VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẠNH THẾ
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI – 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẠNH THẾ
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRỊNH THỊ XUYẾN
2.4. Đánh giá thực trạng và kết quả đạt được trong tổ chức và hoạt động của chính quyền
xã ............................................................................................................................................... 55
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐỔI MỚI
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ TRONG HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY .................. 65
3.1. Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
trong hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay……… ............. …65
3. 2.Giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
trong hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay .................................................. 66
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
: Hội đồng nhân dân
UBND
: Ủy ban nhân dân
HTCT
: Hệ thống chính trị
BCHTW
: Ban chấp hành trung ương
nhân dân, nơi chính quyền gần dân nhất. Nơi tổ chức và triển khai thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mọi đường lối, chủ trương có
được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của HTCT cơ sở,
mà nhất là phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt,
cán bộ đảng viên trong các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở
cơ sở. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCT ở cơ sở có ảnh hưởng rất lớn đến
tình cảm, thái độ, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều
hành của Nhà nước. Những phản ứng bất bình của người dân, tình trạng khiếu kiện
kéo dài, đông nguời vượt cấp trong thời gian gần đây ở một số địa phương gây nên
1
những điểm nóng chính trị phức tạp và các điểm nóng này nếu không xử lý sẽ có
sức lan tỏa làm mất ổn định chính trị và có thể dẫn đến mất chế độ.
Với tư cách là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở, trong suốt quá trình
phát triển chính quyền cơ sở luôn được xây dựng, đổi mới và đã từng bước trưởng
thành, hoàn thiện đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà
nước, góp phần đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên trong thực tiễn tổ
chức và hoạt động của chính quyền cơ sở hiện nay do nhiều nguyên nhân vẫn còn
những tồn tại nhất định, thực chất chưa tương xứng với vị trí, vai trò của nó trong
hệ thống quyền lực nhà nước cũng như với nhiệm vụ mà nhân dân giao phó. Nhiều
nơi hoạt động của HĐND chỉ mang tính hình thức, tính đại diện và khả năng thay
mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương thấp, dẫn đến việc vi
phạm quyền làm chủ của nhân dân, cản trở quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội.
Vì vậy việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND hiện nay đang được đặt ra hết
sức găy gắt.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định phải:
“Phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương,
kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ; thực hiện đúng nguyên tắc
Thanh Hóa đã được nâng cao một bước rõ rệt về nhận thức, trình độ học vấn,
chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý. Cán bộ chính quyền xã điều hành công
việc nhanh nhạy, có hiệu quả hơn trước; làm việc nhiệt tình, tận tụy, có ý thức trách
nhiệm với công việc được giao. Tuy được nâng cao một bước rõ rệt về nhận thức và
trình độ, nhưng năng lực và nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chính quyền xã còn có
mặt chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế mới, yêu cầu của cải cách hành chính,
yêu cầu của sự phát triển toàn tỉnh và đất nước. Do đó còn nhiều lúng túng và sơ hở
trong quản lý, nhất là quản lý nhà nước. Trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội vẫn còn
không ít cán bộ chính quyền xử lý giải quyết công việc theo ý muốn chủ quan, còn
tâm lý nể nang. Cũng còn có những cán bộ mắc sai phạm trong công tác quản lý
phải chịu kỷ luật.
Từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Chính quyền địa
phương trong hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm
luận văn tốt nghiệp Cao học ngành chính trị học.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính quyền địa phương trong HTCT cơ sở là đối tượng nghiên cứu của nhiều
nhiều môn khoa học xã hội như Luật học, Lý luận và lịch sử của nhà nước và pháp
luật, Hành chính học, Chính trị học…Ở Việt Nam hiện nay có nhiều công trình nghiên
cứu đã được công bố, cụ thể:
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:
Đề tài “Tiếp tục xây dựng chính quyền cấp xã ở Đồng bằng Sông Hồng nước
ta hiện nay” của tác giả Quách Sĩ Hùng làm chủ nhiệm, được công bố năm 2004.
Tác giả đã trình bày vị trí, vai trò của các cơ quan nhà nước ở địa phương và vị trí,
vai trò của chính quyền cơ sở; khái niệm, đặc điểm của chính quyền địa phương và
đặc điểm của chính quyền cấp xã ở Đồng bằng Sông Hồng. Mối quan hệ giữa
HĐND và UBND; đổi mới tổ chức và hoạt động của Thường trực HĐND và nâng
xã ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đàm Bích Hiên được công bố năm 2008.
Trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về tổ
chức và hoạt động của chính quyền cấp xã từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện về tổ
chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trong giai đoạn hiện nay.
Luận án “Đổi mới nhằm nâng cao chất lượng chính quyền cơ sở ở nước ta
hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh được công bố năm 2013. Trong luận
văn, tác giả đã tiến hành nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan
điểm cùng những giải pháp thực hiện đổi mới nhằm nâng cao chất lượng của chính
quyền cơ sở.
Thứ tư, bài báo khoa học:
Th.s Nguyễn Hoàng Anh (2003), “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp cấp
xã trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2003. Tác giả đã
khái quát thực trạng hoạt động của HĐND cấp cấp xã thời gian qua, nguyên nhân
và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã.
Bùi Xuân Đức (2003), “Bàn về tổ chức của HĐND trong điều kiện cải cách bộ
máy nhà nước hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2003. Tác giả đã
phân tích những ưu và mặt hạn chế về tổ chức của HĐND và đưa ra những quan
điểm về thay đổi tổ chức trong điều kiện cải cách bộ máy để phù hợp hơn với chức
năng, nhiệm vụ của HĐND, Thường trực HĐND và từng Ban của HĐND.
5
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồi (2004), “HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”, Tạp
chí Luật học, số 1/2004. Tác giả nêu khái quát về cách thức tổ chức, những vấn đề
tồn tại trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND và những
nhóm giải pháp để nâng cao vai trò quản lý của HĐND và UBND.
Thạc sỹ Nguyễn Quốc Tuấn (2004), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động của HĐND và UBND các cấp”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4/2004. Tác giả
phân tích những kết quả đạt được và hạn chế của HĐND và UBND các cấp, đề xuất
tạp, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở của các huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Thứ hai, thời gian nghiên cứu luận văn trong một nhiệm kỳ 2011 – 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực nhà nước và quyền
làm chủ của Nhân dân; các tư tưởng, quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng
Nhà nước về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Thứ nhất, phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;
Thứ hai, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo gồm có: Logic lịch sử, phân tích - tổng hợp và quy nạp - diễn dịch; Ngoài ra, sử dụng phương pháp
thống kê, so sánh.
Thứ ba, phương pháp thu thập và xử lý thông tin: luận văn sử dụng phương
pháp nghiên cứu tài liệu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND,
UBND xã (từ thực tế tỉnh Thanh Hóa) tác giả đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới tổ
chức và hoạt động của HĐND, UBND xã, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính
trị cơ sở ở nước ta hiện nay.
7
- Luận văn sẽ góp phần nhận thức sâu hơn về chính quyền địa phương cơ sở,
đặc biệt là chính quyền xã.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo việc nghiên cứu, giảng dạy về bộ
môn chính trị học hoặc về nhà nước, pháp luật, về quyền lực nhà nước và các cơ quan
quyền lực nhà nước, về hệ thống chính trị cơ sở ở các trường đào tạo cán bộ, công chức
hơn vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX) mới xuất hiện khái niệm hệ thống chính
trị. Ở Việt Nam, bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3 năm 1989), lần
đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng thuật ngữ hệ thống chính trị thay cho
thuật ngữ chuyên chính vô sản. Trong những Văn kiện, sách báo, tạp chí, công trí,
công trình nghiên cứu chính trị ở nước ta gần đây ngày càng sử dụng rộng rãi khái
niệm hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Khái niệm hệ thống
chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là sự phản ánh chính trị hiện đại.
Ở các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ
thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất giai cấp
cầm quyền nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của gia cấp đó. Quan điểm này
đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của
giai cấp cầm quyền”. Từ đó cho rằng hệ thống chính trị chủ nghĩa tư bản chính là hệ
9
thống chuyên chính tư sản, còn hệ thống chính trị chủ nghĩa xã hội là hệ thống
chuyên chính vô sản. Ở Việt Nam trước đây và một số năm đầu đổi mới, chúng ta
chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một cách phổ biến khái niệm
hệ thống chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh
đạo và quản lý xã hội.
Nhận thức là một quá trình. Trước đây như trên đã nêu về sự đồng nhất hai
phạm trù: hệ thống chính trị và hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền. điều
đó thể hiện sự nhận thức ấy vừa là kết quả của quan điểm quá nhấn mạnh tính giai
cấp trong chính trị mà chưa thấy hết diện mạo của các dân tộc, tính nhân loại trong
chi phối chính trị. Sau này xuất hiện quan niệm về hệ thống chính trị toàn diện hơn,
rộng hơn phải phản ánh rõ hơn bản chất của chính trị. Bao hàm trong hệ thống
chính trị, ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền - bộ phận cơ bản
nhất, quan trọng nhất, quy định bản chất của toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội
tương ứng, còn có các tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác. Tuy nhiên
trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị” [34, tr.289].
Kế thừa nhiều giá trị ở các quan niệm trên, dưới góc nhìn của chính trị học
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể hiểu: Hệ thống chính trị là một
phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ
chức, các thiết chế chính trị - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong
và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ
thể chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính
trị của giai cấp thống trị.
Từ khái niệm vừa đưa ra trên, ta có thể xem xét đến sự tồn tại, vận động, biến
đổi của hệ thống chính trị diễn ra trên thực tế rất đa dạng. Và tính đa dạng của hệ
thống chính trị tùy thuộc vào các nhân tố khách quan và chủ quan tác động tới:
Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc
gia là địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử. Chính những điều kiện khác
nhau này hình thành nên các quyền và các chuẩn mực xã hội xã hội khác nhau. Các
quyền và các chuẩn mực xã hội đó phân biệt các hệ thống chính trị khác nhau của
11
các nước, các thời đại khác nhau. Trình độ phát triển kinh tế; tương quan giữa các
lực lượng chính trị đang hiện diện; yếu tố lịch sử truyền thống văn hóa.
Hệ thống chính trị tồn tại trong những điều kiện nhất định trong xã hội có giai
cấp và hình thành nhà nước. Kết cấu hệ thống chính trị không phải theo ý muốn chủ
quan của một giai cấp nào, mà do điều kiện kinh tế - xã hội quyết định. Trình độ
phát triển kinh tế quốc gia quy định kết cấu xã hội – giai cấp, quy định thành phần
tham gia hệ thống chính trị theo dòng chảy chủ đạo của nền kinh tế quốc gia, vì
chính trị là sự biểu hiện tập trong của kinh tế. Hơn nữa, sự tồn tại của các giai cấp
với sức mạnh kinh tế của chúng sẽ tạo nên nền tảng xã hội của các lực lượng chính
trị tương ứng.
Sự hiện diện của các lực lượng chính trị và mối quan hệ tương quan lực lượng
độ và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó theo chức năng nhiệm vụ nhằm đảm
bảo quyền lực của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là hệ
thống các tổ chức chính trị - xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực
của mình trong xã hội.
Hệ thống chính trị nước ta hiện nay bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội của quần chúng nhân dân tham gia
vào mặt trận với tư cách là những thành viên.
Khái niệm hệ thống chính trị ở cấp cơ sở
Hệ thống chính trị ở nước ta định hình thành theo bốn cấp hành chính: Trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Dựa vào những nét khái quát chung nhất về hệ
thống chính trị như đã nêu trên có thể hiểu Hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là toàn
bộ các thể chế chính trị cấp xã, phường, thị trấn (tổ chức Đảng, chính quyền, các
đoàn thể nhân dân của cấp cấp xã và mối quan hệ giữa chúng) được tổ chức và
hoạt động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về
mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý
của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân cấp cơ sở.
Hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị
Việt Nam, nên vừa mang đặc đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và hệ
thống chính trị cấp cơ sở có những đặc trưng riêng:
Thứ nhất, hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
trị nước ta hiện nay. Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính
13
pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị thống nhất ở nước ta hiện nay. Song không
phải cấp thấp nhất là cấp kém quan trọng nhất. Mà thậm chí, xét theo khía cạnh thực
thi đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất.
bởi vì đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện được hay
không lại là ở cơ sở.
dòng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một người làm quan cả họ được
nhờ” hoặc “chi bộ ta”.
1.1.2. Khái niệm chính quyền địa phương
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về chính quyền địa phương ở nước ta
hiện nay, nhiều văn bản pháp luật, sách báo dùng thuật ngữ chính quyền địa phương
nhưng chưa có văn bản nào giải thích đầy đủ về nội hàm khái niệm chính quyền địa
phương. Trong cuốn từ điển tiếng việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên của Viện
ngôn ngữ học thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, xuất bản
năm 1995 có 38, 410 mục từ, nhưng cũng không có mục từ “chính quyền địa
phương” mà chỉ nhắc tới chính quyền. Trong cuốn sổ tay thuật ngữ pháp lý thông
dụng của nhà xuất bản Giáo dục, xuất bản năm 1996 do Nguyễn Duy Lãm chủ biên
và trong quyển từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà
Nội do Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc chủ biên xuất bản năm 1999 cũng không
có thuật ngữ “chính quyền địa phương”.
Dưới góc độ pháp luật, chính quyền địa phương được quy định như sau: tại
Điều 111, Hiến Pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định
“Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng Hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thi, hải đảo,
đơn vị hình hính - kinh tế đặc biệt do luật định”.
Chính quyền địa phương hiện nay có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành, gắn bó hữu cơ
của chính quyền nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý thông qua đó nhân dân
thực hiện quyền làm chủ của mình ở địa phương.
Tính quyền lực Nhà nước của chính quyền địa phương không chỉ xác định vị
trí, tính chất pháp lý và vai trò của chính quyền địa phương trong cơ chế thực hiện
quyền lực nhà nước thống nhất của nhân dân, mà còn xác định thẩm quyền và trách
15
Như vậy ta có thể hiểu chính quyền địa phương đó là: Chính quyền địa
phương gồm có ba cấp: chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính
quyền cấp xã.
1.1.3. Chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
Thứ nhất, cấp cơ sở hay còn gọi là cấp xã là cấp hành chính cuối cùng trong
hệ thống bốn cấp hành chính của Việt Nam hiện nay. Chính quyền cấp xã là bộ
máy quản lý nhà nước ở cấp cơ sở, gắn nhiều với tính chất tự quản.
Thứ hai, hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm tổ chức của Đảng Cộng sản
Việt Nam, cơ quan nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội chiến binh Việt
Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ
Việt Nam và Hội nông dân Việt Nam được tổ chức ở cấp cơ sở.
Thứ ba, chính quyền cấp cơ sở bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước và cơ
quan hành chính nhà nước là HĐND cấp xã và UBND cấp xã được tổ chức ở cấp
cơ sở, cụ thể:
HĐND cấp xã gồm các đại biểu HDND do cử tri ở cấp xã bầu ra, là cơ quan
quyền lực nhà nước ở cấp xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân cấp xã và cơ quan nhà nước cấp
trên.
UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND cấp
xã, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã, chịu trách nhiệm trước Nhân dân,
HĐND cấp xã và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm chính quyền cấp xã trong hệ
thống chính trị cấp cơ sở bao gồm HĐND và UBND cấp xã, là bộ phận cấu thành
hệ thống chính trị cấp cơ sở, là trung tâm của hệ thống chính trị cấp cơ sở, chịu
sự lãnh đạo của Đảng bộ xã và có mối quan hệ tương hỗ với Mặt trận Tổ quốc xã
và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ.
Cấp xã : bao gồm Xã, phường, thị trấn. Là cấp hành chính nhỏ nhất. Sở dĩ gọi
chung là cấp xã như vậy là vì số lượng xã ở Việt Nam chiếm đa số và để cho vắn tắt về
Chính quyền xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà
nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cơ sở, là cấu
18
nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu
hằng ngày của nhân dân trên địa bàn xã.
Tổ chức chính quyền cơ sở khác với chính quyền cấp hành chính khác. Tổ
chức bộ máy chính quyền xã chỉ bảo gồm cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND và
cơ quan quan chấp hành của HĐND là UBND, không có các cơ quan tư pháp như:
Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân.
UBND xã không tổ chức các cơ quan chuyên môn trực thuộc, mà tổ chức 07
chức danh công chức chuyên môn, giúp việc cho UBND, cụ thể: Trưởng Công an;
Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và
môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và
môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch và Công chức Văn
hóa - xã hội.
Các đoàn thể nhân dân ở xã chủ yếu có năm tổ chức là Mặt trận Tổ quốc, Hội
Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh (do ở nông thôn Việt
Nam, rất ít nơi có tổ chức công đoàn).
Đoàn thể nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị ở xã.
Cụ thể các đoàn thể nhân dân có vai trò đoàn kết nhân dân, chăm lo lợi ích của
thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ của
công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đoàn thể nhân
dân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng tham
gia bảo vệ trật tự trị an, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển
kinh tế - xã hội ở cơ sở.
1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền xã trong hệ thống chính trị
cơ sở