MỤC LỤC
1
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
2
Từ viết tắt
KKT
KCN
TNHH
MT
DDI
FDI
TNMT
4
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu kinh tế Nghi Sơn là một khu kinh tế tổng hợp, song các ngànhkinh
tếđược ưu tiên là công nghiệp nặng và công nghiệp hóa dầu và đây cũng là
mục tiêu chính để xây dựng và phát triển khu kinh tế Nghi Sơn gắn với việc
xây dựng và khai thác có hiệu quả cảng biển Nghi Sơn, hình thành các sản
phẩm mũi nhọn, có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, các loại hình dịch
vụ cao cấp đẩy mạnh xuất khẩu; mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới.
Trong những năm qua, khu kinh tế Nghi Sơn đã dần hoàn thiện và mở
rộng cả về quy mô lẫn cơ cấu các ngành công nghiệp.Vào cuối năm 2015,
Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định điều chỉnh mở rộng Khu kinh tế Nghi
Sơn từ hơn 18.600ha lên 106.000ha, trên 90% diện tích trong Khu kinh tế đã
có quy hoạch chi tiết, tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đạt trên 75%.
Tính đến ngày 15/9/2015, Khu kinh tế Nghi Sơn đã thu hút 152 dự án
đầu tư, trong đó có 141 dự án đầu tư trong nước, 11 dự án FDI với các ngành
nghề như:công nghiệp lọc-hóa dầu, công nghiệp cán thép cao cấp, cơ khí chế
tạo, sửa chữa và đóng mới tàu biển, công nghiệp điện, công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng, sản xuất và tiêu dùng, chế biến hàng xuất khẩu…Một số
các dự án lớn mang tầm quốc gia đầu tư vào khu kinh tế Nghi Sơn như: Liên
hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (dự kiến đi vào vận hành thương mại đầu năm
2017, với công suất dự kiến là 10 triệu tấn/năm, sẽtạo động lực to lớn cũng
như cơ hội để KKT Nghi Sơn thu hút các ngành công nghiệp phụ trợ như: sản
xuất hóa chất, hạt nhựa và cơ khí chế tạo…), trung tâm nhiệt điện Nghi Sơn 1
hiện đã đi vào vận hành (với công suất là 600 MW), trung tâm nhiệt điện
Nghi Sơn 2 dự kiến khởi công xây dựng vào tháng 9/2015 với công suất dự
là một mối quan tâm lớn bởi lẽ hầu hết các hoạt động sản xuất, sinh hoạt diễn ra
trong Khu kinh tế đều phát sinh chất thải rắn trong đó có cả chất thải rắn nguy
hại. Vấn đề này không chỉ gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe
của con người mà còn ảnh hưởng đến mỹ quan trong khu vực. Vậy để giảm
thiểu tác động tiêu cực từ chất thải rắn đến môi trường, đến mỹ quan trong khu
vực thì các cơ quan chức năng mà cụ thể ở đây là Ban quản lý Khu kinh tế Nghi
Sơn đã có những kế hoạch, chương trình hành động gì và hiệu quả ra sao?
Để tìm hiểu vấn đề trên, em đề xuất đề tài:
6
“ Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn tại Khu kinh tế Nghi Sơn,
6
tỉnh Thanh Hóa”
Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu hiện trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn
tại KKT Nghi Sơn.
- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn tại KKT Nghi Sơn và đề xuất
giải pháp phù hợp.
Yêu cầu nghiên cứu:
- Trình bày được hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại Khu kinh tế
Nghi Sơn và đưa ra những hạn chế, những nhược điểm còn tồn tại trong
công tác quản lý chất thải rắn tại đây.
- Đề xuất được một số các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập
trong quản lý chất thải rắn trong Khu kinh tế Nghi Sơn.
- Tài liệu thu thập được phải có tính cập nhật, phản ánh đúng nội dung
nghiên cứu.
7
đất nước, được chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi
khung pháp lý có tính ưu đãi, mở cửa theo các thông lệ quốc tế.
• Môi trường đầu tư, kinh doanh, buôn bán trong KKT phù hợp với cơ chế thị
trường, được hưởng quy chế ưu đãi hơn các vùng khác.
8
8
• Giao lưu kinh tế giữa KKT với nước ngoài thông thoáng, không bị hạn chế,
ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
• Mục đích chung của việc xây dựng các KKT là tạo nên sự giao thương thông
thoáng nên thu hút mạnh đầu tư và công nghệ tiên tiến của nước ngoài và
thông qua đó thúc đẩy kinh tế nước mình phát triển nhanh.
Một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta (100 km²), có
vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu
hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của
quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và
nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết
cấu hạ tầng kỹ thuật. Do điều kiện thành lập như vậy, tất cả các khu kinh tế
hiện nay của Việt Nam chủ yếu ở ven biển và các khu kinh tế cửa khẩu. Thủ
tướng Chính phủ Việt Nam cũng đã phê duyệt "Quy hoạch phát triển các Khu
kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020". Theo đó, đến năm 2020, Việt
Nam sẽ có 30 khu kinh tế cửa khẩu (Nghị định số 29/2008/ND-CP ngày
14/3/2008 của chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu
kinh tế).
Các khu kinh tế ở Việt Nam đi vào hoạt động với đa dạng các lĩnh vực
như công nghiệp, dịch vụ, xây dựng… nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước
và xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài. Và việc thành lập các khu kinh tế ở Việt
nam đã giúp nền kinh tế của đất nước ngày càng đi lên cũng như tăng cường
hội nhập với các nền văn hóa với các nước trên thế giới.
(Nguồn: Báo cáo của Vụ quản lý các khu kinh tế, Bộ kế hạch và Đầu
tư, 2015)
Mục tiêu của các Khu kinh tế ven biển ở Việt Nam
Mục tiêu chung: Nhằm tạo những cửa mở hướng ra biển, góp phần củng
cố sức mạnh, tiềm lực bên trong và lan tỏa thúc đẩy kinh tế trong nước phát
triển theo hướng hội nhập với khu vực và thế giới.
Mục tiêu phát triển Khu kinh tế ven biển giai đoạn 2011-2020:
• Trong kế hoạch 5 năm 2011-2015 sẽ thành lập KKT Năm Căn, tỉnh Cà Mau
đồng thời quy hoạch mở rộng KKT Dung Quất; xem xét bổ sung vào quy
hoạch phát triển KKT từ 2-3 KKT mới, nâng tổng số các KKT được Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập lên khoảng 18 KKT với tổng diện tích
10
10
cả mặt đất và mặt nước khoảng 740-760 nghìn ha.
• Đến năm 2015, các KKT thu hút được khoảng 1.000 - 1.100 dự án, trong đó
có 450-500 dự án đầu tư nước ngoài và 550-600 dự án đầu tư trong nước với
tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 45-47 tỷ USD và 240-260 nghìn tỷ đồng.
Các khu kinh tế ven biển đóng góp vào tổng GDP của cả nước khoảng 5% và tạo
ra việc làm phi nông nghiệp cho khoảng 300 - 500 nghìn người.
• Đến năm 2020, các KKT thu hút được khoảng 1.500- 2.000 dự án, trong đó
khoảng 60% là dự án đầu tư nước ngoài và 40% là dự án đầu tư trong nước với
tổng vốn đăng ký đạt khoảng 70-80 tỷ USD và 320- 350 nghìn tỷ đồng. Các
KKT ven biển đóng góp vào tổng GDP của cả nước khoảng 15 - 20% và tạo ra
việc làm phi nông nghiệp cho khoảng 1,3 - 1,5 triệu người
(Theo báo cáo Vụ QLKT-Bộ KHĐT, 2015)
1.2.2. Tình hình phát triển của các Khu kinh tế ven biển
Đến nay, cả nước có 15 KKT ven biển được thành lập với tổng diện
KKT đã thành lập
Vân Đồn
Quảng Ninh
Đình Vũ - Cát Hải
Hải Phòng
Nghi Sơn
Thanh Hoá
Đông Nam Nghệ An
Nghệ An
Vũng áng
Hà Tĩnh
Hòn La
Quảng Bình
Chân Mây - Lăng Cô
Thừa Thiên Huế
Chu Lai
Quảng Nam
Dung Quất
Quảng Ngãi
Nhơn Hội
Bình Định
Nam Phú Yên
Phú Yên
Vân Phong
Khánh Hoà
Định An
Trà Vinh
Đảo Phú Quốc
Kiên Giang
Năm Căn
18.611
18.826
22.781
10.000
27.108
27.040
10.300
12.000
20.730
150.000
39.020
56.100
11.000
662.768
(Nguồn: Thùy Nhi, IPCS, 2015)
Trong đó có 8 khu kinh tế trọng điểm để tập trung đầu tư phát triển từ
nguồn ngân sách Nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 đó là: Khu kinh tế Chu Lai,
tỉnh Quảng Nam - Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi; Khu kinh tế Đình Vũ - Cát
Hải, thành phố Hải Phòng; Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Khu kinh
tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh; Khu
kinh tế Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên; Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;
Khu kinh tế Định An, tỉnh Trà Vinh. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung
phân bổ vốn đầu tư cho 8 nhóm Khu kinh tế ven biển trọng điểm nêu trên tối
thiểu bằng 70% tổng nguồn vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân sách Trung ương trong
kế hoạch hàng năm và 5 năm 2016 - 2020 cho các Khu kinh tế ven biển.
Trong phát triển Khu kinh tế ven biển giai đoạn 2016-2020, được chia ra làm
2 giai đoạn nhỏ: giai đoạn 2016-2017 và Giai đoạn 2018-2020
• Giai đoạn 2016 - 2017 tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà
12
từ năm 2012 đến nay
Năm
Số KKT
13
2012
15
2013
15
13
2014
15
2015
16
Tổng diện tích
697.800
(đơn vị: ha)
Kết cấu
Có 9 KKT đã
hạ tầng
đi vào hoạt
động và một
số đang hoàn
thiên
Thu hút vốn 15 dự án đầu
của FDI
Cấp mới cho
158 dự án và
thu hồi 32 dự án
đầu tư (vốn đầu
tư trong nước)
Có 9 KKT đã
đi vào hoạt
động và một
số đang hoàn
thiên
Lũy kế đến
cuối 9/2015,
Các KKT thu
hút được 302
dự án FDI và
863 dự án đầu
tư trong nước
(Nguồn:Thùy Nhi, IPCS,2015)
Số lượng khu kinh tế chủ trương thành lập qua các năm (tính từ năm
2012) hầu như giữ ở mức ổn định, đến năm 2015 tăng thêm một khu kinh tế ở
Quảng Trị, diện tích đất dành cho các khu kinh tế cũng ngày càng được mở
rông,số lượng các dự án đầu tư trong và ngoài nước qua các năm đều tăng.
Điều này cho thấy mối quan tâm lớn của Chính phủ cũng như tiềm năng phát
triển các khu kinh tế. Theo báo cáo về tình hình phát triển KCN- KKT 9 tháng
đầu năm 2015 của Bộ kế Hoạch và đầu tư, các KKT ven biển đã thu hút được
863 dự án với tổng mức đầu tư 547.815 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt
176.210 tỷ đồng, bằng 31% tổng vốn đăng ký.
động đã có đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương,
tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế-lao động theo hướng
công nghiệp hóa, giải quyết việc làm.
Tuy nhiên, một số khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển khu
kinh tế:
- Cơ chế, chính sách đối với KCN, KKT trong đó có phân cấp ủy quyền
quản lý KCN, KKT vẫn còn những điểm vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện.
- Vấn đề bảo vệ môi trường KCN đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn tồn
tại một số KCN, doanh nghiệp KCN chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về
môi trường.Việc phối hợp kiểm tra, giám sát bảo vệ môi trường KCN, KKT
của các cơ quan Nhà nước chưa thật chặt chẽ.
- Cơ cấu đầu tư, lao động trong các KCN, KKT chưa thực sự hợp lý, hàm
lượng công nghệ, lao động tri thức trong các KCN, KKT còn hạn chế.
- Công tác xây dựng hạ tầng KKT còn chậm; huy động các nguồn vốn cho
15
15
phát triển hạ tầng KKT còn gặp nhiều khó khăn
(Nguồn: Báo cáo của Vụ quản lý khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,2015)
Phát huy những thế mạnh và khắc phục những khó khăn trong xây dựng
và phát triển khu kinh tế ven biển là một trong những mối quan tâm hàng đầu
hiện nay của các cấp, các ngành và địa phương để từ đó góp phần phát triển
đất nước.
1.2.3. Ảnh hưởng của việc phát triển các khu kinh tế ven biển đến môi trường
Trong quá trình các khu kinh tế được xây dựng và đi vào hoạt động
không tránh khỏi việc tác động xấu đến môi trường bởi các chất thải rắn,
lỏng, khí. Bên cạnh đó việc quy hoạch các vùng đất ven biển để xây dựng cơ
sở hạ tầng phục vụ cho phát triển khu kinh tế cũng làm ảnh hưởng đến hệ sinh
ven biển. Tại những địa phương có khu kinh tế được thành lập, trình độ dân
trí ở đây phần nào được nâng cao, tiếp cận thông tin một cách nhanh hơn,…
Ảnh hưởng từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu kinh tế:
• Có thể làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái địa phương do hoạt động đào đất, múc
đất, xây dựng các hạng mục công trình trên đất nông nghiệp làm phá hủy hệ
sinh thái nông nghiệp,…
• Bụi từ quá trình vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng, tiếng ồn khi xây dựng
các công trình, chất thải sinh hoạt của công nhân tại công trường…không chỉ
làm ô nhiễm môi trường mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
• Quá trình giải phóng mặt bằng cũng gặp những khó khăn do thương lượng với
người dân chưa được thỏa đáng dẫn đến tình trạng đụng độ qua lại giữa 2
bên,làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội.
1.3. Tổng quan về chất thải
1.3.1. Khái niệm, phân loại chất thải
Khái niệm:
Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con
người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại,
sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra,
còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao
thông, chất thải là kim loại, hoá chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân
Nguyên, 2004).
Phân loại chất thải:
Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định)
trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình
quản lý khác nhau ( Theo nghị định 38/NĐ-CP 2015 về quản lý chất thải và
phế liệu)
17
17
1.3.2. Tổng quan về chất thải rắn
a. Khái niệm và phân loại, thành phần chất thải rắn
18
18
Khái niệm: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn
bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại (Nguyễn Xuân
Cường, 2012)
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công
cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt
động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt
động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp.
Phân loại chất thải rắn:
Việc phân loại chất thải rắn giúp xác định các loại khác nhau của chất
thải rắn được sinh ra, từ đó giúp tăng khả năng tái chế và tái sử dụng lại các
vật liệu trong chất thải, đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Theo
báo cáo môi trường quốc gia về chất thải rắn năm 2011, chất thải rắn được
phân loại như sau:
Bảng 1.3: Phân loại chất thải rắn nguồn phát sinh
Nguồn
phát
sinh
CTR
đô thị
CTR
CTR
y tế
Thông
thường
Chất thải nhà bếp, chất thải từ hoạt động hành chính, bao
gói thông thường,..
Phế thải phẫu thuật, bông, gạc, chất thải bệnh nhân, chất
Nguy hại
phóng xạ, hóa chất độc hại, thuốc quá hạn,..
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia về chất thải rắn năm 2011)
Bảng 1.4: Phân loại chất thải rắn theo tính chất độc hại
Tính chất
Thành phần
Chất thải rắn thông Là toàn bộ chất tải rắn không nằm trong danh mục
thường
chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất
hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ
độc hoặc các đặc tính nguy hại khác.
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu là từ
hoạt đông y tế, công nghiệp và nông nghiệp.
• Kích thước hạt: tùy từng loại CTR mà có kích thước hạt khác nhau.
• Tiềm năng nhiệt lượng: lượng nhiệt tiềm năng phụ thuộc vào độ ẩm và H
chứa trong CTR.
• Khả năng giữ ẩm thực tế của chất thải rắn.
Tính chất hóa học:
Các thành phần chủ yếu trong chất thải rắn: C, H, O, N, S và tro, tỷ kệ
các thành phần thường được tính theo % khối lượng. Thành phần hữu cơ và
vô cơ của chất thải rắn là thông số để tính toán khả năng tái chế.
Tính chất sinh học:
Về phương diện sinh học, chất hữu cơ (trừ nhựa, cao su, da) có thể
phân thành thành những loại sau:
• Các phân tử có thể tan trong nước như: đường, tinh bột, amino axit và nhiều
axit hữu cơ khác.
• Xenlulo: là sản phẩm ngưng tụ của đường 5, 6 carbon; Dầu, mỡ, sáp là những
este của alcohols và axit béo mạch dài.
• Lignin: là một polyme chứa các vòng thơm với nhóm methoxyl
(-OCH3); - Lignoxenlulo: là kết hợp lignin và xenlulo
• Protein: là chất tạo thành từ sự kết hợp chuỗi amino axit.
(Theo Nguyễn Xuân Cường, 2012)
c. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe của con người.
Tác động đến MT của CTR liên quan chủ yếu đến việc xử lý không triệt
21
21
hoặc chôn lấp thủ công vào trong lòng đất. CTRNH nếu không được phân loại
và thu gom, xử lý riêng, sẽ ảnh hướng đến MT, cụ thể:
Môi trường không khí:
phát sinh ít nhưng rất độc hại đối với thực vật và có khả năng hạn chế sự phát
triển của thực vật.
• Gây khó chịu do mùi hôi thối từ các bãi rác sản sinh ra các khí NH3, H2 S,
CH3.
• Gây tiếng ồn do vận hành các máy ép của hệ thống thu khí, các xe vận chuyển
và nhà máy xử lý rác.
• Gây hiệu ứng nhà kính do sự phát sinh của CH4 và CO2.
(Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011)
Môi trường nước:
CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô
nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích
tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước. Chất thải rắn
hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm
cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái. CTR phân huỷ và các chất
ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, có mùi khó chịu.
Một lượng không nhỏ nước rỉ rác từ các hệ thống chôn lấp rác không
đạt chuẩn, các bãi rác lộ thiên hoặc từ các hệ thống chôn lấp đã quá tải rò rỉ
chảy vào các nguồn nước mặt thậm chí là các nguồn nước ngầm. Nước rỉ rác
chứa hàm lượng các chất ô nhiễm rất cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân
súc vật, các thức ăn thừa...; chất thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón, thuốc
trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm…) vì thế nếu không được thu gom xử lý sẽ
thâm nhập vào nguồn nước gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng.
Vấn đề ô nhiễm amoni ở tầng nông (nước dưới đất) cũng là hậu quả của
nước rỉ rác và của việc xả bừa bãi rác thải lộ thiên không có biện pháp xử lý
nghiêm ngặt.
(Nguồn:Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011)
Môi trường đất:
Các chất thải rắn có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây
ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường.
ảnh hưởng ở mức cao do bụi, mầm bệnh, các chất độc hại, côn trùng đốt/chích
và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá trình làm việc. Vì vậy, các chứng bệnh
thường gặp ở đối tượng này là các bệnh về cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy,
và các vấn đề về đường ruột khác. Bên cạnh đó, các vật sắc nhọn như thuỷ tinh
vỡ, bơm kim tiêm cũ,... có thể là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người
(lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như AIDS,...) khi họ dẫm phải hoặc bị cào
xước vào tay chân (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011).
Các thành phần như kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy có khả
năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm cũng như trong mô tế bào động
24
24
vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong môi trường gây ra hàng loạt bệnh nguy
hiểm đối với con người như vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh; tác động lên hệ
miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi
chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế hệ thứ 3...
Bên cạnh các chất thải từ công nghiệp, làng nghề, sinh hoạt thì nguồn
chất thải rắn nông nghiệp, đặc biệt chất thải chăn nuôi đang là một trong
những vấn đề bức xúc của người nông dân. Có những vùng, chất thải chăn
nuôi đã gây ô nhiễm cả không khí, nguồn nước, đất và tác động xấu đến sức
khoẻ người dân ở nông thôn.
Trước những tác động xấu mà chất thải rắn mang lại con người đã có
những giải pháp quản lý chất thải rắn và mang lại những kết quả nhất định tuy
nhiên vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải rắn đang là vấn đề đáng lo ngại
và vẫn là một môi quan tâm lớn.
• Các phương pháp xử lý chất thải rắn
Xử lý chất thải rắn là việc sử dụng các biện pháp cơ học, lý học, hóa
học, sinh học… nhằm giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn
trong chất thải (Nguyễn Xuân Cường, 2015)
Việc phân loại còn mang tính thủ