằm giúp Đảng ngày càng hoàn thiện, vững mạnh, góp
phần không ngừng nâng cao vị thế của Đảng ta trong hệ thống chính trị.
NỘI DUNG
đắn, có tổ chức chặt chẽ, rèn luyện trong phong trào quần chúng và được quần
chúng tin cậy để Đảng thực hiện sự thống trị của mình, quyền thống trị của giai
cấp công nhân, tức là “sự thống trị giai cấp”, “hệ thống chính trị vô sản phải
đảm bảo quyền thống trị của giai cấp vô sản, nghĩa là phải đặt dưới sự lãnh đạo
của giai cấp vô sản mà đại biểu là Đảng Cộng sản”.
Về sự lãnh đạo của Đảng, hai ông cho rằng: “Đảng lãnh đạo trên cơ sở
khoa học và quyết định của tập thể. Có nghĩa là mọi quyết định của tập thể phải
dựa trên sự phân tích một cách khách quan những quy luật phát triển của xã
hội, phải dựa trên ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Phải kiên quyết chống
khuynh hướng cơ hội. Kiên quyết lên án những người theo chủ nghĩa chủ quan,
giáo điều các loại. Và để làm được điều này các vị lãnh tụ vô sản phải nghiêm
túc học tập khoa học cách mạng và dựa vào khoa học để làm công tác tư tưởng
của mình”1.
Mác và Ăng ghen rất chú trọng việc đề bạt và bổ nhiệm cán bộ, hai ông
cho rằng: Kiến thức hàn lâm chưa thể mang lại hàm sỹ quan để có quyền giữ
cương vị thích ứng trong Đảng. Tổ chức cán bộ là vấn đề quan trọng góp phần
xác định đường lối, chính sách và thực hiện hiệu quả đường lối chính sách đó.
Những định hướng chính trị của Đảng chỉ có thể thực hiện được thông qua thực
tiễn của những tổ chức và những cán bộ Đảng. Bên cạch đó Đảng phải kiểm tra
hoạt động các vị lãnh tụ của mình, phê bình những thiếu sót của họ. Theo Mác:
Hệ thống chính trị phải lấy Nhà nước chuyên chính vô sản làm nòng cốt đảm
bảo quyền làm chủ của nhân dân. Từ đây thấy được rằng Mác và Ăng ghen nói
đến sự cần thiết phải có Nhà nước chuyên chính vô sản và Nhà nước ấy đương
nhiên phải đặt dưới sự lãnh đạo của chính Đảng vô sản. Mác nói rằng: “Bất cứ
một chế độ chính trị nào, xét về thực chất cũng là chuyên chính của một giai
cấp. Chuyên chính vô sản chủ yếu không phải là bạo lực, càng không đồng nhất
1
Theo ông, Đảng phải có cách lãnh đạo như thế nào đối với Nhà nước, nếu không
giải quyết tốt mối quan hệ này thì sẽ “phá rối quan hệ đúng đắn” giữa Đảng và
bộ maý Nhà nước, thậm chí đến sự diệt vong của chế độ. Trong thời kỳ đầu,
2
C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.247.
4
Lênin luôn nhắc nhở không nên lẫn lộn chức năng của hai tổ chức này, Đảng
không nên can thiệp vào công việc của bộ máy Nhà nước, “Đảng nói chung và
Ban chấp hành trung ương nói riêng đừng bao giờ can thiệp trực tiếp, đừng làm
thay Nhà nước những công việc cụ thể mang tính chất hành chính chuyên môn
nghiệp vụ”3
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng định hướng chính trị. Theo Lênin, trong
điều kiện Đảng cầm quyền thì Đảng cộng sản lãnh đạo bằng cương lĩnh chính
trị, đường lối. Sách lược đúng đắn của mình. Đó là việc hoạch định cương lĩnh
xây dựng đất nước, các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, những định hướng
về chính sách... Phương thức lãnh đạo này tập trung trong các nghị quyết của
Đảng. Lênin nói: “Trong nước cộng hòa chúng ta, không có một vấn đề chính
trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan Nhà nước giải quyết mà lại
không có chỉ thị của Ban chấp hành trung ương Đảng”.
Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ.
Theo Lênin: “Đảng phải đem những đảng viên có phẩm chất và năng lực vào
bộ máy Nhà nước. Việc bố trí và quản lý cán bộ trong các cơ quan Nhà nước và
các đoàn thể thông qua Đảng đoàn, ban cán sự Đảng. đối với những chức danh
chủ chốt trong các cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị thì Đảng phải giới
thiệu những cán bộ đảng viên có đủ tiêu chuẩn để ứng cử vào các cơ quan, tổ
chức đó”4.
Nhà nước. Theo Lênin, đây là hình thức hết sức quan trọng, không thể thiếu
trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Bởi vì số phận của
cách mạng xã hội chủ nghĩa phụ thuộc vào lòng tin và khả năng vận động, tập
hợp, giáo dục, thuyết phục quần chúng tin vào Đảng, đi theo Đảng và tiến hành
các hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ông nói: “Chỉ có những
người tin vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo sinh động của nhân dân
mới là người chiến thắng và giữ được chính quyền”, “Nhiệm vụ thứ nhất của
bất cứ một chính Đảng nào có trọng trách đối với thời đại là thuyết phục cho đa
số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình...”
Từ vị trí và vai trò của quần chúng, Lênin chỉ ra rằng, Đảng phải giáo dục,
thuyết phục và tổ chức cho quần chúng nhân dân tham gia quản lý Nhà nước.
Nếu không có sự tham gia giám sát và quản lý của quần chúng nhân dân thì
Đảng không thể lãnh đạo được Nhà nước, mà bản thân bộ máy của Đảng và Nhà
nước cũng bị tiêu tan. Người nói: “Trong quần chúng nhân dân, chúng ta chỉ
tựa như giọt nước trong đại dương và chỉ khi nào biểu hiện được đúng ý nguyện
của nhân dân thì chúng ta mới quản lý Nhà nước được. Nếu không Đảng cộng
6
sản sẽ không lãnh đạo được giai cấp vô sản, giai cấp vô sản sẽ không lôi cuốn
được quần chúng theo mình, và tất cả bộ máy sẽ tan rã”5.
Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra: Theo Lênin, nội dung kiểm tra của
Đảng đối với Nhà nước là việc quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương, quan
điểm đường lối chỉ đạo của Đảng, hiến pháp và pháp luật của Nhà nước có đúng
không. Đảng trực tiếp kiểm tra, đồng thời phối hợp kiểm tra Đảng với thanh tra
nhà nước, thanh tra nhân dân và kiểm tra đoàn thể. Đảng thực hiện chức năng
kiểm tra không phải bằng những quyền lực hành chính mà bằng đường lối, chủ
trương chính sách đúng, bằng giáo dục, thuyết phục, bằng công tác tư tưởng,
công tác vận động quần chúng, bằng hành động gương mẫu của đội ngũ cán bộ,
đảng viên.
cuộc sống. Chỉ khi đường lối, chính sách được đúc kết từ thực tiễn và trải qua
thử nghiệm thực tiễn thì mới trở thành đường lối, chính sách đúng đắn.
Theo Hồ Chí Minh, cách lãnh đạo bằng việc đề ra đường lối, chính sách
như vậy mới thực sự là cách lãnh đạo đúng. Nghĩa là đường lối, chính sách của
Đảng phải luôn được bổ sung, hoàn chỉnh phù hợp với chân lý cuộc sống. Người
chỉ dẫn: “Gom góp ý kiến và kinh nghiệm trong sự chỉ đạo từng bộ phận đem
làm ý kiến chung. Rồi lại đem ý kiến chung đó để thí nghiệm trong các bộ phận.
Rồi lại đem kinh nghiệm chung và mới, đúc thành chỉ thị mới… Biết làm như
vậy mới thật là biết lãnh đạo”9.
Khi đã có chủ trương, chính sách đúng thể hiện trong các chỉ thị, nghị
quyết của Đảng, công việc lãnh đạo tiếp theo là tiến hành tổ chức thực hiện nghị
quyết. Đây là khâu có nhiều khó khăn hơn so với việc ra nghị quyết, đòi hỏi
Đảng phải có nhiều nỗ lực, quyết tâm cao và sự sáng tạo. Hồ Chí Minh nêu rõ:
“Khi nghị quyết việc gì, phải cẩn thận rõ ràng. Khi đã nghị quyết thì phải kiên
quyết thi hành”10. Sự chần chừ, thiếu kiên quyết và thi hành nghị quyết không
đến nơi đến chốn đều là cách lãnh đạo không đúng. Trong việc tổ chức thực hiện
các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, yêu cầu đối với các tổ chức đảng là phải biết
áp dụng chúng một cách sát hợp với hoàn cảnh thực tế của các địa phương, các
Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.520
Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.293
8 Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.298
9 Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.291
10 Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.259
6
7
8
ngành. Người chỉ rõ: “Tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì
12
9
hoạt động chủ yếu: Kiểm tra việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và
kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, giữ gìn kỷ luật trong
Đảng. Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, công tác kiểm tra của
Đảng là đặc biệt quan trọng. Công tác kiểm tra được Hồ Chí Minh ví như “ngọn
đèn pha” giúp cho việc lãnh đạo đúng đắn. Người chỉ rõ: “Có kiểm tra mới huy
động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng
lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” 15. Không
những thế, từ thực tiễn của công tác kiểm tra, Đảng có thể biết rõ ưu điểm và
nhược điểm của các chỉ thị và nghị quyết. Công tác kiểm tra không chỉ được tiến
hành ngay từ khâu chuẩn bị các nghị quyết mà quan trọng hơn là phải làm thật
tốt ở khâu cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết. Hồ Chí
Minh nghiêm khắc phê phán cách lãnh đạo theo kiểu chỉ chú ý ban hành chủ
trương, chính sách mà thiếu kiểm tra đôn đốc thực tế. Người phê bình những
“cán bộ nhầm tưởng rằng cứ gửi nhiều thông tư, chỉ thị là xong việc; mà không
theo dõi, đôn đốc giúp đỡ địa phương, không kiểm tra công việc thực tế”16.
Hồ Chí Minh từng chỉ dẫn: “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi
ra hết, hơn nữa, kiểm soát khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”17Để làm
tốt công tác kiểm tra, Đảng phải biết dựa vào dân, tăng cường việc kiểm tra
giám sát của nhân dân đối với các tổ chức đảng và đảng viên. Vừa qua, nhiều vụ
tham nhũng do chính quần chúng nhân dân phát hiện, tố cáo. Cách kiểm tra,
giám sát từ quần chúng được Hồ Chí Minh coi là cách kiểm soát “từ dưới lên”,
tức là “quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ
cách sửa chữa sự sai lầm đó”18. Người đưa ra hai yêu cầu cần thiết “một là việc
kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là
phục bằng hành động cụ thể của các tổ chức đảng, của mỗi đảng viên. Sự thuyết
phục, vận động trong lãnh đạo phụ thuộc rất lớn vào uy tín của Đảng và tính tiền
phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Nếu các tổ chức đảng, cán bộ, đảng
viên đánh mất vai trò tiền phong gương mẫu, không có uy tín với dân thì không
thể thuyết phục được nhân dân. Vì vậy, Hồ Chí Minh thường căn dặn toàn
Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn là những người tiên phong ở mọi lúc,
mọi nơi, trong mọi mặt công tác và lối sống, nói phải đi đôi với làm, thật sự là
tấm gương cho quần chúng noi theo. Đảng phải bám sát cơ sở, gần gũi nhân dân,
lắng nghe và đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi chính đáng của nhân dân, phải thực
sự là “người đầy tớ trung thành” của nhân dân. Đảng phải được dân tin và trở
thành niềm tin của cả dân tộc. Người chỉ rõ: “Chỉ trong đấu tranh và công tác
11
hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực
lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”20.
Sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị bằng các chủ trương, chính
sách trong các chỉ thị, nghị quyết, bằng sự thuyết phục và bằng công tác kiểm tra
cũng có nghĩa là Đảng không thể ôm đồm, bao biện, làm thay những công việc
cụ thể của các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng tôn trọng và phát huy tính chủ
động, sáng tạo trong hoạt động của các tổ chức đó. Công việc của Đảng cũng
như của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác đều được phân định rõ
ràng về trách nhiệm và có sự phối hợp chặt chẽ với nhau theo sự lãnh đạo của
Đảng như Hồ Chí Minh từng nói: “Trong Đảng và Nhà nước ta có sự phân
công chặt chẽ như các bộ phận trong chiếc đồng hồ: Cái kim, dây cót khác nhau
nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau. Thiếu một bộ phận nào cũng không được”21.
Trong hệ thống chính trị, Đảng được thừa nhận là người lãnh đạo, do vậy
các tổ chức chính trị - xã hội khác đều phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng,
thực hiện chủ trương, chính sách mà Đảng đã đề ra, nhưng Đảng cũng phải tuân
thủ đúng những quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo hệ thống
đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã quyết định đường lối đổi mới kinh tế xã hội của đất nước, trong đó có nội dung quan trọng là đổi mới nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; xác định rõ hơn chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế
quản lý. Đó là các nhiệm vụ: Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành
pháp luật, chính sách cụ thể; xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ thể hóa
chiến lược đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quản lý hành
chính - xã hội và hành chính - kinh tế; điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội
trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỷ cương nhà nước và trật
tự xã hội, giữ vững quốc phòng và an ninh; kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của
Nhà nước, phát hiện những mất cân đối và đề ra những biện pháp để khắc phục;
thực hiện quy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao; xây dựng bộ máy gọn
nhẹ, có chất lượng, với một đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, năng lực
quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Đại hội VII của Đảng (6-1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nêu rõ quan điểm cần thiết
sửa đổi hệ thống tổ chức Nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các
cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước. Tổ
13
chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ
đạo thống nhất của Trung ương; Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó. Đại hội
VII cũng đã chủ trương cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng
nhân dân, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, coi
trọng bàn bạc tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm và quyền hạn cá nhân của
người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu bộ, ngành trong quản lý và điều hành.
Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đổi mới hệ thống tổ
đầy tớ trung thành của nhân dân; Tăng cường kiểm tra tổ chức đảng và đảng
viên trong việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (năm 1999), khóa VIII, chủ trương
tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhà nước trong tổng thể bộ máy của hệ thống chính
trị. Coi cải cách hành chính là nhiệm vụ thường xuyên, ứng dụng công nghệ
thông tin vào công tác cải cách hành chính.
Đại hội IX của Đảng đã tiếp tục khẳng định nội dung đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua
việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự phát
triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến
pháp, pháp luật của Nhà nước...
Đại hội X của Đảng cũng nhấn mạnh: “Tập trung đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối,
quan điểm, các nghị quyết, lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa thành Hiến pháp,
pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; bố trí đúng
cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng
không bao biện, làm thay Nhà nước…” 22. Đó chính là sự đổi mới nhằm phát
triển và tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Nghị quyết Trung ương 5 – khóa X chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mối phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị nhằm: Giữ vững và
tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh
22
ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.261
15
đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng
với nhân dân; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước...”23.
16
hệ thống chính trị nước ta trong những năm qua. Đảng đặc biệt coi trọng việc
thể chế hoá, cụ thể hoá quan điểm, chủ trương đường lối thành luật pháp, cơ chế,
chính sách của Nhà nước; Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội trong các hoạt
động lập pháp, giám sát tối cao và việc quyết định những vấn đề quan trọng của
đất nước; Định hướng cho việc ban hành cơ chế, chính sách, các chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại… của Chính phủ.
Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục,
thực hành công khai, dân chủ trong Đảng và trong xã hội; phát huy và thực hiện
tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân; phát huy tính năng động, sáng tạo của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Việc lập đảng đoàn, ban cán sự đảng, giới thiệu những đảng viên của
Đảng vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt của các hệ thống chính trị, củng cố tổ chức
cơ sở đảng và phát huy vai trò quản lý, giám sát của tổ chức đảng đối với đảng
viên, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên đã có tác động tích cực
đến việc giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng.
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã được tăng cường. Đảng lãnh
đạo, phối hợp sự kiểm tra, giám sát của Đảng với của Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể nhân dân đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị và cán
bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, về trách nhiệm đối với công việc và thái độ phục vụ
nhân dân.
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và phong cách, lề
lối làm việc của các cấp uỷ và đảng viên có đổi mới theo hướng khoa học, công
khai, dân chủ, sát cơ sở hơn.
1.3.2. Hạn chế, khuyết điểm
vấn đề mới mẻ, chưa có thực tiễn trong nước và trên thế giới, đòi hỏi phải tìm
tòi, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm; Lý luận về Đảng cầm quyền, về phương thức
lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một Đảng cầm quyền còn nhiều vấn đề chưa
làm rõ, nhận thức còn khác nhau; Những hạn chế trong tổ chức bộ máy và yếu
kém trong đội ngũ cán bộ đã tác động tiêu cực, cản trở việc đổi mới phương
18
thức lãnh đạo của Đảng; Chậm ban hành đầy đủ, đồng bộ các quy chế, quy định
về sự lãnh đạo và phối hợp công tác giữa các tổ chức đảng với các tổ chức trong
hệ thống chính trị.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, việc đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước có ý nghĩa rất lớn đối với công cuộc đổi mới ở
nước ta hiện nay. Đó chính là cơ sở định hướng để chúng ta tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng. Muốn vậy, Đảng phải tập trung đồng bộ nhiều
giải pháp để nâng cao hơn năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong
thời kỳ mới, trong đó cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau
2. Những giải pháp cơ bản tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước trong tình hình hiện nay.
2.1. Thường xuyên đổi mới, nâng cao nhận thức về Đảng và Nhà nước,
phân định rõ mục tiêu lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và mục tiêu hoạt
động của Nhà nước và hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng với Nhà nước.
2.1.1. Đổi mới, nhận thức về Đảng và Nhà nước.
Đảng ta là đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội, nhưng
không phải là cơ quan quyền lực nhà nước; quyền lực của Đảng khác với quyền
lực nhà nước.
Sự khác nhau đó quy định những điểm khác biệt về chức năng, nhiệm vụ,
phương thức và phương pháp hoạt động giữa Đảng và Nhà nước, giữa Đảng với
các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội khác. Nếu không phân biệt rõ ràng, thấu
đáo những khác biệt đó và đặc biệt là không kiên quyết, mạnh dạn chuyển biến
đối ngoại. Mục tiêu quản lý của Nhà nước là biến toàn bộ quan điểm chỉ đạo của
Đảng trên các phương diện tương ứng nói trên trở thành hiện thực.
Mục tiêu lãnh đạo của Đảng và mục tiêu quản lý của Nhà nước có nội
dung tương tự như nhau, nhưng nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước và nội dung quản lý của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đó lại có
nhiều điểm khác nhau. Điều đó được bộc lộ ở sự khác biệt giữa nhiệm vụ của
Đảng với nhiệm vụ của Nhà nước. Với tư cách là Đảng cầm quyền, Đảng đề ra
các chủ trương, đường lối, quan điểm có tính chiến lược và lãnh đạo việc tuyên
20
truyền, cổ động quần chúng thực hiện; mặt khác, Đảng lãnh đạo các cơ quan nhà
nước thể chế hóa, tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương, quan điểm, chính
sách đó. Đảng không trực tiếp giải quyết các công việc của Nhà nước
Nhà nước bằng quyền lực của mình có nhiệm vụ "bảo đảm và không
ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành
động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, xây dựng đất nước giàu
mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện".
2.1.3. Hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng khác với hệ thống tổ chức bộ
máy của Nhà nước.
Hiện nay, cả hai hệ thống này đều đang đứng trước yêu cầu bức xúc phải
đổi mới theo yêu cầu dân chủ - pháp quyền, trong sạch, vững mạnh, chống quan
liêu tham nhũng có hiệu quả. Đảng đổi mới cơ chế lãnh đạo của mình đối với
Nhà nước trên cơ sở tự chỉnh đốn Đảng, thực hiện dân chủ trong Đảng, "phải
kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng ở tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở"
theo hướng tinh gọn và tinh nhuệ, thể hiện thật rõ tính đặc thù của lãnh đạo
chính trị. Sử dụng các chuyên gia giỏi vào công việc được chuyên môn hóa là
một trong những cách tốt nhất để khắc phục tình trạng "thừa" bộ máy mà "thiếu"
hoạt động, như tình hình đã xảy ra.
tác xây dựng Hiến pháp và pháp luật, mở rộng dân chủ trong lãnh đạo bầu cử
Quốc hội, các quan điểm về xây dựng pháp luật. Đảng chỉ cho ý kiến về tính cần
thiết khi xây dựng luật, phương hướng, mục tiêu mà dự thảo luật cần phải đạt
được, còn Quốc hội cần thể chế hoá quan điểm của Đảng trong xây dựng luật.
Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cơ quan giúp việc của
Quốc hội. Theo chức năng của Quốc hội nước ta, Quốc hội có quyền giám sát
tối cao các hoạt động của Nhà nước. Đây là chức năng rất quan trọng của Quốc
hội, nhưng trên thực tế, kết quả còn hạn chế. Một phần do năng lực của Quốc
hội, phần vì các điều kiện, cơ chế chưa cho phép Quốc hội thực hiện đầy đủ và
mạnh mẽ chức năng này. Gần đây Quốc hội đã làm tốt việc chất vấn các thành
viên của Chính phủ (cả ở Quốc hội và họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội), song
22
nếu đứng ở vai trò phản biện thì chưa thực hiện rõ. Những việc này rất cần có sự
tham mưu, giúp việc của cơ quan chuyên trách, giúp việc của Quốc hội.
Bốn là, nghiên cứu để từng bước thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối
với Quốc hội. Vấn đề quan trọng đặt ra là việc thể chế hoá, cụ thể hoá vai trò,
chức năng tổ chức và hoạt động của các tổ chức Đảng ở các cấp, các ngành cho
phù hợp với tình hình mới để vừa phát huy được vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc
biệt là sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. Hiện nay, Đảng có những quy
định mà tổ chức Đảng và đảng viên được hay không được làm. Những quy định
này nên sớm luật hoá, chẳng hạn: Sự tham gia của đảng viên vào các cơ quan
dân cử, vào những chức vụ chủ chốt của Nhà nước, Chính phủ…
Năm là, nâng cao tính thuyết phục trong sự lãnh đạo của Đảng đối với
Quốc hội. Đảng muốn phát huy và sử dụng có hiệu quả quyền lực chính trị của
mình thì không thể không dùng biện pháp giáo dục và thuyết phục. Muốn nâng
cao tính thuyết phục trong lãnh đạo, tổ chức Đảng và đảng viên phải thực sự có
trí tuệ, thực sự biết lắng nghe nhân dân, những ý kiến tâm huyết của các đại biểu
Quốc hội, biết tập hợp và quy tụ ý kiến trong Quốc hội.
lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5
năm và hằng năm, phân bổ ngân sách nhà nước, chủ trương đầu tư những dự án,
công trình trọng điểm quốc gia mà Chính phủ phải trình Quốc hội xem xét;
Quyết định những chủ trương, quan điểm chỉ đạo lớn về công tác tư tưởng, lý luận,
phát triển nền văn hoá.
Đối với Bộ Chính trị: Xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu
của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (chiến lược 10 năm, kế hoạch 5 năm và
hằng năm) và ngân sách nhà nước hằng năm để trình Ban Chấp hành Trung ương;
Định hướng quan điểm, mục tiêu, giải pháp chủ yếu của chiến lược, quy hoạch
phát triển một số ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng; chiến lược sử dụng các
nguồn lực quốc gia; Định hướng một số chủ trương, chính sách lớn về kinh tế xã hội, một số chương trình, dự án đầu tư quan trọng do Chính phủ quyết định
có ảnh hưởng sâu rộng đến quyền lợi, tư tưởng của nhiều đối tượng xã hội, đến
quốc phòng, an ninh, đối ngoại, những vấn đề đòi hỏi sự phối hợp, tham gia tích
24
cực của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị; Định hướng những vấn đề có
tính chiến lược thuộc lĩnh vực tư tưởng, lý luận; lãnh đạo cụ thể hoá chủ trương
phát triển các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, chăm sóc
sức khoẻ nhân dân…
Ba là, trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Đối với Ban Chấp hành Trung ương: Xác định chiến lược bảo vệ Tổ quốc,
chiến lược an ninh quốc gia, phương hướng hoạt động đối ngoại của Đảng và
Nhà nước trong từng thời kỳ; Những chủ trương về tham gia các công ước, hiệp
ước, ký kết các hiệp định song phương, đa phương đặc biệt quan trọng cần có sự
phê chuẩn hoặc xin ý kiến Quốc hội.
Đối với Bộ Chính trị: Xác định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân,
các kế hoạch và phương án tác chiến chiến lược, chiến lược xây dựng công
nghiệp quốc phòng; chiến lược trang bị cho quân đội, công an; Phương hướng