SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT MỸ LỘC
----------------------------------
BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DỰ
THI CẤP TỈNH
Đề tài: Định hướng phát triển năng lực mở bài, kết bài cho
học sinh qua bài “Rèn kĩ năng mở bài, kết bài”
Tác giả
: Trần Thị Tươi
Trình độ chuyên môn : Cử nhân Sư phạm Ngữ văn
Chức vụ
: Giáo viên
Nơi công tác
: Trường THPT Mỹ Lộc
Mỹ Lộc, tháng 05 năm 2016
1
Mục lục
A. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến....................................................1
B. Mô tả giải pháp........................................................................................3
I. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến ............................................3
Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? - Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
-
Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính- Bỗng mụ đỏ mặt- nhưng cái
lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
-
Vậy sao không lên bờ mà ở? - Đẩu hỏi.
-
Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày
cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
-
Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? - Tôi hỏi.
-
Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác
uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi cũng đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới
xin được lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…
-
Không thể nào hiểu được. Không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt
4
-
Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no.
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt
Nam, 2015, tr.75-76)
Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó,
bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh
Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa”
Đề thi học kì I của Sở giáo dục đào tạo Nam Định:
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con song nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
Đề thi cuối năm của Sở Giáo dục đào tạo Nam Định
Về tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: “Dù bị đẩy đến hoàn cảnh khốn
cùng, nhưng người nông dân vẫn yêu thương nhau, khát khao hạnh phúc và hướng về tương
lai”. Bằng hiểu biết về tác phẩm “Vợ nhặt”, anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Cho học sinh nhận diện những yêu cầu của 2 phần này trong một bài văn
-
Hiểu rõ về chức năng của mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận và có kĩ năng vận
dụng linh hoạt, sáng tạo các kiểu mở bài, kết bài thông dụng.
-
Tự sửa và tránh các lỗi đã mắc, thường mắc khi viết mở bài và kết bài trong các bài
văn nghị luận.
2. Hướng dẫn cụ thể
*VIẾT PHẦN MỞ BÀI
- Cho học sinh đọc 3 mở bài trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tr.112; thảo luận theo
nhóm về đề bài: Phân tích giá trị nghệ thuật của tình huống truyện trong tác phẩm Vợ
nhặt cả Kim Lân.
Giáo viên định hướng:
+ MB 1: Không phù hợp vì không nêu được đề tài chính, nêu tiền đề quá rộng.
+ MB 2: nêu ngắn gọn đề tài, rõ rang, nổi bật.
+ MB 3: Nêu đúng đề tài, gợi hứng thú cho người đọc, dẫn dắt tự nhiên.
6
-
Cho học sinh đọc tiếp 3 phần mở bài sách giáo khoa Ngữ văn 12, tr.113-114 và thảo
luận về tính hấp dẫn của 3 mở bài đó.
hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
7
Hay với Quang Dũng, phải nhớ đó là nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, với hồn thơ
phóng khoáng, lãng mạn, hào hoa.
Với Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó máu thịt với mảnh đất Tây Nguyên
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
-
Hướng dẫn học sinh viết mở bài cho 3 đề bài sau:
+ Đề 1: Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ qua hai tác phẩm
Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và Rừng xà nu của Nguyễn Trung
Thành.
+ Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
(Tây Tiến- Quang Dũng)
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
(Việt Bắc- Tố Hữu)
+ Đề 3: Bàn về nghệ thuật xây dựng hai chân dung phụ nữ điển hình, trong truyện ngắn Vợ
nhặt- Kim Lân, có ý kiến cho rằng “Chị vợ nhặt được khắc họa ở phương diện bên ngoài,
còn bà cụ Tứ lại hiện lên qua những khắc họa nội tâm bên trong”. Ý kiến của bạn?
Hướng dẫn học sinh làm
*VIẾT PHẦN KẾT BÀI
- Học sinh tìm hiểu phần kết bài trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tr 114-115, ngữ liệu 1.
+ KB1: Không phù hợp vì không chốt được vấn đề, phạm vi kết luận quá rộng so với đề tài,
thiếu phương tiện liên kết.
+ KB2: Phù hợp vì kết luận rõ ràng, khái quát được vấn đề, có dấu hiện liên kết rõ ràng.
- Học sinh tìm hiểu hai kết bài của ngữ điệu 2
+ KB1: KB có tính khái quát, khẳng định vấn đề, liên hệ mở rộng.
+ KB2: Củng cố liên hệ mở rộng, có sự khái quát vấn đề khá rõ ràng
- Vai trò của kết bài:
9
+ Kết bài là phần cuối của bài viết, có tính chất hô ứng với phần trên nhưng kh'ông phải là
một vế đối cứng nhắc.
+ Nếu ta coi mở bài có tính chất của một câu hỏi, thì kết bài có tính chất là một câu trả lời,
một cách trả lời. Phần kết bài không chỉ khẳng định vấn đề nghị luận mà còn có nghiệm vụ
giúp người đọc thấy được khả năng của vấn đề đã được giải quyết với những vấn đề khác,
với những thắc mắc tiếp tục được giải đáp. Điểu này chỉ có ý nghĩa khi nó thực sự cần thiết
đối với người đọc nếu không nó chỉ là phần liên hệ nhạt nhẽo, cứng nhắc.
→ Vì vậy kết bài nhầm tổng kết thâu tóm lại vấn đề đã được đặt ra ở mở bài và phát triển ở
thân bài, đồng thời khơi ngợi những nội dung cảm xúc nối tiếp cho người đọc từ những vấn
để đã nêu ra và giải quyết. Việc thâu tóm lại nội dung vấn đề không phải là lặp lại những gì
đã trình bày trong phần thân bài mà phải dùng một cách diễn đạt khái quát và ngắn gọn.
Việc khơi gợi, tạo những dư ba là lời đã hết nhưng ý vẫn không hết, vẫn khiến người đọc
trăn trở, day dứt tiếp nối những gì đã nêu và triển khai ở bài viết.
- Kết bài có thể được viết theo những cách thức sau:
+ Thâu tóm nội dung đã được trình bày trong toàn bộ bài viết.
+ Từ nội dung đã trình bày kêu gọi hành động.
+ Từ nội dung đã được trình bày gợi cho người đọc vấn đề mới.
+ Từ nội dung đã trình bày mở rộng vấn đề đã liên quan.
kiến về văn học, hai ý kiến bàn về văn học; nghị luận về hai đoạn trích văn xuôi. Muốn viêt
tốt phần này đọc kỹ về phấn tiểu dẫn về tác giả trong sách giáo khoa.
+ Bước 2: Với từng kiểu bài cụ thể
• Với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, một bài thơ, một đoạn trích, một tác phẩm
văn xuôi học sinh giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung nghị luận (lưu ý phải đảm
bảo ngắn gọn, đúng, trúng) trích dẫn nội dung vấn đề cần nghị luận.
• Với kiểu bài nghị luận về hai đoạn thơ, hai đoạn trích: Học sinh giới thiệu từng tác
giả một, giới thiệu hai tác phẩm, tìm ra điểm chung của hai đoạn (viết một câu khái
quát) rồi trích dẫn vấn đề.
• Với kiểu bài nghị luận về một ý kiến, hai ý kiến: Ngoài phần giới thiệu về tác giả, tác
phẩm dứt khoát phải giới thiệu được một ý kiến, hai ý kiến đó vào trong phấn mở bài
Ví dụ: Đề thi chọn học sinh giỏi môn ngữ văn 12 năm 2016 của tỉnh Nam Định
“Tôi sẵn sãng gặp gió, gặp bào, gặp em
Nhưng sự hững hờ là tôi không chờ gặp”
11
Nếu Thanh Thảo “hững hờ” thì có viết được “Đàn ghi ta của Lorca”? Anh/ chị hãy làm
sáng tỏ.
Có thể mở bài như sau: Nhà thơ Tố Hữu cho rằng “thơ là điệu tâm hồn đi tìm đồng điệu”
Thơ phải dựa trên sự đồng cảm tri âm. Cũng như thế, nhà thơ Thanh Thảo từng viết ““Tôi
sẵn sãng gặp gió, gặp bào, gặp em - Nhưng sự hững hờ là tôi không chờ gặp” Chính sự
hững hờ không chờ gặp đó đã giúp Thanh Thảo thể hiện tình cảm, sự trân trọng của mình
trước nhân cách cao quý của F.G. Lorca trong bài thơ nhuốm màu tượng trưng siêu thực
“Đàn ghi ta của Lorca”
+ Bước 3: Phần kết bài
Cách kết bài ngắn gọn và phổ biến nhất học sinh thường làm:
• Khái quát nội dung, nghệ thuật của đoạn, của bài được nêu ra trong đề bài.
• Khằng định vị trí của bài, của đoạn trong sự nghiệp văn học của tác giả.
• Khẳng định vị trí của tác giả trong giai đoạn văn học.
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
( Bài làm của em Nguyễn Lan Hương 12A10)
- Đề 2: Về nhân vật Việt trong “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, có ý kiến
cho rằng “Việt là một cậu bé mới lớn, hồn nhiên, ngộc nghệch, vô tư”, ý kiến khác lại nhấn
mạnh “Việt là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường”. Ý kiến của anh/ chị?
Bài viết của học sinh:
Nguyễn Thi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ, những nhân vật trong sáng tác của ông
thường là những người nông dân dũng cảm, có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông là nhà văn
có biệt tài đi sâu vào tâm lý của nhân vật. Điều này được thể hiện ở nhân vật Việt trong tác
phẩm “Những đứa con trong gia đình”. Về nhân vật này có ý kiến cho rằng “Việt là một
cậu bé mới lớn, hồn nhiên, ngộc nghệch, vô tư” và ý kiến khác lại nhấn mạnh “Việt là một
chiến sĩ dũng cảm, kiên cường”
(Bài làm của Dương Quốc Nhật – 12A10)
2. Kỹ năng: Học sinh được rèn những kỹ năng nhận thức đề, kỹ năng sử dụng các thao tác
lập luận, kỹ năng đọc và nắm bắt kiến thức trong phần tiểu dẫn, kỹ năng hệ thống vấn đề, kỹ
năng vận dụng các đơn vị kiến thức liên quan giữa tác giả và tác phẩm, giữa tác phẩm và văn
học sử, lý luận văn học
3. Thái độ: Học sinh có thái độ học tập nghiêm túc, khoa học và có khát vọng tìm tòi.
Cam kết không chép, hoặc vi phạm bản quyền
13
14