Sáng kiến giúp học sinh xác định nhanh và chính xác các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận - Pdf 42

1. Tên sáng kiến:
GIÚP HỌC SINH XÁC ĐỊNH NHANH VÀ CHÍNH XÁC CÁC THAO
TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy phân môn Làm văn trong nhà
trường THPT.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 8/ 2015 đến tháng 01/ 2016.
4. Tác giả:
Họ và tên:

NGUYỄN THỊ LỆ

Năm sinh:

1986

Nơi thường trú:

Yên Phong – Ý Yên – Nam Định.

Trình độ chuyên môn: Cử nhân văn học.
Chức vụ công tác:

Giáo viên.

Nơi làm việc: Trường THPT Mỹ Tho, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Điện thoại:

01686 136 664

Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:

2.3.5. Một số nhầm lẫn thường gặp của học sinh. Nguyên nhân và cách sửa
chữa……………………………………………………………………………….
2.3.5.1. Nhầm giữa thao tác lập luận so sánh với phân tích và giải
thích………………………………………………………………………………..………
2.3.5.2. Nhầm giữa thao tác lập luận phân tích với giải thích…………………
2.3.5.3. Nhầm thao tác lập luận chứng minh với phân tích…………………….
2.4. Thực nghiệm sư phạm……………………………………………………..
2.4.1. Mục đích thực nghiệm………………………………………………………..

Trang
1
2
2
3
4
4

2.4.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm……………….……………..
2.4.3. Bài tập thực nghiệm…………………………………………………………...
2.4.4. Bài kiểm tra thực nghiệm……………………………………….……………
2.4.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm………………………………………………
III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI…………………………………
IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN……
CÁC PHỤ LỤC………………………………………………………………….

24
25
30
32
33

Nền giáo dục Việt Nam đang trên đà đổi mới. Trọng tâm của vấn đề đổi mới giáo
dục là đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực, phẩm chất của học sinh (HS). Đây là một hướng đi đúng đắn, nâng cao vai trò
của giáo dục trong nhà trường.
Là một môn học công cụ quan trọng, Ngữ văn có vai trò rất lớn trong việc hình
thành và phát triển năng lực cho HS. Bên cạnh đó, môn học này còn góp phần hình thành
những phẩm chất tốt đẹp cho con người sau khi tham gia vào quá trình học tập. Vì vậy
đổi mới môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết. Để đáp ứng với yêu cầu dạy học môn Ngữ
văn theo hướng hình thành và phát triển năng lực, cần chú ý đến việc dạy học môn Ngữ
văn theo hướng tích hợp, tức là tổ chức phối hợp các phân môn Văn học, Tiếng Việt và
Làm văn trong các bài học, giúp HS từng bước nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt
trong việc tiếp nhận và tạo lập các loại văn bản.
Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục đã có những đổi mới rõ rệt trong cấu trúc
đề thi môn Ngữ văn. Năm 2008, đề thi có thêm phần nghị luận xã hội. Từ năm học 2013
– 2014, đề thi Ngữ văn bao gồm hai phần chính: phần đọc – hiểu văn bản và phần làm
văn. Với cấu trúc đề thi như thế, tránh cho HS việc học tủ, học vẹt, đồng thời đánh giá
được năng lực của các em một cách khách quan, trung thực.
Để làm tốt phần đọc – hiểu trong đề thi, đòi hỏi HS phải nắm chắc kiến thức bộ
môn. Một trong những phân môn quan trọng trong chương trình Ngữ văn là phân môn
Làm văn. HS đã được rèn luyện kiến thức làm văn từ những năm THCS. Những khái
niệm như phương thức biểu đạt, thao tác lập luận, hay phương pháp lập luận, ... không
phải là mới nhưng hình như HS không để ý tới. Vì vậy, rất nhiều HS tỏ ra hoang mang
khi bắt gặp câu hỏi trong đề thi minh họa THPT Quốc gia (được Bộ Giáo dục và Đào tạo
công bố vào tháng 3/ 2015). Câu hỏi như sau: Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng
thao tác lập luận nào?
(1) Cái thú tự học cũng giống cái thú đi chơi bộ ấy. Tự học cũng là một cuộc du
lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gấp trăm lần du lịch bằng chân, vì nó là
du lịch trong không gian lẫn thời gian. Những sự hiểu biết của loài người là một thế giới
mênh mông. Kể làm sao hết được những vật hữu hình và vô hình mà ta sẽ thấy trong
cuộc du lịch bằng sách vở ?

vận dụng để làm rõ một vấn đề nào đó, không chỉ trong văn chương mà cả trong cuộc
sống, nhưng các em vẫn không hiểu bản chất.
Vấn đề về các thao tác lập luận trong văn nghị luận chỉ thực sự được quan tâm và
nghiên cứu từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới phương pháp dạy học Ngữ
văn theo định hướng phát triển năng lực. Cho nên khi bắt tay vào nghiên cứu để tạo ra
sáng kiến này, tôi gặp không ít những khó khăn.
4


1.1. Khái niệm thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn chưa rõ ràng.
Các thao tác lập luận trong văn nghị luận là kiến thức trọng tâm của phần Làm văn
chương trình Ngữ văn lớp 11 hiện hành. Khi bắt tay vào nghiên cứu vấn đề này, tôi nhận
thấy quan điểm về các thao tác lập luận của các tác giả sách giáo khoa THCS và THPT,
ban cơ bản và nâng cao chưa có sự thống nhất.
Theo chuẩn kiến thức kĩ năng(1) môn Ngữ văn lớp 11 cơ bản và nâng cao, các thao
tác lập luận cơ bản là: giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ.
Trong đó, lớp 11, học sinh được học bốn thao tác lập luận là phân tích, so sánh, bình
luận, bác bỏ. Nhưng ở THCS sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2, trang 67 gọi hai thao tác
lập luận giải thích và chứng minh là phương pháp lập luận. Cụ thể phần ghi nhớ có ghi
“Bài văn nghị luận nào cũng có đối tượng (hay đề tài) nghị luận, các luận điểm, luận cứ
và lập luận. Các phương pháp lập luận chính thường gặp là: chứng minh, giải thích. Vậy
giải thích và chứng minh là phương pháp lập luận hay thao tác lập luận?
Trong Ngữ văn 10, tập 2, trang 134 phần ghi nhớ viết: “Phân tích, tổng hợp, diễn
dịch, quy nạp, so sánh là những thao tác thường gặp trong hoạt động nghị luận”.
Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, trang 176 nhận xét “Học sinh đã được học và
luyện tập tới 6 thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận, giải thích, chứng
minh.”
Ngữ văn 10 tập 2, nâng cao, trang 147 lại cho rằng chứng minh, giải thích, diễn
dịch, quy nạp là các thao tác nghị luận.
Thực tế trên cho thấy, quan điểm về các thao tác lập luận và phương pháp lập luận

nhất trí với các tác giả viết Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục, ở trang 130
nhận xét: “Vị trí hay vai trò của từng thao tác trong sự kết hợp được quyết định bởi mục
đích nghị luận”, “Chỉ khi đã hiểu được mục đích nghị luận, xuất phát từ mục đích nghị
luận, người nghe (người đọc) mới có thể nhận ra chính xác thao tác lập luận nào là chủ
yếu, thao tác lập luận nào là bổ trợ …”.
Sáng kiến của tôi sẽ từng bước lí giải những quan điểm sai lầm đó.
1.3. Học sinh chưa hứng thú với môn học Ngữ văn.
HS hiện nay tỏ rõ thái độ coi thường môn học Ngữ văn, không hứng thú với môn
học vì nhiều lẽ.
Xét về xã hội, thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học công nghệ, dễ hiểu
là đại đa số HS chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế…ít có HS
hứng thú học văn, bởi phần đông HS nghĩ rằng năng lực văn là năng lực tự nhiên của con
người xã hội, không học vẫn biết đọc, biết nói; học văn không thiết thực. Văn có kém
một chút, ra đời vẫn không sao, vẫn nói và viết được, còn không học ngoại ngữ, không
học khoa học, kĩ thuật thì coi như mù kiến thức, chịu lép vế. Có thể đó là lí do làm cho đa
số HS không cố gắng học ngữ văn. Rõ ràng tâm lí cá nhân, môi trường học tập, nếp sống,
quan niệm sống của đông đảo dân cư đã có nhiều thay đổi.
Tuy nhiên ở đây còn có vấn đề thuộc phương pháp dạy học ngữ văn, cách thức
kiểm tra đánh giá học sinh. Nền giáo dục của chúng ta đang có những bước chuyển mình,
đổi mới hướng vào phát triển năng lực phẩm chất của học sinh. Đó là hướng đi đúng đắn,
6


nhưng không phải ngày một ngày hai là có thể thay đổi được. HS vẫn còn học thụ động,
thiếu sáng tạo, không hứng thú, say mê.
Vì vậy chúng tôi rất vất vả trong việc giảng dạy bởi những quan điểm thiên lệch
không chỉ của HS mà của cả những bậc làm cha làm mẹ, và đâu đó vẫn tồn tại quan điểm
coi trọng, xem nhẹ môn học trong một số giáo viên.
Vượt qua tất cả những khó khăn trên tôi nỗ lực tạo ra sáng kiến này, trước hết là để
củng cố kiến thức cho bản thân, sau đó giúp HS nhận diện được các thao tác lập luận



việc làm đã được đúc kết thành quy trình chặt chẽ. Chứng minh, phân tích, so sánh, bác
bỏ, bình luận, giải thích là những thao tác lập luận cơ bản.
2.2. Các thao tác lập luận trong văn nghị luận.
Như trên đã nói, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận, giải thích là
những thao tác lập luận cơ bản trong một bài văn nghị luận. Các thao tác này phân biệt
với nhau là bởi chúng hướng tới các mục đích khác nhau.
Sau đây là bảng hệ thống, giúp HS phân biệt 6 thao tác lập luận, theo mục đích và
cách thức lập luận. Đây là những kiến thức rất cơ bản mà HS đã được học trong chương
trình Ngữ văn các cấp.
Thao tác

Mục đích lập luận

Cách thức lập luận

lập luận
1.
Giải Là làm cho người đọc hiểu Thường giải thích bằng các cách: nêu định
thích

rõ các tư tưởng, đạo lí, nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh, đối chiếu
phẩm chất, quan hệ, … cần với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi
được giải thích nhằm nâng hại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề phòng
cao nhận thức, trí tuệ, bồi hoặc noi theo, … của hiện tượng hoặc vấn đề
dưỡng tư tưởng, tình cảm được giải thích

cho con người.
2. Chứng Dùng những lí lẽ, bằng Muốn chứng minh có 2 cách lập luận: nêu dẫn


được sự giống và khác nhau giữa chúng, đồng
thời phải nêu rõ ý kiến, quan điểm của người

5. Bác bỏ

nói (người viết)
Là dùng lí lẽ và chứng cứ Có thể bác bỏ một luận điểm, luận cứ hoặc
để gạt bỏ những quan điểm, cách lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ ra
ý kiến sai lệch hoặc thiếu nguyên nhân hoặc phân tích khía cạnh sai
chính xác, … từ đó nêu ý lệch, thiếu chính xác,…của luận điểm, luận
kiến đúng của mình để cứ, lập luận ấy.
thuyết phục người nghe Khi bác bỏ cần tỏ thái độ khách quan đúng

6.
luận

(người đọc).
mực.
Bình Là đánh giá, bàn luận. - Trình bày rõ ràng trung thực, nhưng ngắn
Nhằm đề xuất và thuyết gọn hiện tượng (vấn đề) được bình luận
phục người đọc (người - Đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định,
nghe) tán đồng với nhận đánh giá của mình là xác đáng.
xét, đánh giá, bàn luận của - Có những lời bàn sâu rộng về chủ đề bình
mình về một hiện tượng luận.
(vấn đề) trong đời sống
hoặc trong văn học.
Bảng hệ thống cung cấp cho HS những lí thuyết cơ bản, giúp HS bước đầu hiểu về

các thao tác lập luận trong văn nghị luận. Tuy nhiên nếu chỉ nắm lí thuyết mà không

Chứng minh

Để cho người ta tin

So sánh

Giúp người ta nhận rõ giá trị của sự vật (hiện tượng, tư tưởng, …)
này bằng cách chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa nó với một
sự vật (hiện tượng, tư tưởng, …) khác.

Phân tích

Đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh giúp người ta hiểu một
cách cặn kẽ, thấu đáo.

Bác bỏ

Mục đích phủ nhận, làm sáng tỏ sự thật, sáng tỏ chân lí, bảo vệ cái
đúng.

Bình luận

Nhằm đề xuất và thuyết phục người ta nghe theo sự đánh giá, bàn
bạc của người nói (người viết) về một hiện tượng hoặc vấn đề nào
đó.

2.3.2. Bước 2: Xác định mục đích nghị luận của văn bản.
Sau khi đã nắm chắc mục đích của từng thao tác, HS sẽ tiến hành xác định mục
đích nghị luận của văn bản.
10

Thao tác lập luận
Nhóm 1: Giải
thích

Đặc điểm đối tượng tiếp nhận.
Viết cho người chưa có hiểu biết gì về vấn đề nghị luận. Người
viết giúp họ đi từ chỗ chưa biết đến biết, từ chỗ chưa hiểu đến
11


Nhóm 2

Nhóm 3:

Bình

hiểu. (Nghĩa là mọi đối tượng đều có thể tham gia bàn luận)
Viết cho người đã hiểu rất kĩ, rất quan tâm về vấn đề bàn luận.

luận

Điều họ mong mỏi ở người viết là có thêm ý kiến nào mới mẻ về

vấn đề đó không.
Phân tích Viết cho người đã hiểu phần nào về vấn đề, có quan điểm riêng
Bác bỏ

nhưng chưa hiểu kĩ, chưa hiểu sâu, chưa có quan điểm chính xác

So sánh

cách ứng xử giữa họ với nhau, giữa họ với môi trường sống. Nhưng văn hóa ứng xử
được hình thành từ khi văn minh phát triển ở một cấp độ nào đó nhằm diễn đạt cách ứng
xử con người đối với thiên nhiên, đối với xã hội và đối với chính mình…”
(Trích Văn hóa ứng xử, Nói thêm những điều cần nói, Hồ Sĩ Vịnh, Tạp chí Văn
học nghệ thuật, số 332, tháng 2/2012).

12


Vấn đề nghị luận trong văn bản trên là văn hóa ứng xử. Một người không biết gì về
khái niệm này, khi đọc văn bản cũng hiểu được thế nào là văn hóa ứng xử. Do đó thao tác
lập luận của văn bản là giải thích.
Ví dụ 2:
“Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố
quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện
giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng
phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng
dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói
của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi, (…) Vì thế
đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của
mình (…)”
(Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh)
Vấn đề nghị luận của văn bản trên là bàn về vai trò, ý nghĩa của tiếng nói đối với
nền độc lập của một quốc gia dân tộc. Vậy nên, người lắng nghe tác giả bàn luận cũng
phải là người hiểu rất rõ về vấn đề này, nếu không họ sẽ chẳng hiểu gì. Do đó, thao tác
lập luận chính ở đây không phải là giải thích. Tác giả lại là người hiểu rất sâu sắc vấn đề,
còn đưa ra những ý kiến riêng nhằm tranh luận và thuyết phục người đọc. Vậy thao tác
chính của văn bản trên là bình luận.
2.3.4. Bước 4: Xác định dấu hiệu nhận biết của từng thao tác.
Đây là bước làm quan trọng nhất giúp HS nhận diện từng thao tác lập luận. Thực

chúng ta, loài người còn đầy rẫy những cảnh khổ. Từ một ông lão già nua răng long tóc
bạc, lẽ ra phải được sống trong sự chăm sóc đùm bọc của con cháu, thế mà ông lão ấy
phải sống kiếp đời hành khất sống bằng của bố thí của kẻ qua đường, đến một đứa trẻ
thơ, quá bé bỏng mà lại sống bằng cách đi nhặt từng mẩu bánh của người khác ăn dở,
thay vì được cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ...
Những hình ảnh ấy và thảm trạng ấy khiến cho mọi người xót thương, và tìm cách
giúp đỡ. Đó chính là lòng nhân đạo.”
(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)
Vấn đề cần giải thích ở đây là lòng nhân đạo. Văn bản trên giải thích bằng cách
chỉ ra các biểu hiện của lòng nhân đạo. Đó là sự xót thương và tìm cách giúp đỡ những
con người khốn khổ trong cuộc sống. Lòng nhân đạo đã được định nghĩa một cách cụ thể
qua những biểu hiện đó.

Ví dụ 3:

3()

Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2012, trang 21.

14


“... Vậy khiêm tốn là gì? Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún
nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc
đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi. Hoài bão lớn nhất của con người là tiến mãi
không ngừng, nhưng không nhằm mục đích tự khoe khoang, tự đề cao cá nhân mình
trước người khác.
Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu
tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những
giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so

Thứ nhất: Chia nhỏ đối tượng phân tích (ý kiến, quan niệm) ra từng yếu tố theo
các tiêu chí, quan hệ nhất định để tìm hiểu sâu hơn. Việc phân tích này dựa trên các mối
quan hệ:
+ Phân tích căn cứ vào quan hệ nội bộ của đối tượng.
+ Phân tích theo các mối quan hệ nguyên nhân – kết quả, quan hệ kết quả - nguyên
nhân
+ Phân tích theo quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan.
+ Phân tích theo sự đánh giá chủ quan của người lập luận.
Thứ hai: Phân tích luôn kết hợp chặt chẽ với tổng hợp.
Để nhận diện được thao tác lập luận phân tích, HS lần lượt xác định các vấn đề
sau:
1-

Xác định được đối tượng phân tích là gì?(Đối tượng thường được nêu ở

những câu văn mở đầu đoạn, có khi được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn)
2-

Đối tượng được phân tích theo các mối quan hệ nào?

3-

Xác định nội dung khái quát tổng hợp vấn đề.

Ví dụ:
“Từ giữa thế kỉ XX, dân số thế giới tăng với nhịp độ chưa từng thấy. Năm 1950,
dân số thế giới là 2.5 tỉ người và đến năm 1980, sau 30 năm đã lên tới 4,4, tỉ người, năm
1987 là 5 tỉ. Nếu cứ theo tốc độ gia tăng của những năm 80 của thế kỉ này (XX) thì đến
giữa thế kỉ XXI (năm 2050), dân số thế giới sẽ đạt con số gần 9 tỉ người.
Dân số ngày càng tăng đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của mỗi cá nhân,

2-

Chỉ ra lí lẽ và dẫn chứng được sử dụng để làm rõ đối tượng.

Ví dụ 1:
“Đã bao lần bạn vấp ngã mà không hề nhớ. Lần đầu tiên chập chững bước đi,
bạn đã bị ngã. Lần đầu tiên tập bơi, bạn uống nước và suýt chết đuối phải không? Lần
đầu tiên chơi bóng bàn, bạn có đánh trúng bóng không? Không sao đâu vì ...
Oan Đi-xnây từng bị toà báo sa thải vì thiếu ý tưởng. Ông cũng nếm mùi phá sản
nhiều lần trước khi sáng tạo nên Đi-xnây-len.
Lúc còn học phổ thông, Lu-i Pa-xtơ chỉ là một học sinh trung bình. Về môn Hoá,
ông đứng hạng 15 trong số 22 học sinh của lớp.
Lép Tôn-xtôi, tác giả của bộ tiểu thuyết nổi tiếng Chiến tranh và hoà bình, bị đình
chỉ học đại học vì "vừa không có năng lực, vừa thiếu ý chí học tập".
Hen-ri Pho thất bại và cháy túi tới năm lần trước khi thành công.
Ca sĩ ô-pê-ra nổi tiếng En-ri-cô Ca-ru-xô bị thầy giáo cho là thiếu chất giọng và
không thể nào hát được.
Vậy xin bạn chớ lo sợ thất bại. Điều đáng sợ hơn là bạn đã bỏ qua nhiều cơ hội
chỉ vì không cố gắng hết mình.”
(Đừng sợ vấp ngã, Theo Trái tim có điều kì diệu)
- Nhan đề của bài văn thể hiện luận điểm chính: Đừng sợ vấp ngã.
- Những lí lẽ triển khai vấn đề:
+ Đã bao lần bạn vấp ngã mà không hề nhớ...
17


+ Vậy xin bạn chớ lo sợ thất bại. Điều đáng sợ hơn là bạn đã bỏ qua nhiều cơ hội
chỉ vì không cố gắng hết mình.
- Để chứng minh cho luận điểm “Đừng sợ vấp ngã”, người viết còn đưa ra những
dẫn chứng xác thực. Toàn là những tên tuổi lừng lẫy mà không ai không biết. Nghĩa là


- Sai lầm cũng có hai mặt. Tuy nó đem lại tổn thất, nhưng nó cũng đem đến bài
học cho đời.
- Thất bại là mẹ của thành công.
- Những người sáng suốt dám làm, không sợ sai lầm, mới là người làm chủ số
phận của mình.
Để chứng minh luận điểm, người viết còn đưa ra những lí lẽ:
- Không chịu mất thì cũng chẳng được gì: Một người mà lúc nào cũng sợ thất bại,
làm gì cũng sợ sai lầm là một người sợ hãi thực tế, trốn tránh thực tế, và suốt đời không
bao giờ có thể tự lập được. Bạn sợ sặc nước thì bạn không biết bơi; bạn sợ nói sai thì
bạn không nói được ngoại ngữ!
- Khó tránh được sai lầm trên con đường bước vào tương lai: Nếu bạn sợ sai thì
bạn chẳng dám làm gì. Người khác bảo bạn sai chưa chắc bạn đã sai, vì tiêu chuẩn đúng
sai khác nhau. Lúc đó bạn chớ ngừng tay, mà cứ tiếp tục làm, dù cho có gặp trắc trở.
- Không liều lĩnh, mù quáng, cố ý mà phạm sai lầm mà phải biết suy nghĩ, rút kinh
nghiệm: Tất nhiên bạn không phải là người liều lĩnh, mù quáng, cố ý mà phạm sai lầm.
Chẳng ai thích sai lầm cả. Có người phạm sai lầm thì chán nản. Có kẻ sai lầm rồi tiếp
tục sai lầm thêm. Nhưng có người biết suy nghĩ, rút kinh nghiệm, tìm con đường khác để
tiến lên.
Như vậy bài viết Không sợ sai lầm, người viết sử dụng lí lẽ và phân tích lí lẽ.
2.3.4.4. Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận bình luận.
Một văn bản bình luận phải đề xuất được ý kiến (tức là bày tỏ suy nghĩ, thái độ về
vấn đề nghị luận) và bảo vệ quan điểm riêng của mình về vấn đề đó. Có thể tiến hành
theo các cách sau:
+ Đứng hẳn về một phía, ủng hộ phía mình cho là đúng và bác bỏ phía mà mình
chắc chắn là sai.
+ Kết hợp những phần đúng và loại bỏ phần còn hạn chế mỗi phía, để đi tới một sự
đánh giá mình tin là công bằng, hợp lí.
+ Đưa ra cách đánh giá của riêng mình sau k hi đã phân tích các quan điểm, ý kiến
khác nhau về đề tài bình luận.

khác nhau. So sánh luôn đi đôi với nhận xét, đánh giá.
- Để nhận diện dấu hiệu này, học sinh hãy xác định:
1-

Những đối tượng được so sánh với nhau trong văn bản là gì? Theo tiêu chí

2-

Mục đích của sự so sánh?

nào?
Ví dụ:
“… Nhưng khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của nhà văn
Nam Cao, thì người ta mới nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là
khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa: bị giày đạp, bị cào
5()

Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 nâng cao, tập 2, Nxb Hà Nội, 2008, trang 227

20


xé, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình. Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa,...nhưng
chị còn được gọi là người. Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình đi để trở
thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.”
(Nhớ Nam Cao và những bài học của ông – Nguyễn Đăng Mạnh).
Tác giả so sánh sự khốn khổ của Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và sự
khốn khổ của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao. Cuối cùng đi đến kết
luận: Chí Phèo – “đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất
của người dân cùng ở một nước thuộc địa”. Nhờ đó, người đọc hiểu hơn giá trị của

21


*Nguyên nhân: cả ba thao tác cùng vận dụng phương pháp đối chiếu, so sánh với
đối tượng liên quan.
*Phân biệt:
- So sánh trong thao tác lập luận giải thích nhằm mục đích cắt nghĩa về một vấn đề
nào đó, cụ thể hóa đối tượng.
- So sánh trong thao tác lập luận phân tích là để làm sáng rõ một kết luận nào đó.
- So sánh trong thao tác lập luận so sánh là thao tác chính giúp người đọc thấy rõ
hơn giá trị của sự vật (hiện tượng, quan điểm, …).
Ví dụ 1:
Vì sao cái chết của con người ấy đã có thể gây ra trận động đất dữ dội đến vậy?
Huỳnh Thúc Kháng dường như đã trả lời câu hỏi đó bằng đánh giá sau đây, thoạt nghe
có thể rất lạ; ông viết: “Phan Châu Trinh là nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”.
Nên chú ý: ông không nói “nhà yêu nước”, cũng không nói “người chiến sĩ giải phóng
dân tộc”, những danh hiệu cũng hết sức cao quý.
Nhà cách mạng – khác với người yêu nước, người chiến sĩ giải phóng dân tộc – là
người chủ trương không chỉ chống ngoại xâm, giành độc lập cho đất nước; nhà cách
mạng là người chủ trương và thực hiện một cuộc thay đổi tận gốc xã hội, chuyển từ một
xã hội này sang một xã hội khác, khác tận gốc, về cơ bản.
(Lược trích từ Nguyên Ngọc, Nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam)(6)
Văn bản đối chiếu ba khái niệm nhà cách mạng – khác với người yêu nước, người
chiến sĩ giải phóng dân tộc để giải thích cho người đọc hiểu thế nào là nhà cách mạng. Vì
vậy thao tác lập luận ở đây là giải thích.
Ví dụ 2:
Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu làm chúng ta nhớ tới “Bình Ngô đại cáo” của
Nguyễn Trãi. Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dân tộc. Bài cáo của
Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh liệt chưa từng thấy,
biểu dương chiến thắng làm rạng rỡ nước nhà. Bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là khúc

chưa xa gì cái không khí bình yên trên bến Tầm Dương. Với Xuân Diệu cả tình lẫn cảnh
trở nên xôn xao vô cùng. Người kĩ nữ của Xuân Diệu cũng bơ vơ như người tì bà phụ.
Nhưng nàng không lặng lẽ buồn, ta thấy nàng run lên vì đau khổ:
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo;
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da”
(Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, 1988)
Văn bản so sánh bài Tì bà hành của Bạch Cư Dị với thơ của Thế Lữ và bài Lời kĩ
nữ của Xuân Diệu để chứng minh cho nhận định: Xuân Diệu có lối cảm xúc rất riêng. Vì
vậy đoạn văn sử dụng thao tác lập luận phân tích.
2.3.5.2. Nhầm giữa thao tác lập luận phân tích với giải thích.
*Nguyên nhân: Hai thao tác này nhầm lẫn với nhau vì có cùng cách thức: chỉ ra
mối quan hệ nguyên nhân – kết quả khi cần làm rõ đối tượng được nói tới trong văn bản.
*Phân biệt:
23


- Mối quan hệ nguyên nhân – kết quả trong thao tác lập luận giải thích: nhằm mục
đích giảng giải, cắt nghĩa về một hiện tượng nào đó. Đoạn văn chính là phần trả lời cho
các câu hỏi: Tại sao như thế? Cội nguồn của vấn đề là gì? Nguyên nhân sâu xa của nó?…
- Mối quan hệ nguyên nhân – kết quả trong lập luận phân tích: nhằm mục đích cho
người đọc hiểu kĩ và sâu hơn về đối tượng, sau khi đã xem xét đối tượng theo các mối
quan hệ bên trong bên ngoài. Phân tích luôn đi kèm với tổng hợp sau khi đã có sự phân
tích rạch ròi.
Ví dụ 1:
“Hồi tưởng cuộc chiến đấu anh dũng vô song của dân tộc Việt Nam ta ở Nam Bộ
lúc bấy giờ, ruột gan chúng ta đau như xé. […].
Cho nên không phải ngẫu nhiên mà thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu,
một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với
nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân. Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn
trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật sinh động và não nùng, cảm tình của

tác:
+ Phân tích là chia nhỏ đối tượng theo các mối quan hệ.
+ Chứng minh là dùng lí lẽ và dẫn chứng xác thực.
- Để biết thao tác nào là chính trong văn bản, HS phải dựa vào mục đích nghị luận
chính của văn bản:
+ Mục đích của phân tích là để người ta hiểu cặn kẽ thấu đáo vấn đề.
+ Mục đích của chứng minh là để người ta tin vào sự thật.
Ví dụ:
“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác
ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân
đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung,
Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những
người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những
bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu
thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân
buôn trở nên bần cùng.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status