I. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài.
Thông tư 22 của Bộ GD&ĐT ban hành ngày 06/11/2016 trên cơ sở hoàn thiện
Thông tư 30. Thông tư đã có một số sửa đổi, bổ sung về đánh giá học sinh, trong đó
có một số quy định mà bản thân tôi rất quan tâm đó là về việc đánh giá thường
xuyên và đánh giá định kì. Đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất. Đánh giá
định kì về học tập. Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên,
khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát
huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan. Đánh giá sự
hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh. Đánh giá thường xuyên
về học tập: Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa
đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi
cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời. Học sinh tự nhận xét và tham gia
nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm
vụ học tập để học và làm tốt hơn. Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi với giáo
viên về các nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với
giáo viên động viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện. Việc ra đời Thông tư 22 là
cần thiết để có bước đổi mới phù hợp thực tế hơn, tạo ra khí thế mới cho giáo viên
và học sinh Tiểu học.
Trường Tiểu học Lê Hồng Phong nhiều năm liền dạy học theo mô hình trường
học mới (VNEN) các giáo viên luôn thực hiện đúng theo tinh thần của thông tư, đã
không ngừng cố gắng vươn lên, có những tiến bộ vượt bậc và đạt được những thành
tích đáng kể. Được làm việc trong một môi trường như vậy bản thân tôi luôn suy
nghĩ: Làm thế nào để đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung, nâng cao chất
lượng giáo dục lớp mình chủ nhiệm nói riêng ? Làm thế nào hoàn thành tốt nhiệm
vụ giáo dục của năm học 2016 – 2017? Đó là những câu hỏi mà tôi luôn trăn trở.
Hiện nay chủ trương của ngành là dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng của
môn học. Thông tư 22 đặc biệt chú trọng việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học
1
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, trực quan, nêu gương,
hỏi đáp ...
c) Phương pháp thống kê toán học.
II. Phần nội dung
1. Cơ sở lý luận
Theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/10/2010 và Thông tư số
50/2012/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Sửa đổi,
bổ sung Điều 40 của Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Trường Tiểu học quy định độ
tuổi của học sinh tiểu học từ sáu đến mười bốn tuổi (tính theo năm). Đây là lứa tuổi các
em rất hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và
điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quanh mình.
Chính vì vậy giáo viên chủ nhiệm cần nắm bắt được những đặc điểm tâm lí của học
sinh để từ đó đưa ra những biện pháp giáo dục phù hợp giúp các em hoàn thiện nhân
cách. Tạo một môi trường lớp học mà ở đó các em vừa cảm thấy thoải mái, dễ chịu
nhưng cũng phải tuân theo những nội quy, quy định phù hợp với lứa tuổi để các em
ngày một tiến bộ hơn. Vậy nên trong quá trình làm công tác chủ nhiệm tôi luôn xây
dựng và duy trì một môi trường học tập tốt giúp học sinh của mình hoàn thành một
cách hiệu quả mục tiêu đã định. Muốn thực hiện tốt đòi hỏi mỗi chúng ta phải có kĩ
năng sư phạm, năng lực chuyên môn vững vàng. Đó là một trong những yếu tố quan
trọng đảm bảo sự thành công của người giáo viên.
3
Theo tinh thần của Thông tư 22, giáo viên chủ nhiệm: Chịu trách nhiệm
chính trong việc đánh giá học sinh, kết quả giáo dục học sinh trong lớp; hoàn
thành hồ sơ đánh giá học sinh theo quy định; nghiệm thu, bàn giao chất lượng
của học sinh nghiêm túc hơn, kĩ năng tự học nhiều hơn. Vì vậy qua một thời gian
làm quen lớp, với sự quan sát, khảo sát chất lượng học tập tôi tổng hợp được kết quả
như sau:
Tổng
Môn
số
học
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàm
thành
SL
%
SL
%
SL
%
19
Kết quả trên có thể xuất phát từ nhiều lí do: Sau hơn hai tháng hè các em tự
do bay nhảy, không phải đến lớp đến trường nên phần nào đã quên kiến thức. Nề
nếp đầu năm học còn lộn xộn, một số em chưa quen với việc dậy sớm để đi học
đúng giờ nên vẫn con tình trạng học sinh đi học trễ. Sự chuẩn bị bài vở, đồ dùng học
tập ở nhà của các em chưa chu đáo. Ý thức tự giác hoàn thành nhiệm vụ học của một
vài cá nhân còn hạn chế. Hội đồng tự quản làm việc hiệu quả chưa cao.
Chính vì vậy mà bản thân tôi luôn trăn trở tìm ra được những biện pháp để
giáo dục học sinh phải đạt chuẩn KTKN của các môn học; hoàn thành tốt và đạt
được các năng lực, phẩm chất theo yêu cầu của lớp 4 để nâng cao chất lượng giáo
dục. Hội đồng tự quản làm việc tích cực và tự giác, các em có thể tự điều khiển được
lớp học thậm chí không cần sự tham gia của giáo viên. Các em là học sinh dân tộc
thiểu số phát triển vốn ngôn ngữ và phát triển thêm các năng lực, phẩm chất, mạnh
dạn, tự tin trong giao tiếp, ứng xử . Học sinh phấn khởi, hào hứng khi đến trường,
tích cực tham gia vào các hoạt động học tập. Các em không chỉ có ý thức tự giác
trong học tập như lo học bài cũ, chuẩn bị bài mới, đi học chuyên cần mà còn hỗ trợ
nhau cùng tiến bộ ( em biết nhiều giúp em biết ít). Các em gần gũi với cô hơn, sẵn
5
sàng chia sẻ mọi chuyện, coi cô như là người chị, người bạn của mình; được làm
việc nhiều hơn, yêu thích việc học; các em được Học ⇒Hỏi ⇒Hiểu ⇒ Thực hành
= > Vận dụng.
Mỗi chúng ta làm công tác chủ nhiệm muốn bảo đảm công tác chuyên môn
lẫn công tác chủ nhiệm thật tốt, đòi hỏi phải có tâm và có tài. Tâm của người GVCN
là xem các em như con để không ngại tốn thời gian, công sức cho lớp mình phụ
trách. Tài của GVCN là tùy theo đặc điểm, tình hình lớp mà có những biện pháp phù
hợp để quản lý và giáo dục lớp mình chủ nhiệm.
Đầu năm, khi nhận lớp việc đầu tiên tôi làm là nắm bắt thông tin cá nhân từng
em qua lý lịch trích ngang theo mẫu in sẵn. Từ đó tôi phân hóa các đối tượng học
được chăm sóc và yêu thương. “Chính sự quan tâm, lòng yêu thương và sự chia sẻ
của người thầy đã giúp những đứa trẻ phát huy hết khả năng của chúng.” – theo John
O’brien.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
b. 1 Nắm thông tin học sinh
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đề ra các biện pháp giáo dục học sinh
phù hợp, đạt hiệu quả thì trước hết giáo viên phải hiểu học sinh, phải nắm được đầy
đủ các thông tin cần thiết về từng học sinh. Do vậy, ngay từ ngày đầu nhận lớp, tôi
thực hiện ngay công tác điều tra thông qua mẫu phiếu điều tra của trường. Tôi phát
cho mỗi em một phiếu điều tra và yêu cầu các em điền đầy đủ thông tin trong phiếu.
Qua phiếu điều tra, tôi nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng học
sinh, hiểu một phần về học sinh của mình, điều đó rất có lợi cho tôi trong công tác
giảng dạy và giáo dục.
Ví dụ: em Đỗ Thị Ngọc Quyên bố gặp tai nạn bị mù phải tham gia vào Hội
người mù của tỉnh nhà đi kiếm tiền gởi về cho mẹ em nuôi 3 con ăn học. Em H’ Dên
bố mất sớm, mẹ nghiện rượu thường xuyên đánh đập em. Em H’ SaRa bị bệnh tim
bẩm sinh...Trong lớp có tổng số 7 hộ nghèo.
Căn cứ vào tình hình của lớp dưới qua dự giờ, thăm lớp và các bài kiểm tra,
Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp, lời nhận xét trong học bạ... để biết
7
được học lực của từng em, biết các em mạnh ở điểm nào, hạn chế ở đâu để có kế
hoạch trong công tác giảng dạy.
Ví dụ: em H’Kim Tha hát hay múa dẻo. Em H’Tra rất thích học môn Tiếng
Anh. Em Nguyễn Văn Tài nhút nhát, sợ giao tiếp trước đám đông...
Qua điều tra về thông tin học sinh giúp tôi định hướng được kế hoạch chủ
nhiệm và kế hoạch dạy học để từng bước giúp các em hoàn thiện hơn những hạn
chế của bản thân và phát huy hết năng lực vốn có của mình
b. 2 Hoàn thiện tổ chức lớp và tiêu chí thi đua
lớp.
- Các hoạt động khác (10 điểm): Tham gia mọi phong trào do trường, lớp tổ
chức.
Các nhóm trưởng, ban tự quản của lớp tổng hợp, căn cứ vào kết quả đạt được
để xếp loại thi đua cá nhân, nhóm.
Xây dựng Hội đồng tự quản là một việc làm hết sức quan trọng, nó đã góp
nên sự thành công của tôi trong việc thực hiên nhiệm vụ của đề tài. Việc xây dựng
tiêu chí thi đua cũng có sự điều chỉnh và thay đổi, bổ sung kịp thời tùy theo tình
hình thực hiện nội quy, nề nếp và ý thức rèn luyện của học sinh. Giúpcho mỗi em có
cơ sở để phấn đấu và việc làm này cũng giúp giáo viên thực hiện dễ dàng trong việc
đánh giá thường xuyên.
b. 3 Duy trì sĩ số, đảm bảo tỉ lệ chuyên cần
Để việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh thì việc duy trì sĩ số/ ngày là
việc làm quyết định vì học sinh có đến lớp học thì các em mới thiếp thu được kiến
thức từ đó mới có kiến thúc để phát triển toàn diện.
Với điểm trường mà tôi đang dạy, học sinh phần đa là con em người dân tộc
thiểu số ( 12/ 19 học sinh), gia đình có hoàn cảnh khó khăn ( hộ nghèo 5 em, có em mồ
côi mẹ cha đi lấy vợ phải ở với ông bà; có em mồ côi cha, mẹ lại nghiện rượu;... ). Cha
mẹ các em phải lo bữa ăn hàng ngày cho gia đình, một số phụ huynh ít quan tâm đến
việc học tập của các em nên việc các em nghỉ học, bỏ học ảnh hưởng đến việc tiếp thu
bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi. Chính vì lẽ đó để chất lượng giáo dục
9
được nâng cao thì việc duy trì sĩ số, đảm bảo tỉ lệ chuyên cần là vô cùng quan trọng.
Vì vậy để duy trì sĩ số, đảm bảo tỉ lệ chuyên cần tôi đã thực hiện như sau:
Ví dụ: Phổ biến nội quy lớp ngay tuần đầu của năm học. Quy định rõ: học sinh
phải đi học đều và đúng giờ, nghỉ học phải có lí do và được cha mẹ xin phép. Ngay
buổi họp phụ huynh học sinh đầu năm tôi thông báo cho phụ huynh biết về quy định
và nhờ phụ huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở. Học sinh đến trường tự mình đánh
trí phục vụ cho các môn học (Môn Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử - Địa lí,…).
Ví dụ: Trong giờ học nhóm trưởng đến góc học tập lấy phiếu bài tập hoặc bài tập
nâng cao. Giờ ra chơi học sinh vào góc thư viện đọc sách báo. Các em trưng bày
những sản phẩm học tập để các bạn chia sẻ. Các em tới thư viện xanh chăm sóc cây
xanh, khám phá thiên nhiên… Những góc công cụ tạo điều kiện để các em chủ động
tìm tòi tư liệu, thông tin, được trình bày, biểu diễn những kết quả học tập. Phụ
huynh cũng được đến thăm các em học như thế nào và có điều kiện có thể giúp đỡ
các em. Học sinh được học tập ngay trong quá trình trang trí các góc.Việc học đã
không đơn giản là đọc chép, mà có học, có nghiên cứu, có trình bày, báo cáo. Các
em có điều kiện học tập với các tài liệu, các kiến thức mà mình và bạn tìm kiếm
được.
Vì vậy việc xây dựng các nhóm học tập cùng sở thích với mô hình VNEN,
chủ yếu việc học của học sinh là học nhóm để cùng nhau thi đua. Ví dụ: Mỗi nhóm
tôi phân một nhóm trưởng, một quyển sổ theo dõi học tập và các mặt hoạt động của
từng thành viên trong nhóm. Khuyến khích tinh thần đoàn kết của mỗi nhóm để các
thành viên giúp đỡ lẫn nhau sao cho các bạn học chậm hơn theo kịp, nếu các bạn
chưa hiểu bài thì nhóm trưởng phân công bạn cùng trong nhóm giảng lại cho bạn
hiểu. Đồng thời giao cho nhóm trưởng kiểm tra việc chuẩn bị bài vở ở nhà, cũng
như đồ dùng học tập, sách vở của các bạn trong nhóm. Khi giáo viên giao nhiệm vụ
tránh trường hợp HS chưa tự giác nhóm trưởng sẽ có trách nhiệm nhắc nhở bạn, nếu
bạn không thực hiện thì báo cáo cô giáo kịp thời.
Mục tiêu của mỗi tiết hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đều chú trọng đến
hoạt động thực hành kĩ năng sống. Nếu học sinh chỉ quan tâm vào việc học tập các
11
môn chính thức mà ít tham gia các hoạt động ngoại khóa, các phong trào văn hóa
văn nghệ, thể dục thể thao thì các em sẽ thiếu linh hoạt, thiếu tự tin khi đứng trước
đám đông hoặc đứng trước lớp để trình bày một bài hát hay một vấn đề nào đó. Và
ngược lại nếu được tham gia tốt các phong trào thì các em sẽ xử lí vấn đề nhanh
đoạn. Trong các môn học tôi luôn thiết kế thêm một số bài tập ở các mức độ khác
nhau để dành cho các đối tượng học sinh. Và đây là một hình ảnh dạy học chưa phân
hóa đối tượng học sinh mà tôi sưu tầm.
Với hình thức dạy học này, tôi phải xây dựng kế hoạch bài dạy của mình sao
cho phù hợp nhất có thể, nhằm công nhận các điểm khác biệt của học sinh trong lớp.
Tôi mạnh dạn điều chỉnh nội dung để đáp ứng năng lực, kinh nghiệm, và mối quan
tâm của học sinh. Đưa ra nhiều cách thức khác nhau để đạt được mục tiêu bài học.
Cho phép học sinh được chứng minh hiểu biết của mình theo nhiều cách có ý nghĩa.
Cho phép tồn tại sự đa dạng trong môi trường học tập dựa vào nhu cầu của từng học
sinh. Chính vì vậy việc phân nhóm học sinh có nhu cầu hoặc sở thích tương tự ở trên
đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong công tác giáo dục học sinh.
b. 6 Phối hợp với các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh
13
* Phối hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường
- Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường bằng việc thường xuyên báo cáo
tình hình của lớp và kết quả giáo dục, nguyện vọng của học sinh với Ban giám hiệu,
trong trường hợp cần thiết phải đề xuất, xin ý kiến về biện pháp giáo dục và đề nghị
với Ban giám hiệu cùng phối hợp thống nhất tác động sư phạm đối với từng cá nhân
đó.
- Phối hợp với giáo viên bộ môn, trao đổi với giáo viên bộ môn về tình hình
học tập các phân môn khác để có những biện pháp giáo dục kịp thời và đánh giá kết
quả phấn đấu toàn diện của học sinh như: kết quả học tập, rèn luyện thể chất, bồi
dưỡng óc thẩm mĩ và kết quả tu dưỡng đạo đức của học sinh.
- Phối hợp với các tổ chức Đoàn, Đội (trong lớp có 1 HS tham gia vào BCH
Liên đội) giúp các em có điều kiện tham gia hay gia nhập tổ chức này từ đó giúp các
em tự tin hơn và dễ hoà nhập vào môi trường tập thể.
- Phối hợp với các lực lượng giáo dục: bảo vệ, thư viện, y tế. Thông qua các
độ, khéo léo với thái độ và tình cảm tôn trọng, yêu thương chân thành trong quan hệ
thầy trò khi nói chuyện giúp các em cởi mở hơn, tự tin hơn và giáo viên nắm bắt
được nhiều hơn. Người giáo viên phải gây được thiện cảm và có uy tín với học sinh
đó. Giáo dục học sinh bằng viễn cảnh:
Ví dụ: Phải phân tích, giải thích, minh chứng cụ thể những sự việc xảy ra
hàng ngày trong cuộc sống gia đình và ngoài xã hội mà các em thấy được, khơi dậy
lòng hiếu thảo của một người con khi chính mắt nhìn thấy cha mẹ vất vả kiếm tiền
lo cho con ăn học với mong muốn con mình học tập tốt – có nghề nghiệp ổn định –
người có ích cho xã hội sau này, để từ đó các em hiểu rõ mục đích, lý do mà các em
phải đi học, một khi các em đã nhận thức đúng đắn về việc học tập của mình rồi thì
sẽ dễ dàng hướng các em đến ước mơ, hoài bão về tương lai sự nghiệp của bản thân
mình.
Tôi quan tâm tới nguyện vọng, quyền lợi của mỗi học sinh để phát triển tối đa
tiềm năng. Tôi đặt niềm tin và giao việc phù hợp với khả năng của mỗi em học sinh
bằng việc đề cao mặt tốt, khả năng tốt của học sinh để các em phấn khởi và phát huy
15
cái tốt, trên cơ sở đó khắc phục dần những hạn chế của bản thân, tạo điều kiện để
các em đóng góp và chứng minh mình có khả năng đóng góp cho tập thể, không mặc
cảm, tự ti. Tôi theo dõi thường xuyên và động viên kịp thời những biểu hiện tốt (dù
là nhỏ hoặc mới manh nha), tuyên dương khen ngợi khi học sinh thực hiện công việc
đạt kết quả. Có thể đánh giá học sinh này cao hơn một chút so với kết quả đã đạt
được từ đó học sinh sẽ tự khẳng định mình và tự thấy phải cố gắng hơn để thực sự
xứng đáng với sự khen ngợi đó, từ đó các em tự có nhu cầu tự hoàn thiện mình vì
thế giáo viên phải là người bạn tâm tình với những tình cảm chân thành, thương yêu,
tôn trọng học sinh, mong muốn học sinh tiến bộ và tạo cho học sinh có niềm tin đối
với bản thân.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Mỗi giải pháp, biện pháp đều có sự tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau trong
Sau mỗi tiết học, hoạt động học tôi đã nhận xét về năng lực, phẩm chất của
những em có tiến bộ vượt bậc, những em đã phát huy năng khiếu, sở trường của
mình đã bộc lộ được để khích lệ, động viên kịp thời. Với những em chưa trả lời
được các câu hỏi, các hành vi thực hiện chưa đúng thì tôi tư vấn, động viên để các
em nhận ra và sửa chữa qua đó các em sẽ nhớ lời tư vấn của cô để tiết sau hoàn
thành tốt hơn, tiến bộ hơn. Mỗi học sinh chắc chắn sẽ có một số ưu, khuyết điểm
cũng như mặt mạnh, mặt yếu nhất định vì vậy người giáo viên cần có những giải
pháp, biện pháp giúp các em phát huy mặt mạnh và khắc phục những mặt còn hạn
chế để các em được phát triển một cách toàn diện.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi
và hiệu quả ứng dụng.
Từ việc thực hiện đồng bộ những biện pháp trên, cuối học kì 1 lớp 4D đã ổn
định được nề nếp, duy trì sĩ số. Trong học tập so với đầu năm học đã có sự tiến bộ,
cụ thể như sau:
Giữa kì I
Môn
Tổng
số học
Hoàn thành tốt
SL
%
Hoàn thành
SL
%
36,85
7
36,85
5
26,3
Cuối học kì I
Tổng
Môn
số học
sinh
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
%
SL
%
42,1
3
15,8
Khoa học
19
6
31,6
10
52,6
3
15,8
LS-ĐL
19
6
31,6
Mĩ thuật
Kĩ thuật
Thể dục
SL
%
Số lượng
%
19
3
15,8
14
73,7
2
10,5
19
3
12
63,2
0
0
số học
vụ, tự quản
Hợp tác
Tự học
GQVĐ
Tốt
Đạt
Cần cố gắng
SL
%
SL
%
Số lượng
19
5
26,3
11
57,9
3
15,8
sinh
Tự phục
Chưa hoàn thành
%
Tổng
Năng lực
Hoàn thành
SL
sinh
%
Số lượng
%
19
7
36,85
9
47,4
3
15,8
19
6
31,6
10
52,6
10,5
sinh
Chăm học,
Tốt
Học sinh phấn khởi và hứng thú mỗi khi đến lớp, đến trường. Sĩ số lớp duy trì
100 %. Học sinh đi học chuyên cần. Các em luôn có ý thức tự quản và hoàn thành
các nhiệm vụ học tập. Chất lượng giáo dục hai mặt của lớp được nâng lên, hiện
tượng học sinh lười học, chưa ngoan không còn nữa. Các em chấp hành và tham gia
tất cả các phong trào thi đua của lớp, của trường nhiệt tình và hiệu quả. Luôn phát
huy được tinh thần đoàn kết, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau. Những kĩ năng sống cần
thiết của các em được hình thành và phát triển: kĩ năng hợp tác, kĩ năng lắng nghe,
kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tổ chức và điều khiển các hoạt
động tập thể, kĩ năng đánh giá và tự đánh giá,… Có được kết quả trên là nhờ sự nỗ
lực từ nhiều phía tuy nhiên không thể không nhắc đến sự phối hợp và ủng hộ của
cha mẹ HS, các tổ chức trong nhà trường và sự nỗ lực của chính các em.
Tôi đã có được những kinh nghiệm để xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế
hoạch dạy học cụ thể, đưa ra biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp.
Qua đó có kế hoạch phối hợp hoàn hảo với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường
để góp phần cùng nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Tôi cũng đã chắt lọc được
những kinh nghiệm quý báu mà mình đã thực hiện làm tiền đề cho những năm học
sau. Trong quá trình thực hiện tôi vừa học vừa làm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
III. Phần kết luận, kiến nghị.
19
1. Kết luận
Muốn làm tốt công tác nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 4 đòi
được sự chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp. Tôi hy vọng rằng với một số biện pháp
mà tôi còn bỏ ngỏ, chưa khai thác hết sẽ được đồng nghiệp nghiên cứu và góp ý
thêm để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Nếu có điều kiện năm học tới tôi sẽ tiếp
tục nghiên cứu thêm những giải pháp khác để hỗ trợ và làm phong phú thêm cho đề
tài này.
2. Kiến nghị
- Ngành tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất đến từng phòng học như: bàn ghế, thiết
bị dạy - học cho giáo viên và học sinh đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để
việc dạy học đạt kết quả tốt hơn.
- Nhà nước tiếp tục có chính sách hỗ trợ học sinh nghèo, học sinh là người
dân tộc thiểu số về điều kiện vật chất để các em có cơ hội đến trường.
Người thực hiện
Nguyễn Thị Hương
21
MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1
2
2
2
2
3
3
4
7
7
7
16
17
20
20
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Để nghiên cứu, thực hiện đề tài này, tôi đã tham khảo thêm một số tài liệu
sau:
1. Điều lệ trường tiểu học - bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo (Ban hành kèm
theo quyết định số 51/2007 QĐ - BGDĐT NĂM 2007)
22
2. Tài liệu tập huấn công tác chủ nhiệm lớp cho cán bộ quản lý và giáo viên
tiểu học (Năm học 2013- 2014 ) - do Hoàng Đức Minh (chủ biên)
3.Thông tư số 30/2014/TT- BGDĐ về việc ban hành Quy định đánh giá học
sinh tiểu học.