Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh lớp 5
MỤC LỤC
TT
Mục
Trang
1
I. Phần mở đầu
2
2
1. Lí do chọn đề tài
2
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2
4
3. Đối tượng nghiên cứu
4
10
3. Giải pháp, biện pháp
5
11
a. Mục tiêu của giải pháp
5
12
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
6
13
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp
12
14
d. Kết quả khảo nghiệm
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiểu học là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân.. Đây là bậc
học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, thời gian hình thành nhân cách và
năng lực (trí tuệ và thể chất). Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản khác. Việc đào tạo, giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học luôn được
đặt lên hàng đầu. Ở Trường Tiểu học Lê Hồng Phong chúng tôi cũng như vậy!
Chúng tôi luôn quan tâm, chú trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho
các em. Muốn đạt được điều đó thì việc đầu tiên phải làm chính là duy trì sĩ số học
sinh, đảm bảo tỉ lệ chuyên cần. Có đi học chuyên cần thì các em mới có điều kiện
tiếp cận và lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt.
Nhưng với điểm trường mà tôi đã dạy, học sinh phần đa là con em người dân tộc
thiểu số, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Cha mẹ các em phải lo bữa ăn hàng ngày
cho gia đình, một số phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của các em nên việc các
em nghỉ học, bỏ học ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều
không tránh khỏi.
Chính vì lẽ đó mà sau nhiều năm làm công tác chủ nhiệm, tôi luôn trăn trở
và đặt cho mình một câu hỏi: “Làm thế nào để duy trì sĩ số, đảm bảo tỉ lệ chuyên
cần?”. Do đó, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số biện pháp duy trì sĩ số học
sinh lớp 5”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu các biện pháp để thấy được
một số khó khăn và đưa ra một số giải pháp tối ưu, có tính khả thi để khắc phục
có hiệu quả tình trạng học sinh bỏ học. Nhằm giữ vững và duy trì tốt sĩ số học
sinh của lớp, trường, góp phần thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học tại
địa bàn. Góp phần giữ gìn và phát huy kết quả đạt được của phổ cập giáo dục tiểu
học cho địa phương.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Lê
2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Trường Tiểu học quy
định độ tuổi của học sinh tiểu học từ sáu đến mười bốn tuổi (tính theo năm). Đây là
lứa tuổi các chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và
điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quanh mình.
Khả năng tiếp thu kiến thức nhanh hay chậm của từng nhóm đối tượng học sinh cũng
khác nhau. Ở số đông các em, ý thức học tập chưa cao, chưa hiểu rõ mục đích của
việc học. Các em đi học phần nào là do sự bắt buộc của gia đình, chỉ một phần nhỏ là
ham thích đi học (vì đi học được mặc quần áo đẹp, được gặp gỡ và vui chơi cùng các
bạn, được cô giáo khen,…). Do đó, ý thức tự giác học tập của các em chưa có nên
thiếu sự cần cù, sự cố gắng vượt qua khó khăn để học tập, dễ sinh ra lười biếng, ham
chơi và dẫn đến học yếu, chán học và rồi bỏ học…
Có một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là nhiều trường đưa ra rất nhiều
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của
học sinh mà quên đi việc bồi lấp lỗ hổng kiến thức cho học sinh yếu, học sinh có
hoàn cảnh khó khăn. Các em không có đủ thời gian cho học tập, điều kiện thiếu
thốn; tâm lý không ổn định, thiếu tự tin trong học tập; ngôn ngữ tiếng Việt bị hạn
chế; thiếu sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và sự hỗ trợ của cộng đồng. Vì vậy
nên người giáo viên cần nắm bắt tốt các công văn chỉ đạo của các cấp (CV
9890/BGDĐT-GDTH về việc hướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục cho
Trường TH Lê Hồng Phong
3
GV: Nguyễn Thị Kim Anh
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh lớp 5
học sinh có hoàn cảnh khó khăn) để có hướng điều chỉnh nội dung, phương pháp
và hình thức dạy học sao cho phù hợp với học sinh của lớp.
Trường Tiểu học Lê Hồng Phong có tất cả 3 điểm trường. Điểm trường nơi
tôi làm công tác chủ nhiệm là buôn Eana với đại đa số dân cư là người dân tộc
thiểu số. Hằng năm vẫn xảy ra tình trạng học sinh bỏ học. Các giáo viên và nhà
trường cũng tìm mọi cách để những học sinh đó trở lại trường nhưng cũng chỉ
được một thời gian sau đó lại nghỉ (Ví dụ: Em Y Hoàng bỏ học năm học 2014 –
2015). Bên cạnh đó, lớp học mà tôi phụ trách cũng gặp phải những khó khăn nhất
định:
Trường TH Lê Hồng Phong
4
GV: Nguyễn Thị Kim Anh
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh lớp 5
Học sinh là người dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm 1/2 số học sinh của lớp.
Vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Văn hóa, lối sống khác nhiều so với
những gì thực tế học tập từ sách vở. Kết quả học tập chưa cao.
Một số em điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ mải đi làm thuê kiếm
sống không quan tâm đến việc học tập của con, phó mặc hết cho nhà trường và
thầy cô giáo.
Lớp có một em bố mẹ bỏ nhau, bố và mẹ không nuôi nên em ở với bà
ngoại. Vì thế, việc học tập phần nào bị lơ đễnh.
Có 3 em bố mẹ đi làm ăn nơi xa, các em sống với ông bà. Có 1 em ham
chơi, bị bạn bè xấu lôi kéo vào các trò game online thành nghiện.
Một số em nhà ở xa trường học, đường sá đi lại khó khăn.
Phần lớn học sinh rất thụ động, kĩ năng sống chưa được chú trọng, kĩ năng
giao tiếp chưa tốt, kĩ năng giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường lớp, ý thức bảo vệ
của công và ý thức kỉ luật khi tham gia hoạt động tập thể, đặc biệt là tính tự giác,
Tận dụng tối đa sự tác động của môi trường xã hội tạo mối liên hệ gắn kết
giữa nhà trường – gia đình – cộng đồng để giáo dục học sinh phát triển một cách
toàn iện nhất.
Tổ chức tốt tiết sinh hoạt tập thể - sinh hoạt lớp, tạo môi trường giáo dục
tốt giúp các em hứng khởi hơn trong học tập, gắn bó học sinh với học sinh; học
sinh với giáo viên; học sinh với trường lớp,…
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Thứ Nhất: Phổ biến nội quy ngay từ đầu năm tới học sinh - phụ huynh
Tổ chức học nội quy lớp ngay tuần đầu của năm học. Quy định rõ: học sinh
phải đi học đều và đúng giờ, nghỉ học phải có lí do và được cha mẹ xin phép.
Tổ chức họp phụ huynh học sinh đầu năm, thông báo cho phụ huynh biết
về quy định và nhờ phụ huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở.
Học sinh đến trường đều tự mình đánh dấu vào Bảng theo dõi “Ngày em đến
lớp”.
Gọi điện thoại liên lạc trực tiếp với phụ huynh đối với những trường hợp
học sinh tự ý bỏ học. (Tôi đã nắm được 20/25 số điện thoại của phụ huynh học
sinh trong lớp). 5 em (Y Sa Muel Niê, H Nang Êban, Y Truyền Byã, Y Khuyến
Byã, Y Huy Byã) không có vì bố mẹ không dùng điện thoại nên phải đến tận nhà
tìm hiểu nguyên nhân và trao đổi cách khắc phục.
Chính nhờ thế mà những học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm chỉ nghỉ học 1 ngày
không phép thì đến hôm sau đi học lại bình thường, nên năm 2015-2016 lớp tôi
chủ nhiệm không có hiện tượng học sinh bỏ học giữa chừng.
Thứ hai: Giúp học sinh khắc phục khó khăn trong học tập:
Bản thân giáo viên phải luyện nói (tăng cường tiếng Việt) cho học sinh
trong mỗi tiết học, mọi lúc, qua việc trò chuyện, tâm sự với các em; mỗi tuần một
tiết sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp và hướng dẫn học sinh đọc thêm
sách báo tại thư viện của lớp, học ở nhà cùng với việc phân công học sinh khá
cùng đọc hỗ trợ đối với những học sinh gặp khó khăn trong nói và đọc. (Ví dụ: Có
em Y Sa Muel Niê nói và viết hay sai lỗi chính tả nhiều. Mỗi khi đọc bài, các bạn
học tập, sinh hoạt và cốt yếu là luôn cân bằng giữa tư cách là người giữ kỷ cương, là
người bạn tâm tình mỗi khi các em cần sự giúp đỡ. Do vậy, mỗi lời hỏi thăm, mỗi cử
chỉ chăm sóc của cô thầy sẽ giúp các em thoát khỏi mọi tự ti, mặc cảm.
Có em Vũ Quang Tiến chuyển từ trường khác về lớp 5E từ đầu năm học
2015-2016. Lúc mới về em luôn mặc cảm bởi hoàn cảnh nhà nghèo, nói cà lăm và
lại làm quen với mô hình trường học mới (VNEN), bởi nơi em theo học trước đó
là chương trình hiện hành, lực học của em cũng không được tốt lắm. Tôi đã luôn
quan tâm đến em, hướng dẫn em hòa nhập với mô hình học mới, bạn mới,…. Tôi
hỏi han em giống như một người mẹ, người chị, người bạn. Tiếp xúc nhiều với
cô, với các bạn em dần quen và trở nên mạnh dạn hơn. Có những giờ học Tiến trở
nên xuất chúng khiến nhiều bạn ngạc nhiên với câu trả lời khá hoàn hảo và sáng
tạo của mình. Những lúc đó tôi đã tuyên dương khích lệ tinh thần của em. Tiến
cảm thấy rất phấn khởi và thêm yêu trường lớp, thầy cô giáo và các bạn mới. Từ
đó đến nay, Tiến đã mạnh dạn và tự tin hơn nhiều, em luôn đi học đều và đúng
giờ. Có khi bị ốm, bố mẹ điện thoại xin phép cô giáo rồi nhưng Tiến cũng chỉ
nghỉ một buổi đi khám bệnh, buổi chiều vẫn lên lớp học.
Thứ tư: Quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn:
Rà soát, nắm bắt những học sinh có hoàn cảnh nghèo, gia cảnh khó khăn
đăng kí cho các em được nhận dụng cụ, sách vở, quần áo do Nhà trường và Liên
đội và các tổ chức từ thiện hỗ trợ ngay từ đầu năm.
Mua sẵn bút chì, thước, ruột bút kim,… để trong cặp. Khi các em cần thì đã
có ngay để dùng.
Trường TH Lê Hồng Phong
7
GV: Nguyễn Thị Kim Anh
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh lớp 5
chấm dứt hoàn toàn. Tất cả học sinh đều tự giác, tích cực trong các tiết học, môn
học và các em đều thể hiện lòng tôn kính của mình với thầy cô.( Em Nguyễn Văn
Đức sau đó có sự tiến bộ rõ rệt về nhiều mặt: đi học chuyên cần, học tập tốt, chấp
hành tốt các quy định của lớp, của trường,…Em còn được các thầy cô nhận xét,
khen ngợi nhiều hơn trong vở.) Và tôi cũng không còn nghe thấy các thầy cô phàn
nàn về học sinh của lớp mình nữa mà thay vào đó là những lời khen: Lớp học
ngoan, chăm chỉ; các em rất lễ phép, tích cực trong học tập và hoạt động giáo dục.
Thứ sáu: Tận dụng tối đa sự tác động của môi trường xã hội:
Có nhiều học sinh bộc phát nhân cách của mình một cách nhanh chóng mà
bề ngoài khó nhận biết.
Trường TH Lê Hồng Phong
8
GV: Nguyễn Thị Kim Anh
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh lớp 5
Ở trường, việc học tập của các em có dấu hiệu của một sự khủng hoảng
như: học không vào, trốn học, không hài lòng với sự nhắc nhở của thầy cô, nhất là
sự nổi lên rầm rộ của phong trào chơi game đang diễn ra phổ biến.
Ở nhà, các em làm cho cha mẹ phải trăn trở, lo lắng và không nghe lời dạy
dỗ của cha mẹ, hay lơ đễnh không thèm để ý bất cứ chuyện gì cả.
Đối với những trường hợp trên, giáo viên cần linh động các biện pháp giải
quyết, bảo đảm mối quan hệ gắn bó giữa gia đình, nhà trường, tăng cường biện
pháp thuyết phục mà không chê trách, răn đe, trách phạt. Để hướng các em hòa
nhập cùng tập thể lớp, có thể phân công các em đảm trách một nhiệm vụ nào đó
trong lớp hay ghi tên, động viên các em tham gia vào đội tuyển của các môn thể
thao hay các phong trào khác trong hoạt động của lớp học, của nhà trường. Từ đó,
9
GV: Nguyễn Thị Kim Anh
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh lớp 5
góp tôi cũng xin với nhà trường miễn hết cho em. Các khoản của lớp, bản thân tôi
hỗ trợ cho em phần nào còn nữa là sự hỗ trợ của cả tập thể lớp.
Mặt khác, đối với những em có mặc cảm do có sự khác biệt về thành phần
dân tộc (Kinh, Ê-đê …) hoặc do chưa thích nghi với môi trường như: chuyển
trường, lưu ban thì lúc này vai trò của giáo viên rất quan trọng. Giáo viên sẽ lồng
ghép giáo dục khi dạy một số bài Địa lí lớp 4, bài Dân cư nước ta (Địa lí lớp 5) .
Giáo viên cũng có thể kể câu chuyện “Kinh và Ba na đều là anh em” để hướng tới
sự đoàn kết là một. Bên cạnh đó, những cử chỉ, giọng nói của giáo viên tạo nên sự
gần gũi giữa hai mối quan hệ là rất cần thiết. Một cái xoa đầu, một lời hỏi thăm là
bản thân giáo viên đã tạo cho học sinh một sự tin tưởng, dễ gần. Lòng cảm mến
của học sinh đối với giáo viên, giúp các em xóa đi những mặc cảm, tự ti để hòa
nhập với tập thể tốt hơn và ý định chán nản, bỏ học, nghỉ học sẽ dễ dàng xóa đi
trong đầu óc non nớt của các em.
Có các em: Y Sa Muel Niê, Y Huy Byã, H Nang Êban,… những ngày đầu
nhận lớp, thấy các em có vẻ rụt rè. Tôi âm thầm theo dõi và tìm hiểu nguyên nhân
thì được biết hoàn cảnh của các em ấy khá phức tạp. Y Huy có bố mẹ đã li dị, em
ấy ở với bà ngoại và dì ruột đang học THCS. Y Sa Muel, bố mẹ đi làm ở Thành
phố Hồ Chí Minh, em ở với bà ngoại. H Nang gia đình thuộc hộ nghèo, em còn
thường xuyên bị chảy mồ hôi ở tay và chân, …Học lực của 3 em đều ở mức yếu
(qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm). Thỉnh thoảng các em ấy lại nghỉ học mà
không có lí do. Tôi đã trò chuyện riêng với từng em, hỏi han về mọi chuyện và
động viên các em. Bên cạnh đó tôi cũng gặp trực tiếp dì của Y Huy, mẹ của H
Ngoài ra, cần nêu gương các anh, chị học sinh những năm trước dù đầu
năm còn yếu kém nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng đến cuối năm cũng đã đạt loại
Khá, Giỏi để củng cố lòng tin nơi các em.
Mời cha mẹ học sinh tham gia vào tiết sinh hoạt lớp để nắm bắt được tình
hình học tập và rèn luyện của con em mình.
Ví dụ: Trong năm học, tôi có tổ chức tiết sinh hoạt tập thể theo nhu cầu của
đông đảo học sinh trong lớp. Thay vì múa hát, tìm hiểu lịch sử,… tôi tổ chức thi
đấu một số nội dung thể thao theo sở thích của các em như nhảy dây, đá cầu, cầu
lông,…. Các em rất hào hứng và luôn mong muốn được cô tổ chức như thế nên
ngoài việc hăng say học tập thì các em cũng tích cực rèn luyện ở lớp, ở nhà. Từ
đó, một số em quên hắn những trò chơi vô bổ và ham đến trường hơn.
Thứ tám: Tạo môi trường giáo dục tốt
Cùng học sinh trang trí lớp học, các góc học tập thật sinh động., khuyến
khích lấy ý tưởng của các em.
Mỗi ngày bước vào lớp, tôi đều quan sát cả lớp. Thấy các em có mặt đầy đủ
là lòng tôi rất vui. Nhất là những hôm thời tiết khắc nghiệt như: mưa, gió, … Những
hôm ấy, tôi cho lớp hoan nghênh bằng một tràng pháo tay để động viên khích lệ tinh
thần các em. Trong giờ dạy, tôi đầu tư soạn giảng phân hóa theo đối tượng học sinh
sao cho phù hợp với trình độ mọi học sinh trong lớp - nhất là những em học yếu
nhằm kích thích học sinh hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn. Lồng ghép những
câu chuyện thực tế mang tính giáo dục vào các tiết dạy để tạo hứng thú cho các em
trong mỗi giờ học.
Tôi cũng thật sự hòa nhập cùng các em trong giờ dạy hoạt động ngoại khoá
hay trò chơi của đố vui qua hình thức Giải ô chữ trong các tiết Ôn tập …
Với trường lớp khang trang như hiện nay, đội ngũ giáo viên nhiệt tình, sự
quan tâm của Ban Giám hiệu, sân chơi rộng rãi thoáng mát, “lớp học như là nhà”
đó là một thuận lợi rất lớn để xây dựng môi trường học tập tốt cho học sinh vui
chơi, học tập. Phải tùy hoàn cảnh cụ thể, tạo khung cảnh giáo dục tốt làm cho học
sinh ngồi trong lớp học thấy vui tươi, thích thú và được bày tỏ ý kiến của mình
với bạn, với cô, không nặng nề, sợ sệt. Luôn cùng nhau chăm sóc, lao động, làm
hình thức thi đua khen thưởng để khích lệ tinh thần học tập của các em.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Mỗi biện pháp có chức năng, vai trò riêng nhưng giữa chúng có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau, biện pháp này hỗ trợ, bổ sung cho biện pháp kia. Tất cả tạo thành
một mắt xích không thể tách rời nhau. Đi sâu vào phân tích ta thấy việc phổ biến nội
quy trường lớp tới học sinh và phụ huynh ngay từ đầu năm các em sẽ có ý thức đi học
đều. Từ đó các em có thể khắc phục được những khó khăn trong học tập để rồi thoát
khỏi sự ti, mặc cảm. Những em có hoàn cảnh khó khăn được sự quan tâm của thầy
cô, bạn bè khi tham gia các tiết sinh hoạt tập thể, trang trí lớp,… các em sẽ được thể
hiện năng khiếu, năng lực, sở thích của bản thân. Và đó cũng chính là những giải
pháp thiết thực giúp duy trì sĩ số học sinh. Tất cả cần được thực hiện xen kẽ, nhịp
nhàng trong mỗi hoạt động giáo dục của quá trình giáo dục.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Kết quả năm học 2015-2016:
Kết quả năm học Sĩ số Nữ
Dân tộc Tỉ lệ chuyên cần/ngày Duy trì sĩ số
Đầu năm học
25
10
12
92- 96%
100%
+ Về phẩm chất: Đạt 100%.
+ Cuối năm: Hoàn thành chương trình lớp 5: 100%
Không có học sinh nào bỏ học giữa chừng.
Như vậy, với các giải pháp và biện pháp duy trì sĩ số học sinh đã phát huy tính
tự giác, tích cực trong việc thực hiện chuyên cần, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục của lớp lên một cách rõ rệt. Học sinh đạt thành tích cao hơn về mặt kiến thức; có
năng lực và phẩm chất ngày càng phát triển đáp ứng được nhu cầu học tập ở các lớp
học cao hơn. Các em ngày càng hào hứng mỗi khi đến trường, tự tin hơn trong giao
tiếp, mạnh dạn bày tỏ các ý kiến của bản thân trước tập thể,…
Những giải pháp đề ra nhằm duy trì sĩ số học sinh, nâng cao chất lượng
giáo dục. Với những giải pháp đó còn có tác dụng tranh thủ sự tham gia của phụ
huynh vào quá trình giáo dục học sinh. Và theo đánh giá của bản thân, tôi thấy các
giải pháp này có thể áp dụng vào tất cả các lớp học, cấp học; theo chương trình
VNEN hay hiện hành đều tốt, nó sẽ mang lại một kết quả giáo dục tốt.
Cần tạo được môi trường thân thiện trong nhà trường. Sự gắn bó mật thiết
giữa thầy với thầy, thầy với trò, giữa học sinh với học sinh,...tạo được không khí
vui vẻ học tập, vui chơi trong suốt thời gian ở trường thì chắc chắn các em sẽ đến
lớp đến trường đều đặn, bằng sự tự giác, tích cực và sẽ cảm thấy tiếc nuối khi
phải bỏ học, nghỉ học.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trong công việc duy trì sĩ số học sinh, muốn thành công hay không thì khi tổ
chức, nên thực hiện đến nơi, đến chốn, phải kiên trì, không nóng vội chạy theo thành
tích. Khi thực hiện, Ban Giám hiệu phải thường xuyên theo dõi kiểm tra việc duy trì
sĩ số và động viên giáo viên kịp thời để điều chỉnh khi có sự chệch hướng.
Trường TH Lê Hồng Phong
13
trợ đúng mức của toàn xã hội. Tôi xin mạnh dạn có một số đề xuất như sau:
* Đối với Đội thiếu niên:
- Tổng phụ trách Đội cần tăng cường hơn nữa những buổi sinh hoạt ngoài
giờ cho các điểm trường lẻ (phân hiệu)
* Đối với nhà trường:
- Có hình thức khen thưởng kịp thời đối với lớp, đối với giáo viên chủ
nhiệm không có học sinh bỏ học.
* Đối với chính quyền các cấp:
Trường TH Lê Hồng Phong
14
GV: Nguyễn Thị Kim Anh
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh lớp 5
Luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ về vật chất cho những em học sinh nghèo và
những em có hoàn cảnh khó khăn để các em được đến trường như các bạn khác và
tham gia vận động học sinh bỏ học đi học lại cùng với giáo viên chủ nhiệm.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã đúc kết được trong quá trình
công tác. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng Giám khảo và
toàn thể đồng nghiệp để đề tài của tôi tiếp tục được hoàn thiện hơn./.
Ea na, ngày 17 tháng 3 năm 2017
Người viết
Nguyễn Thị Kim Anh
Trường TH Lê Hồng Phong
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN CẤP HUYỆN
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
Trường TH Lê Hồng Phong
17
GV: Nguyễn Thị Kim Anh