Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại Trường Đại học Dược Hà Nội trên quan điểm phát triển con người (LV thạc sĩ) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM PHƢƠNG NGỌC

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
TRÊN QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI
Chuyên ngành: Phát triển con người
Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Đỗ Hoài Nam. Các số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận văn “Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực tại Đại học Dược Hà Nội trên quan điểm phát triển con người” có
nguồn gốc rõ ràng, hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với đề tài khác trong
cùng lĩnh vực. Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu
nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Hà Nội, ngày

3.1. Đòi hỏi của Phát triển con người và ngành Dược trong giai đoạn 2016-2020 ..... 57
3.2. Một số giải pháp chủ yếu ....................................................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 72


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BS
BVĐK
CBYT
CCVC
CNH
CNTT
CTĐT
ĐH
ĐHDHN
DS
GDP
GS
GV
HĐH
HDI
KHCN
KNT
KTV
KT-XH
KX/KHXH
NCKH
NLĐ
NNL

Khu nội trú
Kỹ thuật viên
Kinh tế, xã hội
Ký hiệu tên đề tài nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học
Người lao động
Nguồn nhân lực
Nhà xuất bản
Phó giáo sư
Phát triển con người
Sinh viên
Tiến sỹ
Thạc sỹ
United Nations Development Programme
ơn trìn
t tri n của Liên hợp qu c
Vietnam Academy of Social Sciences
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định con người và NNL là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước,
phát triển giáo dục và đào tạo là phương tiện chủ yếu quyết định chất lượng con
người, là nền tảng của chiến lược PTCN. PTCN là một trong các mục tiêu quan trọng
nhất của phát triển kinh tế xã hội và đó cũng là phương tiện tốt nhất để thúc đẩy sự
phát triển, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn cả trên toàn thế giới.

Cùng với những chuyển đổi to lớn và sâu sắc của nền kinh tế và xã hội đất
nước ta, ngành Y tế không chỉ thụ hưởng những thành tựu chung của đất nước mà
còn tạo ra những dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực đào tạo NNL y tế nói chung và
nhân lực dược nói riêng, nhằm thực hiện chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khỏe nhân dân. Việt Nam trở thành nước có số BS và DS trên đầu dân cao hơn
nhiều nước có mức thu nhập trung bình cao hơn Việt Nam.
Trong thập kỷ qua, có sự thay đổi to lớn trong việc hành nghề dược trên toàn
thế giới. Do đó, nhu cầu về đào tạo và sử dụng nhân lực dược không ngừng gia tăng
bởi số lượng thuốc mới, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân ngày một cao. Nhân
lực dược là xương sống của ngành dược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, việc
đào tạo và sử dụng nhân lực dược phải đáp ứng nhu cầu của hiện tại và tương lai vì
sự phát triển liên tục của ngành nghề.
Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày
10/01/2014 đã nêu rõ: “Phát triển ngành Dược theo hướng chuyên môn hóa, hiện
đại hóa, có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới; phát
triển hệ thống phân phối, cung ứng thuốc hiện đại, chuyên nghiệp và tiêu chuẩn
hóa” [30]. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và để thực hiện được nhiệm vụ trên
thì ngành Dược phải quan tâm xây dựng NNL cho mình vì con người là nguồn tài
nguyên quý báu quyết định sự phát triển của một ngành hoặc một lĩnh vực.
Trường ĐHDHN có sứ mạng đi tiên phong trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ
Dược cho ngành y tế Việt Nam đặc biệt là đào tạo đội ngũ chuyên gia có trình độ
cao ngang tầm khu vực và thế giới. Trường là một trong những trung tâm hàng đầu
của cả nước về nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, là đầu mối
giao lưu quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và NCKH của ngành Dược. Trường
2


ĐHDHN tiền thân từ Trường thuốc Đông Dương thành lập năm 1902. Năm 1961,
Trường được tách ra từ Trường ĐH Y Dược thành Trường ĐH Dược khoa và nay là

phát triển con người” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ.

3


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển NNL đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều
khía cạnh khác nhau, trong đó cũng có đề cập đến khía cạnh PTCN. Có nhiều
nghiên cứu nước ngoài và cả ở Việt Nam về NNL. Có thể nêu ra một số công trình
tiêu biểu như sau:
“Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH”, Phạm Minh Hạc (chủ
biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 1996; “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ
nhân lực trong điều kiện mới”, Nguyễn Minh Đường (chủ biên);... Nói chung đây là
những nghiên cứu xã hội học thuộc Chương trình KHCN cấp Nhà nước KX-07:
“Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” do
GS.VS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học
thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau.
Tác giả Nguyễn Phú Trọng (2000) với đề tài NCKH cấp Nhà nước
KHXH.05.03 “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”. Đã đúc kết và đưa ra
những quan điểm, sự định hướng trong việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đề tài
là tài liệu để tham khảo hữu ích đối với cán bộ là công chức trong đơn vị hành chính
sự nghiệp.
Tác giả Phạm Công Nhất (2008), “Nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu
cầu đổi mới và hội nhập kinh tế”, Tạp chí Cộng sản số 786. Trên cơ sở phân tích rõ
thực trạng NNL Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, về số lượng và chất lượng. Tác
giả đã nhấn mạnh chất lượng NNL nước ta còn nhiều bất cập và hạn chế do: thu
nhập bình quân đầu người thấp, vấn đề quy hoạch và phát triển NNL còn kém, từ
đó, tác giả đưa ra các giải pháp để phát triển và nâng cao chất lượng NNL đáp ứng

NNL – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1996 của Trần Văn Tùng - Lê Ái Lâm... Đặc biệt là chương trình khoa học cấp
Nhà nước KHXH-05 “Nghiên cứu văn hóa, con người, NNL đầu thế kỷ XXI”
(11/2003), gồm những công trình đáng chú ý như: “Ảnh hưởng của tiến bộ khoa
học, kỹ thuật và công nghệ đến việc nghiên cứu và PTCN và NNL những năm đầu
thế kỷ XXI” của TSKH Lương Việt Hải; “Phát triển NNL Việt Nam đầu thế kỷ
XXI” của TS. Nguyễn Hữu Dũng…
5


Từ quá trình nghiên cứu các công trình khoa học của các tác giả cho thấy NNL
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị nói riêng và
đất nước nói chung. Các nghiên cứu đều khẳng định yêu cầu phát triển đào tạo NNL
và ý nghĩa của việc nhận thức đúng đắn các chính sách phát triển đào tạo NNL.
Các nghiên cứu, tác phẩm, bài viết khoa học trên đã đề cập đến thực trạng
chất lượng NNL Việt Nam nhất là trong lĩnh vực đào tạo NNL trong CNH, HĐH ở
nước ta. Hầu hết các công trình nghiên cứu này đã tập trung nghiên cứu các phương
diện khác nhau của sự phát triển đào tạo NNL của Việt Nam và đề xuất những giải
pháp để đào tạo NNL, từ giáo dục – đào tạo đến giải quyết việc làm, đổi mới cơ
chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng NNL ở nước ta. Cũng có một số công
trình nghiên cứu về NNL y tế nói chung và của ngành Dược nói riêng. Hiện nay, số
công trình nghiên cứu về thực trạng nhân lực dược khá ít, hầu hết các nghiên cứu
chủ yếu hướng tới NNL y tế nói chung trong đó có đề cập nhân lực dược. Các báo
cáo tổng kết của Bộ Y tế, Cục Quản lý Dược có đánh giá thực trạng nhân lực dược
và mới đưa ra chỉ số nhân lực dược nói chung [3], [4], [10].
Các nghiên cứu phần nào chỉ ra các điểm mạnh, yếu trong chất lượng NNL y
tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu không đề cập nhiều đến chất lượng đào tạo NNL,
cũng như chưa có nghiên cứu nào về chất lượng đào tạo NNL trên quan điểm
PTCN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu và sử dụng dữ liệu trong giai
đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 để minh họa, đánh giá và phân tích trong quá trình
nghiên cứu, từ đó đưa ra các giải pháp cho giai đoạn 2016-2020
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu các tài liệu
về phát triển con người của Việt Nam và UNDP để nghiên cứu, phân tích tổng hợp
tài liệu, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên
quan đến mối quan hệ giữa giáo dục đào tạo và PTCN, nhất là trong ngành Dược.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn lựa chọn phương pháp tiếp cận, nghiên cứu dưới góc độ phát triển
con người, sử dụng chủ yếu các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
chuyên gia, phương pháp tiếp cận hệ thống.
Ngoài ra, luận văn sử dụng số liệu của Tổng cục Thống kê, số liệu của các
công trình, dự án, bài viết trên các sách, báo, tạp chí, báo cáo của Trường đăng trên
website và các tài liệu có liên quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn


Góp phần làm rõ khái niệm, vai trò và sự cần thiết phải nâng cao chất

lượng NNL trên quan điểm PTCN; Làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản về cách
tiếp cận trên quan điểm PTCN như các đặc điểm đặc trưng, các yếu tố liên quan…


Trên quan điểm PTCN, phân tích thực trạng chất lượng đào tạo NNL hiện

nay tại trường ĐHDHN
7


nhà kinh tế học sau này như Adam Smith, Karl Marx cũng đi theo quan điểm coi
con người là mục tiêu thực sự của tất cả mọi hoạt động.
PTCN trong tư tưởng của Karl Marx không phải thuần túy đảm bảo các yếu
tố tự nhiên, mà còn phát triển toàn bộ các giá trị tinh thần khác, hay nói cách khác,
phát triển các lực lượng mang bản chất người. PTCN là sự phát triển những năng
lực, phẩm chất người, năng lực cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và năng lực làm
chủ bản thân mình. Thông qua đó, con người thực hiện giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc, giải phóng và phát triển mình để trở thành con người tự do.
Ở Việt Nam, PTCN cũng từ lâu đã được biết tới như là một khái niệm rất cơ
bản trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" nổi tiếng. Nhưng khái niệm PTCN như
hiện tại đang được sử dụng phổ biến ở các quốc gia thành viên của tổ chức Liên
hiệp quốc, thì chỉ mới xuất hiện cùng với Báo cáo PTCN năm 1990 với tuyên ngôn
đầy ấn tượng của nó: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia
đó. Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con
người được hưởng cuộc sống dài lâu, khoẻ mạnh và sáng tạo. Chân lý giản đơn
nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải
vật chất và tài chính” [45].

9


Quan điểm về PTCN của UNDP đưa ra trong báo cáo PTCN năm 1990 gồm:
1), là quá trình tăng cường năng lực cho sự lựa chọn của con người. 2), là sự mở rộng
các cơ hội lựa chọn cho mọi người. Khái niệm này có thể được giải thích như sau:
- PTCN là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn của từng người và của từng
cộng đồng. Ở đâu con người có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, thì ở đó điều kiện
PTCN sẽ tốt hơn.
- PTCN là quá trình tăng cường các năng lực lựa chọn cho từng người và
từng cộng đồng. Ở đâu con người có năng lực lựa chọn cao hơn, thì ở đó trình độ
PTCN cũng cao hơn. Các năng lực của con người cần được tăng cường bao gồm

này có thể là việc tìm ra mối liên hệ giữa khái niệm PTCN với các khái niệm khác
như: quyền con người, an ninh con người, mục tiêu thiên niên kỉ, mối quan hệ giữa
PTCN và tăng trưởng kinh tế, hay PTCN và hạnh phúc.
Năm 2010, sau khi cải tiến phương pháp tính toán về các chỉ số PTCN,
UNDP định nghĩa lại: “PTCN là việc mở rộng quyền tự do của con người được
sống lâu, sống khỏe mạnh và sáng tạo; tiến tới đạt được những mục đích khác nhau
trong cuộc sống mà họ có lý do để coi trọng; và tham gia tích cực vào việc hình
thành nên một sự phát triển bình đẳng và bền vững trên một hành tinh chung. Con
người vừa là đối tượng hưởng lợi vừa là tác nhân thúc đẩy PTCN, dù với tư cách cá
nhân hay tư cách nhóm người” [46]. Theo quan niệm này, sự PTCN bao gồm các
yếu tố: sự thịnh vượng, trao quyền, tính chủ thể và công bằng. “Quan điểm này
nhấn mạnh tới việc lấy con người làm trung tâm và sự tự do của con người” [46].
Con người không phải là đối tượng thụ động mà là những chủ thể của chính quá
trình phát triển. PTCN phải bao gồm trao quyền cho con người, để họ là tác nhân có
trách nhiệm và đổi mới chính mình trong quá trình phát triển. “PTCN giúp con
người có thể tự giúp được chính họ” [46]. Con người là trung tâm của sự phát triển
KT-XH, lấy PTCN làm mục tiêu, làm tiêu chí cho sự phát triển xã hội mà UNDP
đưa ra, đang trở thành yêu cầu mang tính nguyên tắc đối với các chính phủ trong
việc hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, môi trường, xã hội và
phát triển chính con người.
Quan điểm này nhấn mạnh tới việc lấy con người làm trung tâm và sự tự do
của con người. PTCN được xem là phát triển vì con người, bởi con người và cho
con người. PTCN trao quyền cho con người, để họ là tác nhân có trách nhiệm và tự
đổi mới trong quá trình phát triển. Bởi vì theo quan điểm này, con người không phải
11


là những đối tượng thụ động mà là chủ thể năng động. PTCN giúp con người có thể
tự giúp được chính họ. PTCN tập trung vào những tự do thiết yếu của con người ở
mọi cấp độ: tạo khả năng cho con người làm chủ cuộc sống trường thọ và khỏe

Chăm lo phát triển nguồn lực con người là một định hướng lớn trong chiến
lược phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
(2006) đã thể hiện rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng với khoa học
và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu. Tập trung đổi mới toàn diện giáo dục
và đào tạo, chấn hưng giáo dục Việt Nam để phát triển NNL có chất lượng cao. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm PTCN và
NNL từ các Đại hội trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Để đạt được mục tiêu đó
Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó “Phát triển nhanh NNL, nhất
là NNL chất lượng cao” được khẳng định là khâu đột phá thứ hai. Đây được xem là
khâu đột phá đúng và trúng với hoàn cảnh NNL nước ta hiện nay khi hội nhập quốc
tế, cạnh tranh quyết liệt và đòi hỏi của thời đại khoa học, công nghệ.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Giáo dục là
quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm năng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Về định hướng PTCN, Đại hội lần thứ XII khẳng
định “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục
tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị
chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; tạo
môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng
tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp
luật”. Đây là quan điểm cốt lõi mà Đảng ta luôn nhất quán, mang tính định hướng
chiến lược trong xây dựng, PTCN Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới.
Đảng ta khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ “do nhân dân lao động
làm chủ”. Vì vậy, phương hướng và mục tiêu lớn nhất của chính sách xã hội là
“phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi
và nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời
sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi
ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”. Đây là quan điểm phát
triển mang tính hài hòa kết hợp giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, trong đó
tạo ra một môi trường xã hội công bằng và bình đẳng cho mọi người.

Bậc ĐH của ngành y tế gồm các đối tượng chính như: BS đa khoa, BS
chuyên khoa, BSĐH, Cử nhân Điều dưỡng, Cử nhân Hộ sinh, Cử nhân Kỹ thuật y
học thuộc các chuyên ngành (Xét nghiệm, Chẩn đoán hình ảnh....), Cử nhân Y tế
công cộng.
Bậc Sau ĐH có TS, ThS, Chuyên khoa I, Chuyên khoa II (cả y và dược), BS
nội trú.
Bậc Cao đẳng có các đối tượng chính là Điều dưỡng Cao đẳng, Hộ sinh Cao
đẳng, Kỹ thuật viên Cao đẳng thuộc các chuyên ngành khác nhau.
16


Bậc Trung học có Điều dưỡng viên, Y sỹ Đa khoa, Y sĩ Y học cổ truyền, Y
sĩ Y học dự phòng, Hộ sinh Trung học, Kỹ thuật viên Trung học các loại, BS Trung
học.
Dưới bậc Trung học là Sơ học bao gồm điều dưỡng Sơ học, Hộ sinh sơ học,
Dược tá, công nhân kỹ thuật y tế.
1.1.2.3. Nguồn nhân lực d ợc
Nhân lực dược là một bộ phận của nhân lực y tế, là những người được đào
tạo kiến thức cơ bản về dược, làm việc trong các cơ sở liên quan đến sản xuất, đảm
bảo chất lượng, cung ứng, phân phối và tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc.
Nhân lực dược là những người có kiến thức chuyên môn cơ bản về bào chế,
sản xuất, đảm bảo chất lượng, cung ứng, tư vấn sử dụng thuốc, mỹ phẩm và thực
phẩm chức năng, bao gồm: DS (tốt nghiệp ĐH trở lên), Cao đẳng dược, Trung cấp
dược/KTV dược và dược tá [5].
1.1.3. Đào tạo nguồn nhân lực y tế
Đào tạo là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo
những tiêu chuẩn nhất định. Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp
cho NLĐ có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính
là quá trình học tập làm cho NLĐ nắm vững hơn về công việc của mình, là những
hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của NLĐ để thực hiện nhiệm vụ

nghiệm và nhân cách cho mỗi NLĐ làm việc trong ngành y tế, tạo tiền đề cho họ có
thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả trong các cơ sở y tế công
và tư, trong các cơ quan quản lý,…, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đặt
ra cho ngành y tế dưới tác động của hội nhập quốc tế.
1.2. Nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực trên quan điểm phát triển
con ngƣời
1.2.1. Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo có đặc trưng sản phẩm là “Con
người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể
hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực
hành nghề của người tốt nghiệp, tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành
đào tạo trong hệ thống đào tạo đại học. Nâng cao chất lượng đào tạo chính là làm
cho sản phẩm của quá trình đào tạo có giá trị cao thể hiện qua tri thức sâu, kỹ năng
và kỹ xảo nghề nghiệp tốt, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
18


Chất lượng đào tạo NNL là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Nguyên nhân
bắt nguồn từ nội hàm phức tạp của khái niệm “Chất lượng” với sự trừu tượng và
tính đa diện, đa chiều của khái niệm này. Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và SV thì
ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập. Còn đối với những người sử dụng
lao động, ưu tiên về chất lượng của họ lại ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lực và
kiến thức của SV khi ra trường... Do vậy không thể nói đến chất lượng như một
khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo mục tiêu hay ý nghĩa
của nó. Điều này đặt ra một yêu cầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng, mạch lạc
các tiêu chí với những chỉ số được lượng hóa, nêu rõ các phương thức đảm bảo chất
lượng và quản lý chất lượng sẽ được sử dụng trong và ngoài giáo dục ĐH với xu
hướng tiếp cận dần với chuẩn của khu vực và thế giới. Nói chung, khái niệm chất
lượng được xem là “khó nắm bắt” và “khó có sức thuyết phục”.

đến chất lượng NNL của ngành y tế. Trên quan điểm PTCN, cán bộ ngành y tế phải
được đào tạo toàn diện.
Cũng như ngành Y, điều quan trọng nhất trong đào tạo của ngành Dược là
yếu tố con người, đó chính là đội ngũ các DS làm GV sư phạm không chỉ giàu kinh
nghiệm, mà còn phải nhiệt huyết giảng dạy, đặc biệt đối tượng trực tiếp về con
người. Ngoài ra, người được tuyển chọn vào học các trường dược phải là những
người có đủ trí tuệ và tình yêu thương đồng loại, phải có đủ sức khỏe để vượt qua
được nhiều áp lực của học tập vất vả, khối lượng kiến thức nhiều và phải thật cẩn
thật, tỉ mỉ và trung thực. Thực hành trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất dược
phẩm, hiệu thuốc, bệnh viện và khu nuôi trồng dược liệu là điều kiện không thể
thiếu đối với đào tạo dược. Nếu làm tốt được quy trình đào tạo ngành dược thì sản
phẩm đào tạo của Trường Dược sau này mới có thể trở thành cán bộ dược giỏi
chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp để chăm sóc sức khỏe con người được.
Ngành Dược còn được chia ra thành nhiều lĩnh vực: sản xuất, bảo quản, kinh
doanh phân phối thuốc, đảm bảo chất lượng thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc....
Người học ngành Dược phân thành làm 3 cấp: ĐH, Cao đẳng và Trung cấp. Tùy
vào năng lực mà có thể đảm nhiệm vào rất nhiều công việc trong vòng đời của một
chế phẩm thuốc như: nghiên cứu thuốc mới, bào chế thuốc, kinh doanh phân phối
thuốc, quản lý nghiệp vụ dược hay khâu cuối cùng là kiểm nghiệm thuốc trước khi
cung ứng ra thị trường.
20


NNL Dược phải bao quát được những lĩnh vực trên và phát triển NNL Dược
phải kết nối chúng thành một hệ thống gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau cùng
phát triển theo hướng toàn diện, chuyên nghiệp, hiện đại và nhân văn.
1.2.2. Quan điểm phát triển con người về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng NNL ngành y tế chính là sự tăng cường toàn diện sức
mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của
lực lượng lao động làm việc trong ngành lên đến một trình độ nhất định, để lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status