Đảng trong hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn huyện ba tơ, tỉnh quảng ngãi - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG QUÂN

ĐẢNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG QUÂN

ĐẢNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LƯU VĂN QUẢNG

HÀ NỘI – 2017


3.2. Quan điểm củng cố, kiện toàn tổ chức và đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở ........................ 62
3.3. Một số nhóm giải pháp củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt
động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở ................................ 63
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 81


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua các thời kỳ lịch sử đã chứng minh trong mọi xã hội có giai cấp, chủ thể
cầm quyền thực hiện quyền lực của mình bằng một hệ thống thiết chế nhất định. Đó là
hệ thống chính trị - một chỉnh thể bao gồm các tổ chức chính trị trong xã hội được liên
kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào quá trình của đời sống xã
hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể
cầm quyền.
Trong chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là ở Việt Nam, hệ thống chính trị là một cơ
chế, đồng thời là công cụ thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị luôn được thể hiện,
ghi nhận qua các bản Hiến pháp và Cương lĩnh của Đảng. Đó là cơ sở của mối quan hệ
giữa xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của
Đảng trong hệ thống chính trị. Khác với các nước dân chủ trên thế giới, ở Việt Nam hệ
thống chính trị cơ sở là bộ phận của hệ thống chính trị không thể tách rời.
Trong những năm qua, nhất là từ năm 2010 trở lại đây, ở huyện Ba Tơ (Quảng
Ngãi), đảng bộ các cấp từ huyện đến cơ sở đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ
trên các lĩnh vực đạt nhiều kết quả quan trọng: Đảng bộ không vi phạm về đường lối,
chính sách; kinh tế - xã hội có những bước phát triển khá; quốc phòng, an ninh được
tăng cường, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội. Công tác xây dựng Đảng, xây
dựng hệ thống chính trị đạt được những kết quả quan trọng, góp phần củng cố niềm tin
của Nhân dân đối với Đảng.

phận trong hệ thống chính trị và nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị, đặt biệt là của tổ chức đảng ở cơ sở đã được nhiều người nghiên cứu
trong các chương trình, đề tài khoa học được công bố ở một số tạp chí, nhà xuất bản
trong nước; đồng thời cũng được nhiều người làm khoa học nghiên cứu, tiêu biểu là
một số công trình sau:
- Lê Đức Bình (2003) “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với nhà nước”.
- Trần Quang Cảnh (2007), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối
với chính quyền huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc". Luận văn Thạc sĩ.
- Đỗ Tiến Dũng (2015), Các đảng chính trị ở Anh, Pháo, Mỹ - sự tương đồng và
khác biệt. Luận văn thạc sỹ, mã số 60.31.02.01. Tác giả đã phân tích điểm giống và khác
2


nhau giữa các đảng chính trị ở Anh, Pháp, Mỹ, góp phần hoàn thiện về mặt lý luận cho
Đảng ta tham khảo và vận dụng trong giai đoạn hiện nay.
- Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam: Nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng, Nhà xuất bản chính trị quốc gia.
+ Trần Đình Huỳnh (chủ nhiệm) (2000), Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà
nước". Đề tài khoa học 96.98.058. Tác giả nghiên cứu về phương thức lãnh đạo của
Đảng Cộng sản đối với Nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện đã giành được chính
quyền. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ là vấn đề nội dung mà còn
là vấn đề tổ chức thực hiện nội dung, trong đó phương thức lãnh đạo của Đảng giữ vai
trò quan trọng.
- Nhị Lê (2006), về sự cầm quyền của Đảng, Tạp chí Cộng sản, số 16, tháng 8. Tác
giả bàn về vấn đề cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nguyễn Viết Mạnh (2014), Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ cấp xã
trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn thạc sỹ, bảo vệ tại
Học viện báo chí và Tuyên truyền. Tác giả đánh giá thực trực và đề ra những giải pháp
nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng bộ xã trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành

của Đảng đối với nhà nước và xã hội”, Tạp chí cộng sản (9) và hội thảo lý luận giữa 2
Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng Sản Trung Quốc.
+ Tạ Ngọc Tấn, (chủ biên) (2012), Một số vấn đề về các đảng chính trị trên
thế giới, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội. Tác giả giới thiệu 20 đảng chính trị
tiêu biểu trên thế giới, trong đó có đảng chính trị Anh, Pháp, Mỹ. Đồng thời giới thiệu
sự hình thành và phát triển của các đảng chính trị, kinh nghiệm lãnh đạo, kinh nghiệm
tranh quyền và cầm quyền, kinh nghiệm xây dựng, phát triển của các đảng chính trị,
kinh nghiệm điều chỉnh chiến lược, sách lược của các đảng chính trị hiện nay.
+ Ngô Đức Tính, (chủ biên) (2004), Một số Đảng chính trị trên thế giới, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã đề cập đến các đảng chính trị Anh,
Pháp, Mỹ ở góc độ phạm vi từng quốc gia.
- Trần Văn Tường (2006), Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính
quyền cơ sở ở huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay, Luận văn
Thạc sĩ.

4


- Trần Vĩnh Tuyến (2005), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành ủy với
chính quyền Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp, Luận văn
Thạc sĩ.
- Nguyễn Văn Vĩnh, Hệ thống chính trị và đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta
hiện nay. Bài giảng chuyên đề.
- Nguyễn Khánh Vinh (chủ nhiệm) (2015), Hệ thống chính trị cơ sở phục vụ
phát triển bền vững vùng Tây Nguyên.
Các công trình và tài liệu nghiên cứu đã làm rõ hơn các khái niệm như đảng
chính trị, hệ thống chính trị và hệ thống chính trị ở cơ sở; nghiên cứu về tổ chức bộ
máy, chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương thức lãnh đạo, mối quan hệ giữa thành
tố Đảng với các thành tố khác trong hệ thống chính trị, đặc biệt là hệ thống chính trị ở
cơ sở. Tuy nhiên, hầu hết các công trình trên đây chủ yếu nghiên cứu về phương thức

4.1. Đối tượng
Tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của các đảng bộ cấp xã.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu về cơ cấu tổ chức, nội dung và phương
thức hoạt động, lãnh đạo của Đảng bộ 20 xã, thị trấn trực thuộc Đảng bộ huyện Ba Tơ;
phương thức hoạt động của một số chi bộ thôn trực thuộc đảng bộ xã, thị trấn.
+ Về không gian: Địa bàn 20 xã, thị trấn; một số thôn, khu dân cư thuộc 20 xã
thị trấn.
+ Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng nói
chung và tổ chức đảng ở cơ sở nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Logic - lịch sử, phân
tích, tổng hợp, thống kê, nghiên cứu tài liệu, khảo sát, tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức, nội dung và
phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở huyện Ba Tơ trên cơ sở khái quát những

6


quan điểm của Đảng, cũng như một số kinh nghiệm trong quá xây dựng tổ chức, đổi
mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở cơ sở.
- Đánh giá đúng thực trạng về tổ chức, nội dung và phương thức lãnh đạo của tổ
chức đảng ở cơ sở huyện Ba Tơ.
- Nêu quan điểm và đề xuất giải pháp củng cố, kiện toàn tổ chức, đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đảng ở cơ sở.

ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục đích và lý tưởng nhất
định” [46, tr.465].
Theo quan niệm của Mác - Ănghen, Đảng cộng sản là đảng của giai cấp công
nhân, có quan hệ thống nhất, chặt chẽ với giai cấp công nhân cả về mục tiêu, lý tưởng,
lợi ích cũng như cả về ý chí và hành động. Tuy nhiên, hai ông cũng chỉ rõ, Đảng
không phải là toàn bộ giai cấp công nhân; Đảng là một bộ phận của giai cấp, là lãnh tụ
chính trị, đội tiên phong của giai cấp công nhân, có tổ chức và là tổ chức cao nhất của
giai cấp công nhân, bao gồm những người ưu tú nhất, giác ngộ cách mạng nhất trong
giai cấp công nhân, Đảng tiên phong cả về lý luận và thực tiễn: “về mặt lý luận, họ hơn
bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và
kết quả chung của phong trào vô sản”, “về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ
phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn
luôn thúc đẩy phong trào tiến lên” [12, tr. 614, 615].

8


V.I.Lênin là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, lãnh tụ của phong trào công
nhân Nga, ông đã kế thừa và bổ sung, phát triển sáng tạo những tư tưởng của C.Mác
và Ph.Ăngghen cho phù hợp với điều kiện lịch sử về xây dựng một chính đảng độc lập
của giai cấp vô sản. Chính ông đã trực tiếp tổ chức, thành lập, lãnh đạo Đảng Công
nhân dân chủ - xã hội Nga - một chính đảng vô sản kiểu mới - tiền thân của Đảng
Cộng sản Liên Xô sau này. Đây là một đảng kiểu mới, khác với tất cả các tổ chức đảng
chính trị đương thời. Lê nin khẳng định: "Chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội
tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của
giai cấp đó... chỉ có một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong
cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay nhất chống lại tất cả mọi thế lực
của giai cấp tư sản” [50, tr. 227]. Và cũng theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
“Đảng chính trị là một tổ chức chính trị của một giai cấp, đại biểu lợi ích cho giai cấp
đó. Đảng chính trị ra đời nhằm mục đích đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực

nhân mà là của cả dân tộc, là Đảng của cả giai cấp lao động và cũng là đảng của toàn
dân; những cán bộ, đảng viên của Đảng trực tiếp thi hành những nhiệm vụ quản lý
trong bộ máy nhà nước nhưng đều chỉ là những người được nhân dân “ủy thác”, bầu ra
để phục vụ nhân dân. Người viết: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân
bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy” [33, tr. 218]. Có thể thấy, đây
là một nét đặc thù của Đảng cầm quyền ở nước ta, trong khi đảng cầm quyền ở nhiều
nước chỉ luôn đại diện một lực lượng trong nhiều lực lượng khác nhau của các giai
cấp, tầng lớp dân chúng trong xã hội.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Muốn làm cách mạng trước hết phải có Đảng cách
mạng, Người khẳng định: Cách mạng “trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản
giai cấp mọi nơi” [34, tr. 267, 268] và Đảng có vững cách mạng mới thành công.
Qua các quan niệm trên có thể thấy, Đảng chính trị là một liên kết các cá nhân,
tập hợp chung những người có cùng niềm tin, mục đích chính trị, chia sẻ mong muốn
kiểm soát bộ máy nhà nước bằng các phương thức hợp hiến. Như vậy, Đảng chính trị
là một liên minh chính trị của các nhóm, các phái cùng chung mục đích đấu tranh
giành, giữ quyền lực nhà nước nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp, tầng lớp xã hội của
mình. Trong đảng chính trị có nhiều nhóm, phe phái hoạt động với mục đích khác
nhau và chỉ liên minh với nhau khi đạt đến mục đích chính trị thống nhất.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã
lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt
Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh

10


thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, đưa Nhân
dân ta từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ nền độc lập của Tổ quốc. Kết quả ấy là biểu thị cho những thắng lợi của cách mạng


Thứ ba, các đảng chính trị giúp định hướng và hỗ trợ công luận. Trong bất kỳ
hệ thống chính phủ nào, các đảng chính trị đều định hướng, xây dựng, tập hợp, tổ chức
và thực hiện hóa công luận, đây là yếu tố không thể thiếu trong môi trường nhà nước
hiện đại. Các đảng phái chính trị với nỗ lực tiến gần hơn với công chúng, bằng nhiều
hình thức làm cho quan điểm của mình trở nên rõ ràng. Điều này tạo cho người dân có
cơ hội phân tích những ưu, khuyết điểm của các vấn đề quan trọng khác nhau.
Thứ tư, các đảng chính trị tạo nên sự ổn định chính trị. Bằng nhiều cách, các
đảng chính trị thường giúp hợp nhất, đơn giản hóa và ổn định quá trình chính trị của
đất nước. Các lực lượng, nguồn gốc gây mất ổn định cục bộ, khu vực, lợi ích và vị thế
địa lý sẽ có thể giải quyết tranh chấp của mình bằng con đường chính trị. Thông qua
đảng chính trị, những lực lượng này buộc phải cải tạo hệ tư tưởng của họ để thu hút
dân chúng. Ngoài ra, các đảng phái chính trị trong nền dân chủ đại diện còn đóng một
vai trò rất lớn trong việc duy trì sự ổn định bằng cách thực hiện các vai trò của mình
trong cơ quan lập pháp, góp phần tạo nên sự ổn định của chính phủ.
Thứ năm, các đảng chính trị giúp hội tụ những nhà lãnh đạo toàn diện, người có
đủ tố chất liêm chính, được tín nhiệm, có ảnh hưởng, có khả năng lãnh đạo gấp nhiều
lần các thành viên của nó và chuẩn bị cho cuộc bầu cử trong tương lai. Bởi lẽ chính
những thành viên đại diện của đảng chính trị là người truyền bá hệ tư tưởng của đảng,
thảo luận các vấn đề xã hội và tổ chức các cuộc họp, họp báo để vận động hỗ trợ từ
cộng đồng…
1.1.2. Nhận thức về Hệ thống chính trị và Hệ thống chính trị ở cơ sở
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của Hệ thống chính trị
Khi nghiên cứu hệ thống chính trị có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cơ
bản có thể nghiên cứu theo ba cách sau:
Thứ nhất, tiếp cận từ góc độ tổ chức và chức năng thì hệ thống chính trị là một
hệ thống các cơ quan, tổ chức chính trị hợp pháp thực hiện các hoạt động mang tính
chính trị trong xã hội. Từ góc độ này, hệ thống chính trị được hiểu là hệ thống các tổ
chức chính trị - xã hội, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước của giai cấp cầm
quyền cùng với các quy định, thể chế về mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức đó, tác

và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở, liên quan đến cả cơ cấu tổ
chức, cơ chế vận hành, bố trí cán bộ, phương thức hoạt động, lề lối làm việc và chế
độ, chính sách đãi ngộ... rất phức tạp, nhạy cảm”[45].
Khi nghiên cứu hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới, có thể thấy tùy
vào thể chế chính trị, đặc điểm của từng bộ phận trong hệ thống chính trị ấy mà có đặc
điểm khác nhau. Hầu hết đảng chính trị ở các nước phương Tây hiện đại, đặc điểm cơ
bản đó là hệ thống “đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị”. Xét cho cùng, tuy "đa nguyên,

13


đa đảng” nhưng về cơ bản cơ quan Lập pháp và Hành pháp đều nằm trong tay các đảng
tư sản cầm quyền. Ngay cả trường hợp có một số đảng liên minh cầm quyền thì trên
thực tế vẫn chỉ có các đảng lớn, có thế lực nhất nắm quyền quyết định, và suy đến cùng
là bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ tư bản chủ nghĩa.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, chế độ “nhất nguyên chính trị” là sản phẩm tất
yếu của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản chống
lại giai cấp tư sản. Sau khi trở thành lực lượng cầm quyền, Đảng Cộng sản là lực
lượng lãnh đạo, thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đối với tổ chức Nhà nước, trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều hình thức thể chế
nhà nước, song có thể quy thành hai hình thức cơ bản là Quân chủ và Cộng hòa. Mỗi
thể chế có những đặc điểm riêng.
Đối với các tổ chức chính trị - xã hội và các nhóm lợi ích, hoạt động của chúng
vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội. Tùy điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể
ở mỗi nước, các tổ chức này có đặc điểm riêng về tổ chức và phương thức hoạt động.
Thông thường các tổ chức này không đặt ra mục tiêu giành hoặc tham gia chính
quyền; mà thường vì lợi ích của các thành viên trong tổ chức của mình tìm cách tác
động, gây ảnh hưởng đối với chính quyền và đảng phái chính trị.
Khác với hệ thống chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa và hệ thống chính trị ở các

Xét từ góc độ cấu trúc tổ chức của hệ thống chính trị có thể khái niệm hệ thống
chính trị ở cơ sở là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận: Đảng bộ, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các thành viên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhằm thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân địa phương. Mỗi bộ phận trong hệ thống có vai trò, chức năng
riêng và có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành hệ thống, quản lý và điều hành mọi
hoạt động tại cơ sở về các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Từ những cách tiếp cận về khái niệm và đặc điểm của hệ thống chính trị Việt
Nam, có thể khái quát hệ thống chính trị ở cơ sở có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hệ thống chính trị ở cơ sở là một bộ phận quan trọng, không thể tách
rời của hệ thống chính trị Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
bảo đảm tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị Việt Nam.
Thể chế chính trị nước ta là nhất nguyên chính trị, duy nhất một Đảng lãnh đạo.
Mỗi một thành tố trong hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập
và lãnh đạo, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của Nhân dân, tổ chức tập
hợp, đoàn kết, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng, nhưng đồng thời
cũng vừa là tổ chức mà thông qua đó Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện việc lãnh
đạo chính trị đối với xã hội.
15


Xét ở khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của chỉnh thể hệ thống
chính trị ở nước ta thì hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp thấp nhất. Tuy nhiên, ở cấp
thấp nhất nhưng lại quan trọng nhất, vì cấp ở cơ sở là cấp trực tiếp thực thi các đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện được hay
không là do ở cơ sở.
Thứ hai, xét về mặt cấu trúc, hệ thống chính trị cơ sở bao gồm Đảng bộ, Chính
quyền cơ sở, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhằm thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân ở địa phương. Hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản, cán bộ
được hưởng các chế độ sinh hoạt phí thấp nhất, đội ngũ cán bộ thường xuyên biến

Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là miền núi, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố đặc thù mang tính chất vùng như:
các quan hệ cộng đồng, các yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, phương thức
sản xuất…
Những đặc điểm mang tính đặc thù trên có thể tác động, ảnh hưởng đáng kể đến
quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Trong quan hệ với dân, cán bộ ở cơ sở có thể bị chi phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ
họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã...vì vậy
phải chú ý khắc phục những tư tưởng lệch lạc, lạc hậu.
Thứ năm, các mối quan hệ theo nhiều hướng đang đan xen và tác động lẫn nhau
hết sức sinh động và phức tạp.
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở, quan hệ giữa các thiết chế được xác lập theo
cơ chế chủ đạo: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.
Quan hệ giữa Đảng bộ cơ sở với chính quyền cơ sở là mối quan hệ giữa hai chủ
thể vừa phụ thuộc, vừa độc lập. Đảng lãnh đạo nhưng tổ chức đảng và đảng viên hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chấp hành chủ trương, nghị quyết của
chính quyền địa phương; tuân thủ nội quy, quy chế hoạt động của chính quyền cơ sở;
chính quyền cơ sở chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở nhưng độc lập trong việc tổ
chức điều hành, quản lý các công việc tại địa phương, trực tiếp giải quyết các vấn đề
đặt ra tại địa phương.
Quan hệ giữa Đảng bộ cơ sở với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tại cơ sở là
17


mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo với các tổ chức đại diện hợp pháp cho các tầng lớp
Nhân dân, mà Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị. Đảng bộ vừa là người lãnh
đạo Mặt trận cũng vừa là thành viên của Mặt trận. Vì vậy, quan hệ giữa Đảng bộ và Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc vừa là quan hệ lãnh đạo vừa là quan hệ hiệp thương dân chủ, phối
hợp và thống nhất hành động.
Quan hệ giữa chính quyền cơ sở với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân

Vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở được thể hiện qua sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị ở cơ sở, đồng thời cũng được thể hiện thông qua vai trò của từng
bộ phận cấu thành nên nó. Nhìn chung hệ thống chính trị ở cơ sở có những vai trò sau:
+ Phát huy dân chủ ở cơ sở, đoàn kết, tập hợp quần chúng và huy động sức
mạnh tổng hợp từ cơ sở để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước.
+ Xác định các biện pháp và trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cụ thể hóa quy hoạch kinh tế - xã hội và
các quyết sách của cấp trên tại cơ sở.
+ Thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, trật
tự kỷ cương xã hội trên địa bàn.
+ Bảo đảm, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, quyền công dân tại cộng
đồng cơ sở.
+ Tạo điều kiện và phối hợp với các thiết chế tự quản, các hội nghề nghiệp, từ
thiện, nhân đạo…để vận động và hướng dẫn các tổ chức đó hoạt động đúng hướng,
đúng pháp luật.
+ Phát hiện nhu cầu, tổng hợp các sáng kiến tại cơ sở, chuyển tải các nguyện
vọng của nhân dân địa phương phục vụ quá trình xây dựng chủ trương, chính sách,
biện pháp phát triển phù hợp với đặc điểm của vùng, khu vực.
Vai trò của từng bộ phận trong hệ thống chính trị ở cơ sở thể hiện thông qua
chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế, năng lực của các thiết chế trong việc thực hiện
hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và khả năng tác động tới quá trình xây dựng, phát
triển tại địa phương. Trong đó tổ chức cơ sở đảng có vai trò hạt nhân lãnh đạo chính
trị; chính quyền cơ sở là đơn vị thực hiện, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là nơi trực tiếp
trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đối với các đoàn thể Nhân dân có vị
trí đặc biệt quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết Nhân dân, chăm lo lợi ích của
19


thành viên, thực hiện dân chủ thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối

20


Ngoài hệ thống tổ chức cơ bản, tổ chức đảng còn được thành lập theo khối.
Trung ương lập một số đảng bộ khối trực thuộc Trung ương. Các đảng bộ khối này
được tổ chức theo các đơn vị cùng ngành hoặc các ngành có chức năng tương đồng và
có mối quan hệ với nhau về nhiệm vụ chính trị.
Các đảng bộ khối trực thuộc Trung ương bao gồm các đảng bộ của các cơ quan
có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Hiện nay, có hai đảng bộ khối trực thuộc Trung ương là Đảng bộ Khối các cơ quan
Trung ương và Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương. Các đảng bộ trực thuộc Đảng
bộ Khối trực thuộc Trung ương là các đảng bộ cấp trên cơ sở, bao gồm các loại hình:
- Các đảng bộ trong các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ
chức chính trị - xã hội.
- Các đảng bộ được thành lập trong các doanh nghiệp lớn, đông đảng viên, các
tổ chức kinh tế… Hầu hết đây là các đảng bộ trực thuộc Đảng bộ khối doanh nghiệp
Trung ương.
- Các đảng bộ khối thuộc Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ở
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Đảng bộ Khối cơ quan tỉnh, thành phố; ở
các tỉnh, thành phố có nhiều doanh nghiệp thì có Đảng bộ khối doanh nghiệp. Ngoài
ra, còn có các đảng bộ tương đương cấp huyện được thành lập ở một số nơi khác có
đặc điểm riêng (thực hiện theo quy định Điều lệ Đảng).
Trực thuộc các đảng bộ cấp trên cơ sở là các tổ chức cơ sở đảng. Đây là các
đảng bộ, chi bộ được thành lập tại các tổ chức kinh tế - xã hội như cơ quan, doanh
nghiệp, hợp tác xã, đơn vị.
Đối với hệ thống tổ chức Đảng trong Quân đội, Công an được tổ chức tương
ứng với cơ cấu tổ chức của Quân đội và Công an, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và Công an.
Xét từ góc độ đơn vị hành chính, trong hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng thì tổ
chức cơ sở Đảng được thành thành lập tại xã, phường, thị trấn; là tổ chức đảng trực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status