ĐẢNG vận DỤNG bài học PHÁT HUY nội lực và NGOẠI lực TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH đạo hội NHẬP KINH tế QUỐC tế và GIAI đoạn CÁCH MẠNG HIỆN NAY - Pdf 42

1

ĐẢNG VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM PHÁT HUY NỘI LỰC
VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO VỀ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY
Phát huy nội lực, kết hợp ngoại lực trong cách mạng là một trong
những bài học kinh nghiệp lớn trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
đối với cách mạng nước ta. Trong đó nội lực có vai trò quyết định đối với sự
phát triển đất nước. Phát huy, sử dụng tốt nội lực mới thu hút tốt ngoại lực.
Phát huy tốt nội lực sẽ không lệ thuộc vào các yếu tố bên ngoài sẽ chủ động,
tự chủ trong xây dựng, hoạch định về đường lối chiến lược kinh tế –xã hội .
phát huy nội lực mới bảo đảm được độc lập tự chủ về kinh tế và thực hiện
hội nhập kinh tế quốc tế thành công . phát huy nội lực trước hết phát huy
nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả
nguồn tài nguyên và sử dụng tốt nhất các nguồn lực của nhà nước. Điều đó
có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa về
vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân, của các thành phần kinh tế, đặc
biệt là kinh tế tư nhân – một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta để góp
phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát
triển kinh tế xã hội. Ngoại lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển. Kết
hợp tốt nội lực và ngoại lực sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp xây dựng đất
nước. Ngoại lực bao gồm cả vốn , tri thức, công nghệ, kỷ năng quản lý và thị
trường …. Bổ sung cho nội lực, tạo thêm điều kiện để huy động và sử dụng
nội lực có hiệu quả hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế ngoại lực càng trở nên quan trọng. Một nước đang phát triển ở trình
độ thấp như nước ta, muốn vươn lên theo kịp các nước, không thể coi nhẹ
việc thu hút sử dụng tốt nhất ngoại lực. Muốn phát huy tốt ngoại lực, phải có
một chiến lược phù hợp và môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, trước
hết là một hệ thống thể chế, chính sách đồng bộ, một nền hành chính minh




3

Nam á và trên thế giới, tăng cường đặc biệt giữ ba nước Đông dương, tăng
cương quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong
cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đồng thời tích cực cực
góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc
lập dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội” 3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII Đảng ta tiếp tục khẳng định: “ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
quốc thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế ngày nay trước
cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội trước sự phát triển như vũ bảo của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại và quá trình quốc tế hoá mạnh mạnh mẽ nền kinh tế thế
giới, càng hải kết hợp chặt chẻ các yếu tố dân tộc với yếu tố quốc tế , yếu tố
truyền thống với yếu tố hiện đại để đưa đất nước tiến lên” 1. Theo quan điểm
đó đảng đã lãnh đạo cách mạng thu được nhiều thành tựu quan trọng trên tất
cả các lĩnh vực; về kinh tế đã đẩy nhanh phát triển kinh tế hoàn thành vượt
mức nhiều mục tiêu chủ yếu; đã tạo được một số chuyển biến tích cực về
mặt xã hội; giữ vững được ổn định chính trị , cũng cố quốc phòng an ninh;
thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị; phát
triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tích
cực vào đời sống cộng đồng quốc tế , năng động trong đường lối đối ngoại,
độc lập tự chủ đa phương hoa đa dạng hoá, khôi phục và mở rộng quan hệ
hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc; Tăng cường quan hệ hữu nghị,
hợp tác với các nước láng giềng, và các nước truyền thống như Liên Bang
Nga các nước cộng đồng các quốc gia độc lập và các nước đông âu, các nước
công nghiệp phát triển, bình thường hoá với Mỹ, thiết lập quan hệ các nước
3
1

tiêu mà đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định “Phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử
2

Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2005, trang 632
3
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiên Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H 2006 , trang71


5

dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát
triển văn hoá; thực hiện và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an
ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và hội nhập kinh tế quốc tế; giữ
vững và ổn định chính trị – xã hội, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại” 4.Để thực hiện mục tiêu đó trước hết Đảng
phải quán triệt sâu sắc bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, từ đó tranh thủ mọi nguồn lực trong nước như sức lao động, Vốn, tài
nguyên, công nghệ trong đó phát huy nguồn lực con người là vấn đề cơ
bản .Đồng thời, Đảng chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại tiếp thu những
tinh hoa của nhân loại , chủ động chuẩn bị mọi mặt cần và đủ cho hội nhập
kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát huy tối đa nội lực
trong quá trình hội nhập, nghĩa là phải xây dựng một nền kinh tế độc lập tự
chủ, trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế nhưng phải trên cơ sở quan điểm của
Đảng xác định xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là nhiệm vụ chiến lược kinh tế trong thời
kỳ mới. Như vậy nội lực theo quan điểm của đảng ta là: nguồn lực bên trong

cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”, như vậy giai cấp vô sản
mới có tạo ra sức mạnh, mới có khả năng chiến thắng kẻ thù. Trong quá
trình tìm đường cứu nước, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách
mạng Việt Nam là một bộ phận trong cách mạng thế giới, ai làm cách mạng
trên thế giới đều là đồng chí của dân Việt Nam cả ”. khi bàn về phát huy
nội lực Hồ Chí Minh luôn căn dặn phải chủ động, tự lực tự cường không
được trong chờ ỷ lại “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ
dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. 5 Nhưng Người
cũng chỉ rõ cách mạng Việt Nam muốn giành thắng lợi phải biết đoàn kết,
tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế.

5

. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2002, tr.522.


7

Ngoại lực, là sự giúp đỡ, hợp tác, chuyển giao của nước ngoài cho một
quốc gia dân tộc bao gồm vốn, tri thức, công nghệ, khoa học kỷ thuật, kỹ
năng quản lý và thị trường…Ngoại lực có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của đất nước, nó bổ sung tăng cường sức mạnh nội lực, tạo thêm điều
kiện tốt để huy động và sử dụng nội lực có hiệu quả cao hơn. Đây là mối quan
hệ biện chứng giữa yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, giữa trong nước và
quốc tế, giữa dân tộc và thời đại.
Trên cơ sở đó, vừa tranh thủ, tận dụng được sự ủng hộ, giúp đỡ của
quốc tế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý phương thức sản xuất, chính sách
thu hút nhân tài vật lực nhưng phải giữ vững ổn định chính trị- xã hội, củng
cố quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế , giữ vững an ninh quốc gia. đảm
bảo cho kinh tế phát triển vững chắc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX

kinh tế, đó là kinh tế mở cửa ra bên ngoài vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu, tức
là thực hiện cơ chế kinh tế thị trường mở cửa. Toàn cầu hoá vừa là một khái
niệm chỉ phạm vi, tức là kinh tế của tuyệt đại đa số quốc gia được đưa vào
trong phạm vi đại thị trường thế giới, vừa là một khái niệm về trình độ, chỉ
những yếu tố kinh tế chủ yếu trên thế giới phải có năng lực và điều kiện để bố
trí trong phạm vi toàn cầu. Mặc dù xác định một tiêu chuẩn lượng hoá cho
toàn cầu hoá kinh tế là tương đối khó khăn, nhưng nhận thức về góc độ định
tính, chí ít phải có ba tiêu chí sau đây: Một là thông tin hoá, hai là thị trường
hoá, ba là xuyên quốc gia hoá, lưu động tự do các yếu tố sản xuất. Không có
ba tiêu chí trên, tức là không có giao thông cao tốc và kỹ thuật thông tin vệ
tinh phát triển làm cho hành tinh của chúng ta thu nhỏ lại thành “làng trái
đất”; không có thông tin hoá toàn cầu được hình thành do kỹ thuật máy tính
và Internet phát triển nhanh chống; không có tính bất khả kháng của quy luật
thị trường làm cho kinh tế toàn cầu thị trường hoá, không có sự lưu động
xuyên quốc gia của các yếu tố sản xuất như tư bản, kỹ thuật, sức lao động …,
cũng như sự lưu động xuyên quốc gia trong phạm vi toàn cầu của tiền vốn do
sự phát triển của thị trường tài chính và chứng khoán tạo ra, thì căn bản không
thể nói gì đến toàn cầu hoá kinh tế thế giới.


9

Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan của sự phát triển sản xuất loài
người. Lực lượng sản xuất xã hội loài người mấy năm qua kể từ cuộc cách
mạng công nghiệp, đã trải qua ba giai đoạn phát triển lớn, từ xã hội hoá sản
xuất phát triển đến quốc tế hoá sản xuất, ngày nay lại tiến thêm một bước phát
triển theo hướng toàn cầu hoá kinh tế. Thế kỷ trước, sau khi hoàn thành cách
mạng công nghiệp, đã từng bước thực hiện xã hội hoá sản xuất. Sau chiến
tranh thế giới thứ hai, xã hội hoá sản xuất lại tiến thêm một bước phát triển
theo hướng quốc tế hoá, chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất, làm cho sản

hàng hóa dịch vụ, chuyển giao công nghệ lại nhộn nhịp giữa các nước phát
triển với các nước đang phát triển. Bối cảnh phát triển của thế giới đương đại
cho thấy, bất cứ quốc gia nào, không phân biệt trình độ phát triển, chỉ có thể
phát triển thuận lợi trong một môi trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hoá xuất hiện như là một xu thế tất yếu của phát triển kinh tế mỗi
quốc gia và các dân tộc trên thế giới. Toàn cầu hoá xu thế khách quan, nó như
là một “dòng chảy” của thời đại mà không một quốc gia nào có thể ngoảnh
mặt làm ngơ với dòng chảy đó. Nó đã và đang tác động mạnh mẽ tới mọi mặt
của đời sống kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội thế giới mà hệ quả rất phức
tạp, có cả mặt tích cực và cả mặt tiêu cực, mang lại những cơ hội lớn đồng
thời đặt ra nhiều thách thức mới cho các quốc gia dân tộc.
Nó là một xu thế khách quan, có những tác động sâu sắc và toàn diện
tới các nước và toàn bộ quan hệ quốc tế. Quá trình này sẽ tiếp tục phát triển
và có ảnh hưởng lớn tới tương lai của nhân loại. Toàn cầu hóa (kinh tế) là quá
trình phát triển ở mức cao của các quan hệ kinh tế quốc tế, được biểu hiện chủ
yếu thông qua sự gia tăng mạnh mẽ các dòng lưu chuyển của hàng hóa, dịch
vụ, vốn, công nghệ và nhân công giữa các nước; và là sự hình thành, phát
triển của các thiết chế, tổ chức quốc tế nhằm điều tiết, quản lý các dòng lưu
chuyển quốc tế này. Do vậy, toàn cầu hóa cũng có nghĩa là quá trình xóa bỏ
các rào cản đối với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công


11

nghệ và nhân công giữa các nước, làm cho các thị trường quốc gia mất dần
biên giới, hình thành những thị trường khu vực chung và tiến tới hình thành
một thị trường thống nhất trên toàn cầu. Nhìn ở góc độ phân công lao động thì
có thể nói, toàn cầu hóa thực chất là sự phát triển cao và mở rộng quá trình
phân công lao động trên phạm vi các khu vực và toàn thế giới. Để phát triển
trong bối cảnh như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một đòi hỏi không

nhu cầu mọi mặt của đời sống xã hội, của an ninh, quốc phòng và quá trình tái
sản xuất; không bị lệ thuộc vào bên ngoài cả từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm, để có thể vận hành một cách bình thường và bảo đảm được nền tảng
cho việc duy trì an ninh quốc gia. Một nền kinh tế như vậy nhìn chung chỉ tồn
tại trong điều kiện các quốc gia có đầy đủ mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên,
điều kiện địa lý, khí hậu lý tưởng, quy mô thị trường quốc gia đủ lớn, trình độ
phát triển cao về khoa học - công nghệ và không cần phải có quan hệ kinh tế
với nhau mà vẫn có thể tự tồn tại, phát triển được.
Ngày nay, khi toàn cầu hóa đã phát triển ở mức cao, các thị trường
quốc gia đã và đang tiếp tục mất đi những hàng rào ngăn cách quan trọng để
từ đó tạo điều kiện hình thành thị trường thống nhất trên phạm vi các khu vực
và toàn cầu, thì các luồng lưu chuyển khổng lồ về hàng hóa, dịch vụ, thông
tin, vốn, công nghệ, nhân công và các mạng lưới công ty đa quốc gia rộng
khắp toàn cầu đã gắn kết các quốc gia lại với nhau, làm cho chúng lệ thuộc
vào nhau trong cả quá trình sản xuất lẫn quá trình tiêu thụ sản phẩm. Toàn cầu
hóa càng phát triển thì sự tương tác, tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước càng
tăng. Khủng hoảng kinh tế hay những chấn động kinh tế, tài chính xảy ra ở
một nền kinh tế nào đó đều có tác động đến các nền kinh tế mà nó có quan hệ.
Mức độ ảnh hưởng nhiều hay ít tùy thuộc vào quy mô của nền kinh tế đó và
sức nặng của nó trong quan hệ với các nền kinh tế khác. Thực tế cho thấy,
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở một số nước Đông Nam Á năm 1997
đã gây ra ảnh hưởng dây chuyền nghiêm trọng đối với tất cả các nước trong


13

khu vực và cả nhiều nước khác trên thế giới. Suy thoái kinh tế ở Mỹ và một
số nước khác năm 2001 cũng đã kéo theo suy thoái kinh tế ở rất nhiều nước
trên thế giới và có tác động mạnh đến hầu hết các nước. Như vậy, rõ ràng một
“nền kinh tế độc lập tự chủ” theo cách hiểu truyền thống không còn tồn tại

toàn bộ nền kinh tế và của các doanh nghiệp.Toàn cầu hóa tạo cơ hội để
chúng ta tiếp cận, huy động các nguồn vốn, FDI, các công nghệ mới, chất
xám và kỹ năng cao cấp từ bên ngoài để phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế
cần thiết cho việc duy trì kinh tế độc lập tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế và các doanh nghiệp.Toàn cầu hóa tạo điều kiện để mở rộng,
đa dạng hóa thị trường quốc tế và đối tác quốc tế, tránh bị lệ thuộc tập trung
vào một số thị trường và đối tác nước ngoài, giữ độ an toàn cao hơn cho nền
kinh tế; tạo cơ hội để tăng cường xuất khẩu và tích lũy, nâng nguồn dự trữ
quốc gia, tạo khả năng ứng phó cao hơn đối với các biến cố về tài chính có
thể xảy ra, hạn chế việc phải xin viện trợ bên ngoài. Quá trình toàn cầu hóa
cũng tạo động lực thúc đẩy chúng ta phải cải cách hệ thống tài chính - ngân
hàng, lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, tạo điều kiện để phát triển kinh tế
và từ đó hạn chế bớt nguy cơ bị lệ thuộc vào bên ngoài về tài chính.Toàn cầu
hóa tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để nắm bắt thông tin, tri thức mới một
cách nhanh chóng, kịp thời và tối đa, từ đó giúp cho việc phân tích, đánh giá
tình hình và hoạch định chính sách kinh tế một cách phù hợp, nâng cao năng
lực quản lý và hiệu quả của bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó quá trình toàn cầu
hóa còn tạo điều kiện để đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ các nhà khoa
học, các nhà quản lý doanh nghiệp và tay nghề chuyên môn của đội ngũ lao
động, dần dần theo kịp với trình độ chung của thế giới.Chủ động hội nhập
trong xu thế toàn cầu hóa sẽ giúp chúng ta tạo dựng được các mối quan hệ
quốc tế đan xen ở nhiều cấp độ, tránh bị phân biệt đối xử trong quan hệ kinh
tế quốc tế, nâng cao vị thế và tiếng nói của nước ta trong quan hệ với các
nước và tổ chức quốc tế, từ đó có điều kiện thuận lợi để bảo vệ lợi ích và độc


15

lập tự chủ của nước ta.Tuy vậy, Toàn cầu hóa làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia trên nhiều phương diện, đặc biệt là về kinh tế, từ đó làm suy

của toàn cầu hóa, chúng ta cần có sự đổi mới phù hợp hơn về tư duy kinh tế
độc lập tự chủ trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế để xác
định đúng đắn các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và dài hạn
cũng như các chính sách kinh tế cụ thể, đưa đất nước ta tiến nhanh, mạnh và
vững chắc trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Như vậy, để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thì vấn đề có tính
quyết định sống còn là phải khơi dậy và phát huy tối đa các nguồn nội lực,
khai thác mọi lợi thế so sánh của đất nước làm ra những hàng hoá xuất khẩu,
thu ngoại tệ, rồi nhập khẩu những hàng hoá, đặc biệt là những tư liệu sản xuất
trong nước không có điều kiện sản xuất hoặc sản xuất không có hiệu quả.
Như vậy, thông qua hoạt động kinh tế đối ngoại để chuyển việc sản xuất
những hàng hoá trong nước có lợi thế so sánh để đổi lấy tư liệu sản xuất phục
vụ cho tái sản xuất mở rộng ở trong nước.Đảng ta cho rằng : “Nội lực có vai
trò quyết định đối với sự phát triển. Có phát huy được nội lực mới thu hút và
sử dụng có hiêu quả ngoại lực ” 6 .Nguồn nội lực là nguồn đối ứng để tiếp
nhận và sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực.
Như vậy, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế trở thành nhân tố quan
trọng để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
của nền kinh tế. Điều đó thể hiện mối quan hệ biện chứng: phát huy tối đa nội
lực xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thì sẽ tăng cường thế và lực để mở
rộng hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; đến lượt mình,
càng nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế thì càng phát huy được nội
lực, biến ngoại lực thành nội lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ ngày càng phát triển.
6

Sdd, t180




Sdd, t180
Sdd, t239


18

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển
trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN, chủ quyền
quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc; bình đẳng cùng có lợi, vừa hợp tác vừa
đấu tranh; đang phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; đề
cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.Trong quá
trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao
chất lượng, hiệu quả, không ngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm dần
hàng rào bảo hộ. Nâng cao hiệu quả hợp tác với bên ngoài; tăng cường vai trò
và ảnh hưởng của nước ta đối với kinh tế khu vực và thế giới
Hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình xây dựng và phát triển nền kinh
tế độc lập tự chủ theo định hướng XHCN là hai mục tiêu của cùng quá trình
phát triển. Hai mục tiêu này không tách rời nhau mà gắn chặt với nhau, hội
nhập là phương tiện để đạt tới nền kinh tế độc lập tự chủ một cách hiệu quả
hơn và ngược lại. Để thực hiện được mục tiêu đó, Đảng ta phải độc lập tự chủ
về đường lối chính trị, đường lối kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng
... để đất nước phát triển theo định hướng XHCN. Trước sau như một, Đảng
ta hoàn toàn độc lập tự chủ về đường lối phát triển đất nước theo con đường
đi lên CNXH mà Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn.Đồng thời, phải chủ động
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then
chốt, chủ yếu tạo ra tiềm lực mạnh về kinh tế, khoa học – công nghệ, cơ sở
vật chất – kỹ thuật tiên tiến, hiện đại; cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và có
sức cạnh tranh trên trường quốc tế; xây dựng và ngày càng hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng XHCN; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo

những tạo điều kiện cho những thị trường này ra đời mà ngay từ đầu cần đưa
chúng vào hoạt động theo thông lệ quốc tế. , Đẩy mạnh cải cách hệ thống
doanh nghiệp nhà nước, hệ thống tài chính, ngân sách để vừa giảm nhẹ gánh
nặng bao cấp của Nhà nước theo các cam kết đã ký vừa tạo ra chỗ dựa vững
chắc để Nhà nước kiểm soát vĩ mô nền kinh tế. Tuyên truyền sâu rộng về yêu


20

cầu, nội dụng, lộ trình hội nhập cho từng người dân, đồng thời giúp họ tìm
phương thức ứng xử hợp lý nhất qua các hình thức thông tin đa dạng, thông
qua các hoạt động cuả các tổ chức và đặc biệt cắt bỏ kiên quyết những bao
cấp và bảo hộ không thích đáng để tạo sức ép cho người dân chủ động chuẩn
bị hội nhập.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình khó khăn phức tạp đòi
hỏi không chỉ tài năng của Nhà nước, sự ủng hộ của nhân dân mà còn cả
sức mạnh của một nước. Chỉ với sự chuẩn bị cẩn thận, khoa học nhất
chúng ta mới mong thu được lợi ích từ chính quá trình hội nhập đó.
Đồng thời, giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và định hướng XHCN
trong đường lối đối ngoại .
Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước - một bộ phận trong
đường lối chính trị của Đảng góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của
cách mạng Việt Nam. Năm 1986, tại Đại hội VI, Đảng ta khởi xướng công
cuộc đổi mới trong bối cảnh đất nước đang ở trong tình trạng khủng hoảng
kinh tế - xã hội trầm trọng, bị bao vây, cấm vận, đồng thời đứng trước những
thách thức và tác động sâu sắc từ những đảo lộn diễn ra trên thế giới. Tiến
hành đổi mới, về mặt đối ngoại, có hai vấn đề lớn, hết sức cấp bách mà chúng
ta phải xử lý: một là, phá thế đất nước bị bao vây, cấm vận; hai là, thích ứng
bối cảnh khách quan của thế giới đang biến đổi sâu sắc với quá trình toàn cầu
hóa kinh tế dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, với sự sụp đổ

triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực phát huy vai trò là "cầu nối" hữu nghị,
tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và quan hệ hợp tác giữa nước sở tại mà họ
sinh sống với Việt Nam.Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và sự
quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp
chặt chẽ giữa hoạt động đối ngoại của Đảng, hoạt động ngoại giao của Nhà
nước và hoạt động đối ngoại nhân dân, giữa chính trị đối ngoại và kinh tế đối


22

ngoi, hot ng i ngoi v hot ng quc phũng, an ninh, gia thụng tin
trong nc v thụng tin i ngoi, to thnh sc mnh tng hp trờn lnh vc
cụng tỏc i ngoi. Phõn cụng, phõn nhim rừ rng, cao trỏch nhim v
vai trũ ch ng ca cỏc ngnh, cỏc cp trong vic thc hin cỏc chc nng,
nhim v c giao liờn quan n i ngoi; bo m s giỏm sỏt, kim tra
cht ch. nhm ; Thc hin tt ng li , chớnh sỏch i ngoica ng v
nh nc ; ch ng tớch cc hi nhp kinh t sõu hn , y hn vi khu
vc v th giúi9
Túm li , t thc tin thực hiện chủ trơng phát huy sức mạnh dân tộc
(nội lực) và sức mạnh của thời đại (ngoại lực) trong xây dựng và bảo vệ tổ
quốc phát triển đất nớc trong suốt các thời kỳ cách mạng nói chung và
phỏt trin kinh t - xó hi trong nhng nm qua nói riêng , ỏp ng vi xu
th ton cu hoỏ nn kinh t th gii các thông lệ của tổ chức thơng mại thế
giới (WTO) , ng ta ó rỳt ra nhng bi hc kinh nghim v cng l t
tng ch o phỏt trin kinh t - xó hi : bi hc huy động và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực, nhất là nội lực; v phỏt trin nhanh v bn vng ; v
hi nhp kinh t quc t v xõy dng nn kinh t t ch ; v phỏt trin kinh
t th trng ng thi chm lo ngy cng tt hn phỳc li xó hi ; v cụng
tỏc t chc thc hin v tuyn chn, b trớ ỳng cỏn b , c bit l v huy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status