Tư tưởng hồ chí minh về “dân” và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng việt nam tt - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU TRANG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “DÂN” VÀ VAI TRÒ CỦA
NHÂN DÂN TRONG SỰ NGHIỆP
CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI
1 - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT

Phản biện 1: PGS. TS. Phạm NGọc Anh
Phản biện 2: TS. Trần Thanh Giang

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
16 giờ, ngày 10 tháng 4 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện khoa học xã hội

từ trung ương đến địa phương có sự suy thoái và tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau như sự phai nhạt về lý tưởng,
sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, tham ô, tham nhũng,

1


lãng phí, quan liêu, cửa quyền… . Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước đưa ra chưa thực sự hiệu quả, chưa xuất phát từ nguyện vọng
và lợi ích thiết thực của nhân dân. Từ đó, gây nên sự thiếu tin tưởng, mất
dần lòng tin, sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng và nhà nước cũng như
mất đi sức mạnh của nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước dẫn đến nguy cơ đe doạ đến sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Chính
vì vậy, Đảng và nhà nước ta phải có sự đánh giá lại, nhận thức sâu sắc hơn
về vai trò của quần chúng nhân dân và đặc biệt quan trọng, là phải biết
chăm lo cho cái gốc của mình là nhân dân, bám rễ trong nhân dân, phát huy
sức mạnh tổng hợp của nhân dân.
Từ lí do trên, tôi chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân” và
vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam” cho luận văn
thạc sĩ triết học với hy vọng góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm sáng tỏ
một số phương diện lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu tư tưởng của Hồ
Chí Minh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ chí Minh về “dân” và vai trò của nhân dân trong sự
nghiệp cách mạng Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của
các nhà khoa học với nhiều khía cạnh khác nhau và những cách tiếp cận
khác nhau. Cho đến nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu vấn đề
này. Trong phạm vi của luận văn, tôi xin trình bày khái quát một số hướng
nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, nhóm các báo, tạp chí và sách chuyên khảo

vực cụ thể, đồng thời làm rõ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo
dục ý thức chính trị cho mọi người dân trong xã hội.
Thứ ba, các luận văn, luận án triết học
Luận án tiến sĩ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng
nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc hiện nay”, Hà Trọng
Thà, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh), 2013. Luận án này đã trình bày cơ sở thực tiễn và tiền đề lý
luận cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân. Trên
cơ sở phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc, luận
án đã làm rõ thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân
dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc ở Việt Nam.

3


Luận văn thạc sĩ: “Sự phát triển từ tư tưởng thân dân của Nguyễn
Trãi đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh”, Cao Phan Giang, Đại học
Cần Thơ, 2010. Luận văn đã làm rõ những nội dung tư tưởng thân dân của
Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh; tập trung phân tích mối
liên hệ và sự phát triển từ tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết trên, ở mức độ nhất
định, đã chỉ ra được những nội dung cơ bản xoay quanh vấn đề tư tưởng về
dân, tư tưởng về vai trò của nhân dân, tư tưởng về “lấy dân làm gốc” trong
sự nghiệp cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh…Tuy nhiên, các quan
điểm trên còn hết sức rời rạc chưa đưa ra được đầy đủ, chính xác tư tưởng
của Hồ Chí Minh về “dân”, và vai trò của nhân dân. Không chỉ ra được ý
nghĩa to lớn của tư tưởng “dân” và vai trò của nhân dân đối với sự nghiệp
cách mạng nước ta. Chính vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên

quát hoá, trừu tượng hoá…
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tư tưởng “dân” và vai trò của
nhân dân trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí minh trên một số khía cạnh chủ
yếu.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tư tưởng và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí minh về
“dân” và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Trên cơ sở phân tích một cách có hệ thống nội dung cốt lõi trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về “dân” và vai trò của nhân dân. Luận văn góp phần
làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân” và vai trò của nhân dân
trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác
nghiên cứu, học tập giảng dạy triết học, Hồ Chí Minh học.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương và 4 tiết.

5


Chƣơng 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN
NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA
NHÂN DÂN

Chính sách cai trị của thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX đã làm Việt Nam biến đổi một cách sâu sắc, toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Với truyền thống yêu nước nồng nàn, ngay từ khi thực dân Pháp nổ
súng xâm lược, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên chống lại quân cướp
nước và bè lũ tay sai bán nước. Hồ Chí Minh nhận thấy các phong trào yêu
nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đều thất bại do chưa có đường lối
đúng đắn, chưa tập hợp được lực lượng của đông đảo quần chúng nhân dân.
Dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của các bâc tiền bối, nhưng không tán
thành các con đường cứu nứơc ấy, Hồ Chí Minh quyết tâm ra đi tìm đường
cứu nước mới. Sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước nghiên cứu thực
tiễn và kinh nghiệm của cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh đã tiếp thu
những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân, nhân dân là ngưới sáng tạo ra lịch sử, liên minh công nông là cơ
sở vững chắc để xây dựng lực lượng cách mạng... từ đó tìm ra con đường
giải phóng dân tộc đó là: con đường cách mạng vô sản với tinh thần dựa
vào sức mình là chính.
1.1.2. Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí
Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung sinh
ngày 19 tháng 5 năm 1890, tại làng Hoàng Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm
Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Xuất thân
từ một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên trên vùng quê nghèo lam lũ
nhưng rất ham học và có truyền thống yêu nước.
Với tấm lòng yêu nước thương dân, tư duy chính trị sắc bén, Hồ
Chí Minh đã suy ngẫm về nguyên nhân thất bại của những phong trào yêu
nước lúc bấy giờ và nung nấu quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước giành
độc lập cho dân tộc. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Hồ Chí Minh khi đó lấy tên
là Văn Ba đã rời bến cảng Nhà Rồng trên chiếc tàu Amiral Latuche Tréville


xuyên theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng ở nước nhà.
Năm 1941, Hồ Chí Minh trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào
cách mạng trong nước. Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ về lực lượng, sách lược
chiến đấu và nhận thấy thời cơ đã đến. Tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh

8


triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hội nghị
đã thông qua quyết định tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn
quốc. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh chủ trì Đại hội Quốc dân
tại Tân Trào (Tuyên Quang), Đại hội đã nhất trí với chủ trương tổng khởi
nghĩa và bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức chính phủ lâm
thời) cử Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí
Minh đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đã nhất tề
đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử thay
mặt Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hồ Chí Minh được bầu làm chủ tịch
nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đã cùng Đảng lãnh đạo
nhân dân xây dựng đất nước, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ.
Tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp âm mưu quay trở lại xâm lược nước ta
một lần nữa. Chúng đánh chiếm miền Nam rồi chuyển dần xâm chiếm miền
Bắc. Hồ Chí Minh lại tiếp tục lãnh đạo Đảng và toàn dân ta tiến hành cuộc
kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi vẻ vang với chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ (1954).
Hiệp định Géneva được kí kết, miền Bắc được giải phóng hoàn
toàn. Miền Nam bị đế quốc Mĩ xâm lược với âm mưu biến miền Nam Việt
Nam thành thuộc địa kiểu mới. Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh

Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Lịch sử của dân tộc ta cũng đã có những tư tưởng hết sức sâu sắc và
tiến bộ về vai trò và sức mạnh của nhân dân, coi dân là gốc của nước, có
dân mới có nước. Vai trò của nhân dân cũng được thể hiện qua các truyền
thuyết, sự tích của dân tộc từ ngàn đời xưa để lại.
Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam cũng đã có rất nhiều nhà tư
tưởng đưa ra những quan niệm hết sức đúng đắn, tích cực về “dân” và vai
trò và sức mạnh của nhân dân.
Trần Quốc Tuấn (1228 - 1300) là một nhà chính trị, nhà văn, nhà
quân sự kiệt xuất của Việt Nam thời nhà Trần. Ông đã nhận thức được tiềm
lực to lớn của nhân dân về kinh tế, quân sự, bảo đảm vững chắc cho nền
độc lập, chủ quyền của đất nước.
Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là một nhà tư tưởng lớn, một vị danh
nhân văn hóa dân tộc, anh hùng dân tộc thế kỷ XV đã đưa ra tư tưởng về

10


“dân”, vai trò và sức mạnh to lớn của nhân dân. Khái niệm “Dân” của
Nguyễn Trãi gồm tất cả những tầng lớp lao động trong xã hội đó là: sĩ,
nông, công, thương. “Dân” là lực lượng đông đảo chiếm đại đa số trong xã
hội, họ là những người lao động bình dị, những con người nghèo khổ đang
ngày đêm lao động miệt mài làm ra của cải để nuôi sống xã hội, những
người đang giúp nhà vua xây dựng một đất nước giàu mạnh, thái bình.
“Dân” trong tư tưởng của Nguyễn Trãi có vai trò quyết định đối với sự phát
triển của lịch sử, quyết định sự tồn tại hay tiêu vong của một triều đại bởi
người chở thuyền là dân mà người làm lật thuyền cũng là dân.
Lê Quý Đôn (1726 - 1784), là một vị quan dưới triều Lê Trung
Hưng, đồng thời là một nhà thơ, nhà bác học lớn của Việt Nam thế kỷ
XVIII. “Dân” trong tư tưởng của Lê Quý Đôn là gốc của nước. Lê Quý Đôn

Khổng Tử (551 - 479 TCN) là nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà
chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng, là người đã sáng lập ra Nho giáo - một
trong những học thuyết chính trị - xã hội, triết học lớn nhất của Trung Quốc
và phương Đông cổ đại. Dân trong quan niệm của Khổng Tử là thần dân
trăm họ, là “bá tính” chịu sự cai quản, thống trị của người có quyền lực cao
nhất là vua. Khái niệm dân của Khổng Tử được đưa ra dựa trên sự phân
chia con người trong xã hội thành hai hạng người là quân tử và tiểu nhân.
Khổng Tử cũng có những tư tưởng trọng dân và vì dân hết sức sâu sắc.
Theo Khổng Tử, đức tin của dân giữ một vai trò vô cùng quan trọng, nếu
thiếu lòng tin của nhân dân thì chính quyền sớm muộn cũng sẽ sụp đổ.
Khổng Tử không chỉ quan tâm đến việc nuôi dân, dưỡng dân về mặt vật
chất, mà còn chủ trương tăng cường giáo hoá dân và coi nhẹ hình phạt, xem
đó là việc chăm lo đời sống tinh thần cho nhân dân.
Mạnh tử (372 - 289 trước Công nguyên) là đại biểu xuất sắc của
Nho giáo thời Chiến Quốc, là người nối tiếp phát triển tư tưởng của Khổng
Tử. Trong tư tưởng của Mạnh Tử, dân là những người lao động chân tay,
họ đã và đang sản xuất ra mọi của cải vật chất nhằm duy trì sự tồn tại của
xã hội. Theo Mạnh Tử, dân gồm ba hạng người là công, nông, thương. Do
tiếp thu và phát triển tư tưởng của Khổng Tử nên Mạnh Tử cũng có quan
niệm dân là những người không có địa vị gì về kinh tế, chính trị, xã hội; có
trình độ hiểu biết và đạo đức thấp kém chịu sự sai khiến, điều khiển của
tầng lớp thống trị. Tuy nhìn nhận vị trí của dân ở góc độ là kẻ bị trị, nhưng
Mạnh Tử lại đánh giá rất cao vai trò của dân đối với sự tồn vong và phát
triển của một quốc gia.

12


Mạnh tử rất chú trọng đến việc chăm lo đời sống no đủ cho nhân
dân, ông còn chủ trương tăng cường giáo hoá dân, giảm nhẹ hình phạt.



định đanh thép về quyền độc lập, tự do của nhân dân, của dân tộc Việt
Nam.
1.2.3.Chủ nghĩa Mác - Lênin
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quần chúng nhân dân
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã đưa ra khái niệm hết sức
đúng đắn và đầy đủ về quần chúng nhân dân: “Con người là chủ thể sáng
tạo ra lịch sử, nhưng không phải theo phương thức, hành vi đơn lẻ, rời rạc,
cô độc của mỗi con người mà theo phương thức liên kết những con người
thành sức mạnh cộng đồng xã hội có tổ chức, có lãnh đạo của những cá
nhân hay các tổ chức chính trị, xã hội nhất định nhằm giải quyết các nhiệm
vụ lịch sử trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá của xã hội cộng đồng, đó chính là quần chúng nhân dân” [11, tr. 176-177].
Quần chúng nhân dân được tạo thành bởi những lực lượng cơ bản
sau: Thứ nhất, là những người lao động đã đem sức lực, trí tuệ của mình để
sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội - đây là hạt
nhân cơ bản của quần chúng nhân dân; Thứ hai, những bộ phận dân cư
chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với quần chúng nhân
dân; Thứ ba, những giai cấp, tầng lớp thông qua hoạt động trực tiếp hoặc
gián tiếp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của mình thúc đẩy xã
hội phát triển, tiến bộ.
*Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin đã khẳng định:
“Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử, lực lượng
quyết định sự phát triển của lịch sử. Do đó, lịch sử trước hết và căn bản là
lịch sử hoạt động của quần chúng nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội” [12, tr. 178].
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, quần chúng nhân
dân đóng vai trò là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, quyết định tiến trình phát

chỉnh quan niệm về nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự
nghiệp đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Có thể nói, một trong những tiền đề cơ bản quan trọng nhất mà nếu
không có tiền đề ấy Hồ Chí Minh sẽ không thể đưa ra được hệ thống tư

15


tưởng hết sức toàn diện sâu sắc về mọi vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam nói chung và tư tưởng của về “dân” và vai trò của nhân dân nói riêng.
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp thu một cách sáng tạo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về quần chúng nhân dân, coi quần chúng nhân dân là
chủ thể sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể quyết định tiến trình phát triển của
lịch sử. Vai trò của quần chúng nhân dân cũng được chủ nghĩa Mác Lênin
đưa ra một cách hết sức ngắn gọn, súc tích mà đầy đủ ý nghĩa: quần chúng
nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản tạo ra mọi của cải vật chất cho xã
hội; trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất nhân dân cũng sáng
tạo ra những giá trị tinh thần; quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của
mọi cuộc cách mạng và cải cách trong xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã
xây dựng nên tiền đề cơ bản nhất giống như nền móng vững chãi của một
ngôi nhà mà từ đó Hồ Chí Minh đã xây nên công trình tư tưởng đồ sộ của
mình. Trong những tưởng đặc sắc ấy, không thể không nhắc đến và đi sâu
nghiên cứu tư tưởng về „dân” và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách
mạng Việt Nam.

16


Chƣơng 2



“Dân” trong quan niệm của Hồ Chí minh còn là bốn phương vô sản
anh em, tức bao hàm cả quốc tế và nhân loại, đó là đại gia đình giai cấp
công nhân toàn thế giới, là bạn bè khắp năm châu bốn bể.
2.1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong
sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Thứ nhất, “dân” là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc
Tư tưởng “dân là gốc của nước”, “nước lấy dân làm gốc” hết sức
tiến bộ của Nho giáo. Tư tưởng này đã được Hồ Chí Minh thấm nhuần và
tiếp thu một cách sâu sắc trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình. Theo Người, nước là do dân lập nên, đất nước mà không có dân thì
đâu còn là đất nước, dân với nước gắn bó mật thiết với nhau. Vì vậy, dân là
gốc của nước và nước phải lấy dân làm gốc.
Tiếp thu tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã
kế thừa những yếu tố tích cực trong tư tưởng Nho giáo như thái độ quý
trọng dân, thấy được sức mạnh to lớn của dân, quan tâm đến đời sống của
nhân dân, lo cho dân, gần gũi dân, cư xử đúng mực với dân.
Thứ hai, sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân
Trên cơ sở tiếp thu tư tưởng lấy dân làm gốc của Nho giáo, cùng
với truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, học thuyết
Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách
mạng, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng hết sức đầy đủ, đúng đắn về vai trò và
sức mạnh của nhân dân. Người đánh giá rất cao vai trò, sức mạnh của nhân
dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, công cuộc xây dựng và
bảo vệ tổ quốc. Với Người, có dân là có tất cả, tin ở dân, dựa vào dân, tập
hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân là nguyên tắc cơ bản trong chiến
lược cách mạng của Người.
Đánh giá rất cao vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh
cách mạng giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh coi sức mạnh vĩ đại và năng

quyền lực nhà nước. Đó là bản chất của dân chủ và cũng là bản chất của
chủ nghĩa xã hội. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hiến pháp dân
chủ, xác định quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn là những quan
điểm cơ bản cho việc xây dựng thể chế chính trị dân chủ đó là xây dựng nhà
nước của dân, do dân và vì dân.
Vai trò làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế: Theo Hồ Chí
Minh dân chủ trong lĩnh vực kinh tế phải đảm bảo quyền làm chủ của nhân
dân trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất đó là nhân dân sở hữu đối với tư

19


liệu sản xuất, nhân dân làm chủ trong việc tổ chức, quản lý sản xuất và phân
phối sản phẩm sản xuất ra, trong đó quan trọng nhất là quyền sở hữu của
nhân dân đối với tư liệu sản xuất.
Giá trị thực tế của nhân dân làm chủ trong lĩnh vực kinh tế là đời sống vật
chất và tinh thần của người dân được nâng cao, nhân dân không chỉ biết đến
độc lập, tự do mà còn được ăn no, mặc ấm, được lao động, học tập, được
quan tâm cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Vai trò làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực văn hóa: Tư tưởng của
Hồ Chí minh về dân làm chủ trong văn hóa là văn hóa phải phục vụ cho
nhân dân và do nhân dân xây dựng.
Vai trò làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực văn hóa của Hồ Chí
Minh được thể hiện qua việc xây dựng nền giáo dục toàn diện mang tính
nhân dân và xây dựng đời sống văn hóa mới cho nhân dân.
2.2. Ý nghĩa của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về “dân” và vai trò của
nhân dân trong sự nghiệp cách mạng nƣớc ta hiện nay
2.2.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân và vai trò của nhân dân là sự kế
thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo tinh hoa lý luận của dân tộc và nhân loại.

năng xã hội, nhờ đó phát huy được mọi khả năng sáng tạo, làm nở rộ những
tài năng sáng kiến của nhân dân, tạo ra những nguồn lực dồi dào cho tiến bộ
và phát triển xã hội
Tin vào dân, gắn bó với nhân dân, hiểu rõ về nhân dân, thấy được
vai trò của nhân dân để có thể xây dựng Đảng ngày một trong sạch vững
mạnh hơn. Có thể nói, nhiệm vụ chống suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối
sống trong cán bộ, đảng viên hiện nay sẽ không thành công nếu không biết
dựa vào dân.
Sự vận dụng và tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và vai trò
của nhân dân của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện hết sức cụ thể thông
qua Chỉ thị 05 CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết
Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Những quan điểm của Người về dân, vai trò nhân dân, đã từng
bước được hiện thực hóa trong các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu
hóa, lựa chọn chế độ chính trị mà người dân được làm chủ đất nước, làm

21


chủ xã hội và chính bản thân mình một cách thực sự chứ không chỉ trên
danh nghĩa.
Tiểu kết chƣơng 2
Dân” trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là những người trong cùng
một quốc gia, một cộng đồng, một lãnh thổ, một dân tộc thống nhất, là
“quốc dân”, là đồng bào. Họ là những người có chung một nguồn cội,
chung một tổ tiên, dòng họ, là “con cùng một bọc”, là “con lạc cháu hồng”,
là “con cháu Việt Nam” đều là anh em ruột thịt một nhà nên sống chết,
sướng khổ vui buồn có nhau. Nhân dân là những người Việt Nam yêu nước,

Đảng và Nhà nước phải biết phát huy, vận động, tổ chức, lãnh đạo quần
chúng nhân dân. Sức mạnh của nhân dân là vô cùng, vô tận nhưng sức
mạnh ấy phải được huy động, tổ chức lãnh đạo để đi đúng hướng, phù hợp
với những nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kì, từng giai đoạn. Thứ
ba là Hồ Chí Minh luôn căn dặn mọi cán bộ, Đảng viên phải luôn quan tâm,
lắng nghe theo sát nguyện vọng của nhân dân để có thể hiểu được điều gì
dân thiếu, điều gì dân cần, để có thể tiếp thu học hỏi ý kiến của quần chúng
nhân dân trên cơ sở đó đưa ra được chủ trương đúng đắn hợp lòng dân, vì
dân và kịp thời sửa chữa những chủ trương chính sách chưa phù hợp.
Nhận thức đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân, Hồ Chí
Minh đã hiến dâng cả cuộc đời mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và
hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân và vai trò của
nhân dân có nội dung rộng lớn, sâu sắc, đầy sáng tạo. Tư tưởng ấy giúp
chúng ta tìm thấy sức mạnh trong công việc của mình, dù ở bất nơi nào, địa
vị ra sao, lĩnh vực gì, nếu biết dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, thật sự tôn trọng và học hỏi nhân dân thì nhất định sẽ thành công.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status