CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng giải toán
cho học sinh lớp 4”.
I.SƠ YẾU LÍ LỊCH
-Họ và tên: Dương Văn Hình Nam
-Ngày, tháng năm sinh: 02/9/1972
-Dân tộc: Tày Tôn giáo: Không
-Quê quán: Hương Sơn – Quang Bình – Hà Giang
- Chỗ ở hiện nay: Hương Sơn – Quang Bình – Hà Giang
-Trình độ văn hóa: 12/12
-Trình độ chuyên môn: 9+3
- Ngày bắt đầu tham gia công tác: 15/9/1995
-Ngày gia nhập các đoàn thể: Đảng: 16/9/2003
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: 26/3/1987
-Chức vụ: Giáo viên.
-Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hương Sơn – Quang Bình – Hà Giang
II.MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Giúp HS phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập
vừa sức với HS.
- Huy động tính tích cực của học sinh trong hoạt động học để các em nắm chắc
và vận dụng thành thạo các nội dung trong từng bài, góp phần phát triển năng lực tư
duy và năng lực thực hành của học sinh.
- Nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế, để giúp
học sinh lĩnh hội được đầy đủ các kiến thức từ những phương pháp dạy học
III.NHỮNG CĂN CỨ VỀ MẶT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI.
1.Căn cứ về mặt lí luận:
Trong chương trình môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm số giờ rất lớn.
Việc sử dụng phương pháp dạy học ( PPDH ) giống như đồ nghề của người thợ mộc,
mong muốn chúng ta phải gây dựng, kèm cặp ngay từ bậc Tiểu học là quan trọng
nhất. Như chúng ta đã biết: Toán là “ sai một li đi một dặm ”, có nghĩa là Toán rất
cần sự tuyệt đối chính xác.
Quan điểm chương trình mới cần thực hành, vận dụng, nên nói chung nội dung
chương trình thường tinh giảm, tập chung vào các kiến thức kỹ năng cơ bản bám sát
thực tế, tích hợp được nhiều mặt giáo dục.
Chương trình toán mới đã có những đổi mới để tăng cường thực hành và ứng
dụng kiến thức mới nhằm giúp học sinh học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo
năng lực của học sinh. Để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, trước hết giáo viên
phải nắm vững mục tiêu, nội dung, khả năng có thể khai thác trong từng bài. Điều
quan trọng là giáo viên phải xây dựng những phương pháp huy động tính tích cực
của học sinh trong hoạt động học để các em nắm chắc và vận dụng thành thạo các nội
dung trong từng bài, góp phần phát triển năng lực tư duy và năng lực thực hành của
học sinh.
Nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế, để
giúp học sinh lĩnh hội được đầy đủ các kiến thức từ những phương pháp dạy học.
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi luôn trăn trở phải làm gì, làm như thế nào để các
em có hứng thú trong học tập, nhất là đối với môn Toán. Chính vì vậy tôi đã đi sâu
vào tìm hiểu “Biện pháp nâng cao chất lượng cho học sinh giải toán lớp 4”, giúp
các em nắm vững các kiến thức trong môn học này.
2.Căn cứ thực tiễn.
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của GV và HS là mối quan tâm có
tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn
học ở Tiểu học thì môn Toán được coi là trọng tâm và chiếm số tiết nhiều. Thông qua
việc học Toán giúp HS nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các
môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là
sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung toán đã có những đổi mới về nội dung,
tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp HS phát huy được năng lực, tích
cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với HS.
Để đạt được mục tiêu chương trình đã đề ra, GV phải nắm chắc mục tiêu, nội
hành, vận dụng nhiều: Dạy học dựa vào hoạt động học của học sinh.
Trong quá trình dạy học có thể nói người giáo viên còn chưa có sự chú ý đúng
mức tới việc làm thế nào để đối tượng học sinh nắm vững được lượng kiến thức.
Nguyên nhân là do giáo viên chưa nhiệt tình trong công tác giảng dạy cũng như chưa
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh. Tổ chức các hình thức dạy và học chưa phong phú và phù hợp với từng đối
tượng học sinh. Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng của học
sinh. Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải.
Nội dung mỗi bài học trước thường là cơ sở của bài học sau, việc giới thiệu bài
cũng hết sức quan trọng vì nó là một sự chuyển tiếp giữa mảng kiến thức cũ và
mảng kiến thức mới. Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên chưa đầu tư, các kiến thức
liên quan đến bài giảng chưa biết sử dụng bài trước để giới thiệu dẫn dắt lôi cuốn học
sinh một cách hấp dẫn vào bài mới. Ví dụ: Bài nào giáo viên cũng chỉ giới thiệu một
cách khô khan ( Hôm nay chúng ta học bài: Phép cộng phân số ( tiếp theo ) ). Khai
thác nội dung kiến thức giáo viên cũng chưa làm nổi bật được khi nào bắt đầu, khi
nào cao trào đỉnh điểm, khi nào kết thúc,…Cách đặt ra tình huống có vấn đề, tự nhớ
lại kiến thức cũ và vận dụng làm bài, chủ động, sáng tạo trong giờ học.
Ví dụ: Bài: “ So sánh hai phân số khác mẫu số ”. Giáo viên không cho học
sinh tự tìm cách làm để cho hai phân số có mẫu số bằng nhau mà yêu cầu luôn học
sinh quy đồng rồi so sánh tử số của 2 phân số mới. Hoặc bài: “ Diện tích hình thoi ”,
giáo viên chỉ yêu cầu tính diện tích dựa vào hình chữ nhật, chứ không yêu cầu các
em ghép hình rồi tự tìm cách tính dựa vào cách tính diện tích hình chữ nhật.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học không kém phần quan trọng . Đồ dùng dạy học
phong phú, lạ lẫm cũng thu hút học sinh chú ý vào bài giảng rất là nhiều, đặc biệt
những đồ dùng dạy học càng thu hút và huy động được nhiều các giác quan của học
sinh thì càng có hiệu quả. Một số giáo viên chỉ vẽ hình và cho học sinh quan sát, tìm
kiến thức mới trên hình: Không cho các em thao tác và như thế các em chỉ huy động
được giác quan thị giác ( nhìn lên bảng ) và thính giác ( nghe cô giảng bài ). Ví dụ
bài: “ So sánh hai phân số khác mẫu số ”. Học sinh so sánh trên hai băng giấy sẽ dễ
tiếp thu kiến thức hơn vì trực quan tác động được nhiều đến các giác quan của các
GV là người tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động học tập để giúp HS:
Khắc phục sự kémn khái quát, sự cứng nhắc của tư duy. Dựa vào tính trực quan cụ
thể trong tư duy của HS, GV cần khai triển các hoạt động mang tính chất thực tiễn,
HS phải được thao tác trên đồ dùng trực quan. Từ đó, các em sẽ tự phát hiện và giải
quyết nhiệm vụ học bài.
VD: Khi dạy bài “So sánh 2 phân số cùng mẫu số”
Nhiệm vụ của bài là HS phải xem xét 2 phân số đó có bằng nhau hay không và
nếu không bằng nhau thì phân số nào bé hơn, phân số nào lớn hơn.
Khi dạy bài này, tôi cho HS cắt 2 hình tròn bằng nhau. Mỗi hình tròn lại chia
làm 8 phần bằng nhau bằng cách gấp hình tròn đó thành 4 phần khít nhau. Ơ hình
tròn một, lấy
8
2
hình tròn, ở hình tròn hai lấy
8
3
hình tròn. HS sẽ gạch: Ở hình tròn
một là 2 phần; ở hình tròn hai là 3 phần. Sau đó tôi cho các em so sánh các phần gạch
chéo của 2 hình tròn. Qua phần so sánh, các em sẽ thấy:
)
8
2
8
3
(
8
3
8
2
>< hay
5
4
m
Nhìn hình vẽ, HS phải nêu được:
_ Hình vuông có S = 1m
2
_ Hình vuông có 15 ô, mỗi ô có S =
15
1
m
2
_ Hình chữ nhật (phần tô màu) chiếm 8 ô. Do đó diện tích hình chữ nhật bằng
15
8
m
2
. Từ đó HS neu được
15
8
3
2
5
4
=x
(m
2
).
Từ nhận xét trên, GV hướng dẫn HS dựa vào VD để rút ra quy tắc nhân 2 phân
số. GV lưu ý với HS: kết quả phép tính giải là phân số tối giản.
Sau khi HS đã biết cách nhân 2 phân số thì GV khích lệ HS thi đau học tập
_ Từ đó HS sẽ nêu ra được cách tính:
8
5
8
23
8
2
8
3
=
+
=+
Qua VD trên, HS sẽ rút ra cách cộng 2 phân số cùng mẫu số bằng cách lấy tử
số cộng với nhau và giữ nguyên mẫu số.
Ở bài phép cộng tiếp theo (tiết 115) là phép cộng 2 phân số khác
mẫu số.
Lúc này từ VD ở SGK, HS sẽ dễ dàng nêu được: muốn biết cả 2 bạn đã lấy
bao nhiêu phần của băng giấy màu thì phải thực hiện phép tính cộng:
3
1
2
1
+
Sau đo, tôi sẽ dẫn dắt các em bằng các câu hỏi gợi ý:
_ Nhận xét mẫu số của 2 phân số (2 phân số có mẫu số khác nhau)
_ Muốn thực hiện được phép cộng 2 phân số này ta phải làm gì? (Quy đồng
mẫu số)
Sau đó HS tự quy đồng mẫu số và lại đưa về phép cộng 2 phân số cùng mẫu số
như tiết trước.
Như vậy với phương pháp dạy học bài mới như trên, HS có điều kiện ôn tập
13
12
7
5
2
12
13
12
7
5
2
=+=+=
++=++
Ở bài này có thể một số HS vẫn thực hiện theo thứ tự thực hiện các phép tính
trong biểu thức mà vẫn chưa ra kết quả như trên nhưng tính như vậy là chưa hợp lý,
chưa nhanh. Lúc này, GV nên hướng dẫn HS áp dụng các tính chất đã học của phép
cộng để HS có thể tự tìm ra cách tính và vận dụng kiến thức đó để giải các bài tập
khác tương tự.
Hay ở tiết 124, bài tập số 4.
Tính rồi rút gọn:
5
4
3
5
Hoặc trong bài luyện tập của phép nhân phân số (tiết 124) thì GV
phải dẫn dắt HS nhớ lại kiến thức cuả HKI đó là:
_ Tính chất giao hoán của phép nhân.
_ Tính chất kết hợp của phép nhân.
_ Tính chất nhân 1 số với 1 tổng (hoặc 1 tổng với 1 số)
_ Tính chất nhân 1 số với 1 hiệu (hoặc 1 hiệu với 1 số)
Để giúp HS có thể làm nhanh chóng bài tập loại này, HS phải vận dụng tính
chất của phép nhân để tìm nhanh kết quả biểu thức.
VD:
5
2
21
17
21
17
5
3
xx +
+=
5
2
5
3
21
gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình.
Qua những phương pháp trên, tôi thấy các em đã có hứng thú học tập và vận dụng
vào làm bài tập tương đối tốt. Mặc dù chưa được hoàn thiện, nhưng cũng chứng tỏ
trong các môn học, môn Toán cần có sự đổi mới về phương pháp dạy học, giúp học
sinh phát huy cao tính tích cực trong học tập.
VI.KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Qua quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng các phương pháp trên, tôi nhận thấy
học sinh lớp tôi hứng thú học tập. Các em mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài,
tính toán nhanh, chính xác. Học sinh ham học, tự tin, chất lượng học tập được nâng
lên một cách rõ rệt. Trong quá trình học Toán, học sinh dần dần chiếm lĩnh kiến thức
mới và giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống. Sự tiến bộ của các em biểu hiện
cụ thể qua kết quả như sau:
Kết quả kiểm tra giữa HKI năm học 2011 – 2012:
Tổng số
học sinh
Điểm giỏi
( 9 - 10 )
Điểm khá
( 7 - 8 )
Điểm Trung
bình ( 5 - 6 )
Điểm yếu
( Dưới 5 )
8 TS % TS % TS % TS %
0 0 3 37,5 4 50 1 12,5
Kết quả kiểm tra cuối HKI năm học 2011 – 2012:
Tổng số
học sinh
Điểm giỏi
( 9 - 10 )
luyện tập. giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới và vận dụng làm các bài tập một
cách chính xác. Đây cũng là cách giúp các em ghi nhớ lâu những qui tắc và vận dụng
giải các bài tập đã học để khi lên lớp trên Giáo viên nhắc tới những dạng bài tập đó là
các em nhớ và vận dụng làm được ngay. Như vậy sẽ tránh được những em học sinh
lên lớp trên mà kiến thức Toán tiểu học bị hổng.
- Giáo viên cần gần gũi với học sinh hơn nữa và có sự linh hoạt trong cách tổ
chức các PPDH , giúp học sinh tự tin, giúp các em tự giác biết cách làm bài Toán
một cách khoa học, chính xác, sửa chữa những điểm yếu, điểm sai của mình.
- Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường –
xã hội.
- Riêng đối với bản thân tôi, điều cần thiết và không thể coi nhẹ là phải dạy tốt lý
thuyết, từ đó mới phát triển được các tư duy, suy luận cho học sinh. Để rèn luyện kĩ
năng giải Toán cho học sinh thì trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải lựa chọ các
phương pháp dạy tốt. Khi dạy học sinh lớp 4 học Toán, giáo viên phải đặt ra tình
huống để các em suy nghĩ, tìm tòi cách giải khác nhau.
VIII. KẾT LUẬN
Trên đây là một số PPDH giúp học sinh học tốt môn Toán trong chương trình
Tiểu học nói chung và chương trình Toán lớp 4 nói riêng. Trong suốt thời gian qua
bản thân tôi đã nghiên cứu, vận dụng vào thực tế giảng dạy và chất lượng học tập của
học sinh đã nâng lên rõ rệt. Các em đã thực sự phấn khởi, tự tin khi học Toán. Đối
với tôi, cách dạy trên đã góp phần không nhỏ vào việc dạy học và giáo dục các em –
những mầm non tương lai của đất nước.
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ không tránh khỏi
những mặt hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến
quý báu của cấp trên và đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện và đạt kết quả cao
hơn, đồng thời được áp dụng rộng rãi trong việc dạy học môn Toán ở Tiểu học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hương Sơn, ngày 25 tháng 04 năm 2012
Người viết
DƯƠNG VĂN HÌNH