Header Page
of 126.
Số1 hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN THỊ KIỀU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƢ PHẠM
GIÚP ĐỠ HỌC SINH YẾU KÉM MÔN TOÁN 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN : PGS.TS ĐÀO THÁI LAI
THÁI NGUYÊN, 2013
hóa
bởi trung tâm học liệu
Footer PageSố
1 of
126.
2 of
126.
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Header Page
of 126.
Số3 hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đào Thái Lai, người thầy
đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Toán, Khoa Sau Đại học,
Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các GVcô ở tổ Toán, các em
HS khối 11 trường THPT Nguyễn Huệ - Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập.
Dù đã rất cố gắng, song Luận văn cũng không tránh khỏi những khiếm
khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn.
Tác giả
Trần Thị Kiều
hóa
bởi trung tâm học liệu
1.4 Thực trạng giúp đỡ học sinh yếu kém môn Toán lớp 11 ở THPT ........... 21
1.4.1. Khảo sát thực trạng học sinh yếu kém môn toán lớp 11 THPT .......... 21
1.4.2. Khảo sát thực trạng giúp đỡ học sinh yếu kém môn Toán 11 của giáo
viên trung học phổ thông ............................................................................... 22
Chƣơng 2. XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƢ PHẠM GIÚP ĐỠ HỌC
SINH YẾU KÉM MÔN TOÁN 11 THPT ...................................................... 26
2.1 Khái quát chương trình môn Toán 11 Trung học phổ thông ................... 26
2.1.1 Về nội dụng chương trình, mục tiêu dạy học môn Toán 11 Trung học
phổ thông ....................................................................................................... 26
2.1.2. Một số chú ý khi dạy học Toán 11 cho HSYK ................................... 28
2.2. Định hướng đề xuất các biện pháp sư phạm giúp đỡ học sinh yếu kém
môn Toán 11 ở THPT .................................................................................... 32
2.3. Một số biện pháp sư phạm giúp đỡ học sinh yếu kém môn Toán 11
Trung học phổ thông ...................................................................................... 33
Footer Page 4 of 126.
i
Header Page
of 126.
Số5 hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
2.3.1. Biện pháp 1: Củng cố vững chắc kiến thức “nền”, đảm bảo trình độ
xuất phát......................................................................................................... 33
2.3.2. Biện pháp 2: Gợi động cơ để kích thích hứng thú, tính chủ động trong
Header Page
of 126.
Số6 hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
Viết đầy đủ
TN
Thực nghiệm
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
NXB
Số7 hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môn Toán ở THPT có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng
trong giáo dục phổ thông. Thứ nhất: Môn Toán có vai trò quan trọng trong
việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông. Môn Toán góp phần
phát triển nhân cách. Cùng với việc tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo
những tri thức và rèn luyện kĩ năng Toán học cần thiết, môn Toán còn có tác
dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp,
trừu tượng hoá, khái quát hoá rèn luyện những đức tính cẩn thận, chính xác,
tính kỉ luật, tính phê phán, tính sáng tạo, bồi dưỡng óc thẩm mỹ. Thứ hai:
Môn Toán THPT tiếp nối chương trình THCS, cung cấp
,
cao đẳng là (A, B,
.
Mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, các em khác nhau về ngoại hình,
tính cách và khả năng nhận thức trong học tập. Có HS tiếp thu bài học rất
nhanh, nhưng có những em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí không hiểu gì thông
qua hoạt động trên lớp. Chính vì vậy mà sau 1 năm học tập ở cấp THPT dù đã
được làm quen với bạn bè mới, với thầy cô giáo có trình độ chuyên môn cao và
khối kiến thức được coi là cơ sở của Toán học ở cấp THPT nhưng kết quả học
tập cuối năm lớp 10 cho thấy nhiều em học sinh rơi vào tình trạng yếu kém
môn Toán.
Hiện nay việc dạy học ở trường THPT tuy đã có nhiều đổi mới song việc
học sinh yếu kém môn Toán, tìm hiểu những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
các hạn chế đó.
5.3. Đề xuất một số biện pháp sư phạm giúp đỡ HSYK môn Toán 11
THPT.
5.4. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và đánh giá tính khả thi của
các biện pháp đề xuất.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về các
vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn.
6.2 Phương pháp điều tra, quan sát: Quan sát, thăm dò thực trạng HSYK
môn Toán 11 ở trường phổ thông qua các hình thức: Dạy thử nghiệm, sử dụng
phiếu điều tra, dự giờ, quan sát, phỏng vấn trực tiếp.
6.3 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sâu một số trường hợp bồi
dưỡng học sinh yếu kém môn Toán.
6.3. Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm tại một số trường
THPT để xem xét tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất. Xử lý số
liệu bằng phương pháp thống kê Toán học.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Xác định đặc điểm của HS học yếu Toán, các nguyên nhân học
yếu Toán, thực trạng giúp đỡ học sinh học yếu Toán ở THPT, đề xuất một số
biện pháp nhằm giúp đỡ HSYK đạt yêu cầu trong học tập môn Toán ở trường
phổ thông.
Footer Page 9 of 126.
3
Header Page
of 126.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Dạy học phân hóa
1.1.1. Định hướng đổi mới PPDH
Đổi mới PPDH ở trường phổ thông được thực hiện theo các mục tiêu chủ
yếu sau: Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của HS. Bồi dưỡng phương
pháp tự học. Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS. Trong đó hướng phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động của HS là cơ bản, chủ yếu.
Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
(Thông tin khoa học,[3]):
a) Sử dụng linh hoạt các phương pháp phổ biến trong quá trình dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS
Phương pháp thuyết trình là một phương pháp dạy học trong đó GV
dùng lời nói, chữ viết để trình bày, giảng giải nội dung bài học, còn HS chủ yếu
thụ động nghe, nhìn, ghi chép, tái hiện và ghi nhớ nội dung bài học.
Phương pháp thuyết trình gồm các bước sau:
Bước 1: Đặt vấn đề
Mục đích của việc này là nhằm thu hút sự chú ý của HS và tạo tâm thế
học tập, thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, đồng thời
giới thiệu mục tiêu của bài học.
Cách đặt vấn đề có thể là dựa vào kiến thức, vốn sống, kinh nghiệm đã
có của HS hoặc dựa vào các tư liệu về lịch sử phát triển khoa học Vật lí, hoặc
dựa vào hiện tượng thực tế có liên quan…
Bước 2: Giải quyết vấn đề
Giải quyết theo từng nội dung trong bài, chú ý các đoạn chuyển tiếp giữa
các phần, minh hoạ – giải thích, nêu vấn đề và giải quyết… Có thể giải quyết vấn
đề theo con đường qui nạp hoặc diễn dịch tuỳ theo đặc điểm nội dung bài học.
Footer Page 11 of 126.
những câu hỏi phụ để gợi ý khi HS gặp khó khăn.
Người ta thường chia ra hai dạng đàm thoại chính là:
+ Đàm thoại tái hiện: Các câu hỏi, vấn đề do GV đặt ra đòi hỏi HS nhớ,
tái hiện lại kiến thức, kinh nghiệm đã có thì có thể giải quyết được. Loại này
chủ yếu dùng để ôn tập, củng cố kiến thức.
+ Đàm thoại gợi mở hay vấn đáp tìm tòi: Trong vấn đáp tìm tòi GV luôn
đóng vai trò chỉ đạo, điều khiển hoạt động của HS. Hệ thống câu hỏi của GV
giữ vai trò chỉ đạo, định hướng hoạt động nhận thức của HS. Trật tự lôgic của
câu hỏi góp phần hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật.
Footer Page 12 of 126.
6
Header Page
of 126.
Số13hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Nâng cao hiệu quả của phương pháp vấn đáp tìm tòi
GV cần đầu tư nâng cao chất lượng của các câu hỏi. Giảm bớt các câu
hỏi có yêu cầu thấp về mặt nhận thức chỉ đòi hỏi tái hiện kiến thức. Tăng dần
số câu hỏi có yêu cầu cao về mặt nhận thức các câu hỏi có sự thông hiểu và
sáng tạo trong vận dụng kiến thức để trả lời câu hỏi, cũng như đòi hỏi cả sự
phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức.
Dạy học theo nhóm
Theo cách dạy này, lớp học được chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
+ Trao đổi ý kiến thảo luận trong nhóm.
+ Cử đại diện để trình bày kết quả làm việc của nhóm.
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
+ Các nhóm trao đổi, thảo luận chung.
+ GV nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh và đưa ra kết luận cuối cùng. Chỉ ra
những kiến thức HS cần lĩnh hội.
Với phương pháp dạy học hợp tác nhóm, cho phép các thành viên trong
nhóm chia sẻ kinh nghiệm và những hiểu biết cho nhau, cũng như những
vướng mắc, những băn khoăn suy nghĩ của bản thân. Nhờ sự trao đổi, thảo luận
giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm giúp cho HS dễ hiểu và dễ
nhớ bài hơn.
Tuy nhiên, việc tổ chức cho HS học tập theo nhóm ngay tại lớp bị hạn chế
bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học nên
GV phải biết tổ chức hợp lí mới có kết quả. Không nên lạm dụng các hoạt động
nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức. Cần lưu ý, trong hoạt động nhóm,
tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của nó là rèn
luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động.
Dạy học theo lí thuyết kiến tạo
- Cơ sở của lí thuyết kiến tạo
+ Học trong hoạt động.
Học là một hoạt động đặc thù của con người, trong đó người học vừa là chủ
thể, vừa là đối tượng tác động. Bởi vậy, cách học tốt nhất là học trong hoạt động và
thông qua hành động. Do đó, thầy giáo phải tổ chức tình huống để đưa HS vào hoạt
động, qua đó HS kiến tạo được kiến thức, phát triển trí tuệ và nhân cách.
+ Học là sự vượt qua khó khăn về nhận thức.
GV, HS tham gia hoạt động để xây dựng kiến thức cho bản thân.
+ Pha tranh luận hợp thức hoá kiến thức và vận dụng kiến thức mới: Các
kiến thức mà HS đưa ra có khi chưa đầy đủ, chưa thật chính xác và khoa học.
Vì vậy, GV cần tổ chức cho HS tranh luận, qua đó bổ sung, chỉnh lí và hoàn
chỉnh kiến thức mà HS cần thu nhận. Cuối cùng, GV tổ chức cho HS vận dụng
kiến thức mới vào những tình huống tượng tự.
- Hoạt động của GV trong dạy học theo lí thuyết kiến tạo
+ Tạo không khí học tập.
+ Tạo điều kiện để HS bộc lộ quan niệm riêng.
+ Tổ chức cho HS tranh luận về những quan niệm của mình.
Footer Page 15 of 126.
9
Header Page
of 126.
Số16hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
+ Trọng tài trong những trường hợp ý kiến tranh luận không ngã ngũ.
+ Tạo điều kiện và giúp HS nhận ra các quan niệm sai lầm của mình và tự
giác khắc phục chúng.
+ Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm khoa học.
+ Tổ chức cho HS vận dụng kiến thức thu nhận.
Các phương pháp dạy học tích cực hình thành và phát triển từ lâu, tuy
nhiên do những yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
nguồn bằng nhiều cách khác nhau. Sau đó tiến hành phân tích, tổng hợp, so
sánh, khái quát để xác định giả thuyết đúng, rút ra các kết luận, nêu các giải
pháp hoặc đề xuất các kiến nghị.
+ Thảo luận: Là phương pháp HS trao đổi với nhau xung quanh một vấn
đề được đặt ra dưới dạng câu hỏi, bài tập hay nhiệm vụ nhận thức,... trong
phương pháp này HS giữ vai trò tích cực, chủ động tham gia thảo luận, GV giữ
vai trò nêu vấn đề, gợi ý, kiến thiết và tổng kết.
+ Động não: Là phương pháp HS được kích thích suy nghĩ bằng cách thu
thập ý kiến khác nhau về một vấn đề mà không tiến hành đánh giá, trao đổi hay
bình luận ý kiến đó. Tuy tự do phát biểu nhưng có nhiều ý kiến cùng hướng về
một phía nhất định tạo khả năng hình thành ý kiến chung. Phương pháp động
não có thể thực hiện vào đầu tiết học hoặc bắt đầu một vấn đề, một nội dung
giữa bài học.
+ Tranh luận: Trong bài học có một số vấn đề có thể làm xuất hiện hai
hoặc nhiều cách giải quyết khác nhau. GV có thể nêu ra các khả năng giải
quyết, sau đó đặt câu hỏi chung cho toàn lớp và lấy ý kiến để phân loại số em
theo cách này, số em theo cách khác. Sau đó GV đặt câu hỏi: Tại sao em lại
chọn cách này mà không chọn cách khác để HS theo các cách khác nhau tranh
luận với nhau.
+ Đóng vai: Là phương pháp được đặc trưng bởi một hoạt động với các
nhân vật giả định mà trong đó các tình thế trong thực tiễn cuộc sống được thể
hiện thành các hành động có tính kịch tính. Trong vở kịch này các vai khác
nhau do chính HS đóng và trình diễn. Các hành động có tính kịch được xuất
phát từ chính sự hiểu biết, óc tưởng tượng và trí sáng tạo của các em, không
cần phải qua tập dượt hay dàn dựng.
c) Sử dụng phương tiện dạy học theo hướng đề cao vai trò chủ thể nhận
tổ chức cho HS khai thác tri thức từ các nguồn khác nhau, chọn lọc hệ thống
hoá và sử dụng chúng. Như vậy phương tiện dạy học hiện đại tạo điều kiện
rộng rãi cho dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS.
d) Phối hợp các hình thức dạy học một cách linh hoạt
Trong dạy học ở trường phổ thông có nhiều hình thức tổ chức khác nhau
như: Dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, dạy học theo lớp, dạy học ngoài
trời, trò chơi học tập, tham quan, ngoại khoá... mỗi hình thức tổ chức dạy học
có chức năng và ý nghĩa khác nhau đối với việc thực hiện các nhiệm vụ dạy
học đòi hỏi phải phối hợp chúng một cách linh hoạt. Có thể kết hợp với nhiều
loại hình kiểm tra đánh giá trong dạy học.
Footer Page 18 of 126.
12
Header Page
of 126.
Số19hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Tuỳ vào mục đích, đối tượng và điều kiện có các hình thức kiểm tra,
đánh giá khác nhau: Quan sát, câu hỏi kiểm tra, bài tập, học sinh tự đánh giá,
thực hành, trắc nghiệm khác quan.
Trong những năm gần đây mặc dù ngành giáo dục đã tiến hành đổi mới
PPDH sử dụng thêm phương tiện để hỗ trợ dạy học nhưng vẫn chưa thực sự
đem lại hiệu quả như mong đợi, chưa đưa giáo dục Việt nam thoát khỏi tình
trạng lạc hậu. Nếu nhìn nhận đúng vào căn bệnh thành tích của giáo dục nước
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Dạy học phân hóa lôi cuốn được đông đảo đối tượng HS có trình độ
khác nhau vào quá trình dạy học bằng cách giao nhiệm vụ phù hợp cho từng
loại đối tượng. Do đó sẽ khuyến khích được đối tượng HSYK giúp các em có
thể trả lời được những câu hỏi gợi mở đơn giản của GV và không bị bỏ rơi
trong quá trình học.
GV giao cho HS những nhiệm vụ phân hóa, điều khiển quá trình giải
những bài tập này một cách phân hóa và tạo điều kiện giao lưu gây tác động
qua lại giữa các người học. Phân hóa bài tập tránh được những đòi hỏi quá cao
từ phía HSYK. Do đó dạy dọc phân hóa có tác dụng tích cực với tất cá các đối
tượng HS.
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay vấn đề HSYK các bộ môn rất trầm
trọng. Vì vậy bên cạnh việc nâng cao hiệu suất giờ lên lớp GV cần có sự giúp
đỡ tách riêng đối với nhóm HSYK môn Toán. Mục tiêu của việc giúp đỡ tách
riêng nhóm HSYK môn Toán là làm cho diện này theo kịp yêu cầu chung của
những tiết học trên lớp và có thể hoà nhập vào việc dạy học đồng loạt.
1.1.3. Tổ chức dạy học phân hóa cho một lớp học
Theo Nguyễn Bá Kim [10] thì trong 1 tiết học GV có thể tổ chức dạy học
phân hóa như sau :
- Phân hóa theo nội dung bài giảng trên lớp
Trong một lớp học thường được chia làm 3 nhóm đối tượng HS đó là:
Nhóm học sinh khá giỏi, nhóm học sinh trung bình và nhóm học sinh yếu kém.
Khi thiết kế bài giảng GV cần điều chỉnh về nội dung và nhiệm vụ cho từng đối
tượng HS. Chẳng hạn: Nhóm đối tượng học sinh khá giỏi nên giao cho các em
những nhiệm vụ có tính tìm tòi, tư duy cao. Nhóm học sinh trung bình thì giao
cho nhiệm vụ làm tương tự bài mẫu. Nhóm học sinh yếu kém thì phải có sự
giúp đỡ chỉ bảo cụ thể, cho học sinh làm quen bắt chước để rèn 1 kĩ năng nào
đó. Tránh sự đồng nhất về trình độ dẫn đến đồng nhất nội dung học tập cho mọi
đó GV phải nắm được kiến thức trọng tâm của từng bài và đầu tư nghiên cứu
cho bài soạn.
- GV có thể phân hóa về mặt số lượng
Để có được kiến thức rèn luyện một kỹ năng nào đó, số HSYK cần thiết
loại bài tập cùng loại hơn số HS khác. Những HS đã hoàn thành tốt sẽ nhận
thêm những bài tập khác để đào sâu và nâng cao. Điều khiển phân hóa của GV
được biểu hiện là: GV có thể định ra yêu cầu khác nhau về mức độ yêu cầu,
mức độ hoạt động độc lập của HS. Hướng dẫn nhiều hơn cho đối tượng này, ít
hoặc không gợi ý cho HS khác, tùy theo khả năng và trình độ của họ. GV có
thể áp dụng dạy học theo nhóm đối tượng HS để việc day phân hóa được hiệu
quả. Chính nhờ sự phân hóa mà GV có thể thấy rõ được tiến bộ của từng HS để
tự điều chỉnh cách dạy của mình cho phù hợp. Đồng thời, GV cần quan tâm cá
Footer Page 21 of 126.
15
Header Page
of 126.
Số22hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
biệt động viên HS có phần thiếu tự tin, lưu ý HS này hay tính toán nhầm, uốn
nắn kịp thời những HS có nhịp độ nhận thức nhanh nhưng kết quả không cao
do vội vàng, chủ quan, thiếu sự suy nghĩ chín chắn, lôi kéo những học sinh có
nhịp độ nhận thức chậm theo kịp tiến trình bài học.
Tác động qua lại giữa những HS trong quá trình dạy học, đặc biệt là giải
of 126.
Số23hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
1.2. Đặc điểm của học sinh yếu kém môn Toán
Qua tìm hiểu thực tế việc giảng dạy môn toán ở THPT, dự giờ, trao đổi
với các giáo viên bộ môn Toán chúng tôi nhận thấy:
Học sinh yếu kém môn Toán là những học sinh có kết quả học tập
thường xuyên ở mức độ thấp, điểm kiểm tra thường xuyên dưới trung bình. Sự
yếu kém của học sinh trong quá trình học tập được thể hiện như sau:
- Các em không thể bắt kịp chương trình học hiện tại, không có khả năng
tự làm bài tập về nhà.
- Học sinh lĩnh hội kiến thức chậm, nắm khái niệm còn hời hợt, hay
nhầm lẫn khái niệm này với khái niệm khác, không biết vận dụng các khái
niệm vào giải quyết các bài toán cụ thể.
- Sau nhiều lần gặp khó khăn hứng thú học tập đối với môn học giảm sút
nghiêm trọng, khiến các em mất tự tin và rơi vào trạng thái căng thẳng trong
các giờ học.
- Học sinh không chịu suy nghĩ, không có hứng thú tham gia vào các
hoạt động học tập, hoạt động giao lưu giữa thầy và trò, thái độ học tập còn
thụ động.
- Ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động học tập trong lớp. Tính tình thì
nhút nhát, rụt rè không ít khi phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- Ở HS có sức học yếu kém hoặc thiếu khả năng học tập thì vốn kiến
thức thường nghèo nàn và có thể chưa nắm được các kiến thức, kĩ năng một
cách vững chắc và sâu sắc như các bạn khác cùng lớp.
Sự yếu kém Toán có những biểu hiện nhiều hình nhiều vẻ nhưng nhìn
chung HSYK môn Toán thường có 3 đặc điểm sau: Có nhiều lỗ hổng về kiến
Theo nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với hoạt
động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Trên thực tế, việc này chưa được
thực hiện một cách thường xuyên và triệt để. Do áp lực kinh tế quá lớn dẫn đến
phụ huynh HS thiếu sự quan tâm giám sát thường xuyên quá trình học tập của
con mình. Thông tin giữa nhà trường và gia đình chưa kịp thời, sự kết hợp thiếu
chặt chẽ dẫn đến nhiệm vụ học tập của HS bị xem nhẹ, định hướng học tập sai
lệch, mù mờ. Đa số phụ huynh thường đánh giá con mình căn cứ vào điểm số
các cháu đạt được trên lớp, do vậy khi các em bị điểm kém phụ huynh thường
có những phản ứng không tốt, mất lòng tin vào các em và chưa biết cách động
viên con trong học tập.
Hơn nữa, về phía GV, chúng ta cần nhìn nhận khách quan hơn về PPDH
để từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục: Trong phần lớn các giờ dạy
học môn Toán, phương pháp thuyết trình và đàm thoại vẫn chiếm ưu thế, các
nhiệm vụ học tập thường được GV đưa ra một cách áp đặt chung cho cả lớp, ít
Footer Page 24 of 126.
18
Header Page
of 126.
Số25hóa
bởi trung tâm học liệu
http://www.lrc.tnu.edu.vn/
chú ý đến nhu cầu nhận thức của HS như thế nào đối với nhiệm vụ học tập.
Việc chuẩn bị một giáo án tốt rất công phu và mất nhiều công sức nên GV có
phần ngại làm, khiến cho HS không có hứng thú, không tự tin trong học tập,