BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VÙNG VĂN HÓA TÂY NGUYÊN
MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ XXI, trong quá trình hội nhập với thế giới, khi mà khoa
học công nghệ phát triển như vũ bão, nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng.
Trong quá trình chủ động hội nhập, đứng trước những nguy cơ, thách thức “đồng
hoá văn hoá”, “hoà nhập dẫn đến hoà tan”, dân tộc Việt Nam đã tìm thấy trong
vốn văn hoá truyền thống của mình và những tinh hoa văn hoá của nhân loại những
sức mạnh to lớn có thể huy động phục vụ có hiệu quả cho công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Để bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, Đảng đã chỉ rõ mục tiêu chung trong định hướng
phát triển văn hóa và con người: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững
chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.”1
Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá đa dạng trong thống nhất, là vườn hoa
muôn màu muôn sắc toả ngát hương thơm thì văn hoá cổ truyền các dân tộc Tây
Nguyên là một trong những bộ phận cấu thành rất quan trọng để làm nổi bật nên
diện mạo đó. Sau ngày giải phóng (1975), Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng
Tây Nguyên, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam, trân trọng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của
1
Ban Tuyên giáo Trung ương, Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết và một số chủ trương của Hội nghị lần thứ chín Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, NXB CTQG, HN, 2014, tr 11
đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Sau hơn 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển
năng du lịch lớn, Tây nguyên còn được coi là mái nhà của miền trung.
Khí hậu ở Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến giữa tháng
5, và mùa mưa từ cuối tháng 5 đến tháng 10. Đất bazan là loại đất không giữ nước,
nước mưa trượt đi trên bề mặt, , trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và
khô nhất, về mùa khô Tây Nguyên gần như hoàn toàn không có nước. Do ảnh
hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500 m khí hậu tương
đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu
lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới.
Có thể nói cội nguồn của những đặc điểm văn hoá dân tộc nói chung, vùng
văn hóa Tây Nguyên nói riêng, đều xuất phát từ những điều kiện lịch sử của nó,
nhưng trước đó và trong suốt quá trình lịch sử, những điều kiện địa lí, môi trường
thiên nhiên luôn ảnh hưởng đến phương thức canh tác, đến hình thái kinh tế và áp
lực của chúng lên hình thái xã hội, chính trị và đặc biệt nó ảnh hưởng đến sự hình
thành các nét văn hóa đặc trưng cho vùng đất ấy.
2. Những nét đặc sắc về vùng văn hóa Tây Nguyên
Là nơi hội tụ nhiều nét văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc Êđê,
Jarai, M’nông… cùng với những phong tục, tập quán, lễ hội đã tạo cho Tây
Nguyên trở thành vùng văn hóa dân gian đa dạng và đặc sắc.
Các lễ hội của đồng bào dân tộc Tây Nguyên ra đời từ niềm tin mãnh liệt
vào thần linh mà họ thường vẫn gọi là Yàng nên mang tính cộng đồng rất cao. Các
nghi lễ, lễ hội vừa là những sinh hoạt văn hoá có tác dụng to lớn trong việc củng cố
và tăng cường sức mạnh của tình đoàn kết, sự gắn bó của cộng đồng nhưng cũng
đồng thời tạo môi trường diễn xướng của nhiều nhạc cụ dân tộc như: K’ni, Brố,
đinh Tăk Tà, đinh Tút, đinh Năm... Ở đây có những nghi lễ, lễ hội đặc sắc, độc
đáo như: lễ trưởng thành, lễ bỏ mả, lễ cúng bến nước, mừng lúa mới, nhà mới, lễ
rước Kpan... mang đậm nét văn hóa riêng của dân tộc Tây Nguyên . Mùa lễ hội
Tây Nguyên kéo dài suốt mấy tháng 1, 2, 3 dương lịch. Hầu như không gian không
lúc nào vắng tiếng chiêng cồng. Lúc ấy, mùa rẫy đã tuốt xong và đã đón kho. Dẫu
Nhưng ở những dân tộc này, tổ tiên đã tách ra “bên kia”, “bên âm” trong một cộng
đồng riêng và trở thành các “Đấng”. Ở nhiều dân tộc Tây Nguyên, tổ tiên vẫn là
thành viên “hiện hữu” của cộng đồng. Do đó, con người được sống trong sự hội
nhập sức mạnh của quá khứ và đương đại trong một vô thức, một tất yếu. Vì vậy,
truyền thống văn hoá không chỉ là sự “uống nước nhớ nguồn”, không chỉ là “đất lề
quê thói” mà là lẽ thường, là đạo lí đương nhiên của cuộc sống.
Trên cơ sở vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan như vậy, văn hoá dân
tộc, mà thực chất là văn hoá dân gian Tây Nguyên có mặt trong mọi hoạt động của
đời sống con người với những mật độ mau, thưa tuỳ theo thời gian trong năm. Vào
đầu mùa mưa (thường diễn ra từ cuối tháng 5 dương lịch), các gia đình dọn hẳn
vào ở bên cạnh rẫy lúa của mình và ở đó đến cuối tháng 11 khi thóc thu hoạch đã
đưa vào kho chứa. Thời gian này vì phải tập trung vào sản xuất, đồng bào không có
nhiều hoạt động cộng đồng. Họ có lễ cầu an cho cây trồng sau khi lúa con gái được
làm sạch cỏ. Vào lễ này, mỗi gia đình đem những vò rượu cần làm từ lúa mùa năm
trước và được ủ men trên rẫy về làng chung vui. Lễ tạ ơn thần sấm đã làm mưa
xuống và tạ ơn Mẹ Lúa Yang S ’ri. Đồng bào Tây Nguyên tin rằng trong mỗi cái
chiêng đều có thần chiêng (Yang chiêng). Vì thế có cái chiêng phải đổi bằng voi
hay nhiều con trâu do chiêng ấy có thần mạnh. Trong lễ cầu an, khi chiêng được
gióng lên là lúc thần chiêng xuất hiện, cao giọng cổ vũ, khen ngợi, cảm ơn thần
sấm. Sự hoà đồng của các thần chiêng và thần sấm đem lại sự hứng khởi vô hạn
cho đồng bào. Ở đây là sự hội tụ của các lực lượng siêu nhiên, do con người được
đối xử như bạn, nên đã biểu hiện ra cho họ thấy chúng hài lòng đến mức nào. Bằng
những hoạt động văn hoá- nghệ thuật, con người Tây Nguyên cổ truyền đã kéo
Thiên- siêu nhiên về với mình, trở thành bạn của mình, tham gia như những thành
viên thực thụ trong niềm vui chung của cộng đồng. Bằng cách đó, con người chinh
phục thiên nhiên, hoà nhập với nó để rồi nhận lấy một niềm tin rằng con người là
bạn và do đó được Thiên- siêu nhiên giúp đỡ hết mình. Nhưng con người không
thụ động, mà trong tổng thể hoạt động văn hoá nghệ thuật (như trong Lễ cầu an) họ
đất và con người nơi đây
Trong văn hóa vật thể của đồng bảo Tây Nguyên, nhà Rông của vùng đất
này được coi là một trong những nét văn hóa đặc sắc với những kiến trúc độc đáo
mang nhiều ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Nhà Rông của dân tộc Tây Nguyên là nơi
diễn ra toàn bộ sinh hoạt cộng đồng của dân tộc ở đây, nó là trụ sở của bộ máy
quản trị buôn làng, nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, nhà khách… ; là nơi thể
hiện các lễ hội tâm linh cộng đồng và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt lại
cho thế hệ trẻ những giá trị văn hóa truyền thống ..., nơi lưu giữ các hiện vật truyền
thống: cồng, chiêng, trống, vũ khí, đầu các con vật hiến sinh trong các ngày lễ, và
là nơi đứa trẻ, từ tấm bé đã được quây quần quanh bếp lửa nghe người già kể khan;
nơi người lớn được tụ họp hằng đêm, nói cho nhau nghe chuyện của núi rừng...
Người dân Tây Nguyên quan niệm nhà Rông, tức nhà Sàn là nơi khí thiêng của
đất trời tụ lại để bảo trợ cho dân làng, vì thế trong mỗi nhà rông đều có một nơi thiêng
liêng để thờ các vật thiêng, nhiều khi chỉ là một con dao, hòn đá, chiếc sừng trâu…
Nhà Rông là nơi diễn ra các lễ hội dân gian, là nơi tiếp đón khách quí đến
thăm buôn làng. Nhà Rông là nơi hội họp của các già làng, phân xử các vụ kiện
tụng, tranh chấp liên quan đến cộng đồng. Nhà Rông còn là nơi để các thanh niên
nam nữ đến gặp gỡ, tỏ tình và kết duyên chồng vợ. Theo tập tục ở đây, thanh niên
chưa vợ, chưa chồng ban đêm phải đến ngủ tại nhà Rông, ngay cả phụ nữ chết
chồng hay li dị chồng cũng vậy. Tuy gần gũi nhau, nhưng trai gái các buôn làng
không bao giờ để xảy ra chuyện ái tình vụng trộm, do bị phong tục lên án gắt gao
và bị lệ làng phạt vạ rất nặng. Người ta gọi một ngôi làng không có nhà Rông là
"làng đàn bà", tức cũng gần như nói một cái làng chưa ra làng, chưa xứng đáng là
làng. Đấy mới chỉ là một tập hợp rời rạc những cái nhà chưa có hồn, trong đó
chứa những sinh linh cũng chưa có hồn, chưa thật sự là con người, bởi người ta
chỉ thành người khi được thổi vào đấy hồn người, mà hồn người đối với người
Tây Nguyên thì phải là hồn làng.
Nhà Rông là hình ảnh thu nhỏ của các thành tố văn hóa truyền thống của
lợp lá, còn cửa mồ thì nằm quay về hướng Đông hầu hết những ngôi nhà mồ khi
tiến hành bỏ mả, người Gia-rai sử dụng các loại gỗ tạp, để đẽo tượng, phổ biến là
gỗ cây gạo (pơ-lang), vì loại gỗ này mọc nhiều ở vùng người Gia-rai sinh sống, dễ
tìm ở xung quanh làng. Theo kinh nghiệm người dân thì cây cà-chít có độ tuổi trên
10 năm mới đủ tiêu chuẩn để đẽo tượng vì hai loại cây này phân cành sớm, độ dài
của cây nếu chưa đủ tuổi trưởng thành thì không đáp ứng được những yêu cầu của
việc đẽo tượng. Những cây gỗ được chọn có độ dài hơn 2 sải tay , đường kính lõi
khoảng 30 cm. Người Gia-rai dùng rìu, đốn cây, khi đốn xong người ta vận chuyển
bằng cách dùng trâu kéo cây từ trong rừng về buôn làng. Việc khai thác gỗ để đẽo
tượng có kiêng kỵ, nếu đêm ngủ họ mơ thấy nhà cháy, bến nước cạn kiệt thì sáng
hôm sau sẽ hoãn lại việc lấy gỗ trong khi đi vào rừng lấy gỗ nếu gặp rắn bò ngang
qua đường thì họ quay về ngay, người ta cho đó là điềm không lành, dễ có chuyện
xấu xảy ra. Người dân tộcGia-rai đẽo tượng bằng chiếc rìu cứng cáp. Chỉ trên 1
khúc gỗ, không phác thảo và ngày này sang ngày khác, những cây gỗ to sù sì cứ
hiện lên những dáng dấp, hình người… những tư thế cùng những chi tiết đa dạng
của người đàn ông, đàn bà trẻ nhỏ. Dường như tất cả đã nằm trong đầu của họ. họ
lặng lẽ từng nhát chắc chắn bổ xuống để nên hình, nên tượng, nên hồn.Tượng được
đặt vào quần thể nhà mồ với những cột trang trí, với hàng rào, với hoa văn đan đủ
trên mái và với cả phối cảnh địa hình, cây cối nữa trở nên rất sinh động. Khi quan
sát những bức tượng mồ, người xem có thể nhận ra hình thể của từng bức tượng,
qua bàn tay của người nghệ nhân, đều xuất phát từ thân gỗ tròn, vốn là hình dạng
ban đầu của mỗi thân tượng. Bằng thủ pháp dùng mảng khối, người Gia-rai chỉ
phác hoạ một vài chi tiết trên cơ thể mà làm cho bức tượng bỗng trở nên sống động
như có hồn. Có thể nói, để tạo ra một quần thể nhà mồ, trong đó có các tượng tròn,
các phù điêu gỗ, các trang trí tre đan, người Tây Nguyên là những nghệ thuật tạo
hình xuất sắc.
Nói về văn hoá Tây Nguyên mà quên cồng chiêng thì là một thiếu sót lớn.
Cồng chiêng được coi như ngôn ngữ để con người giao tiếp với thiên nhiên. Trong
nhạc cồng chiêng diễn tấu trong đội hình hình tròn, ngược chiều kim đồng hồ.
Đón con người vào đời là nhạc cồng chiêng. Lại cũng cồng chiêng sẽ tiễn
đưa con người ấy ra huyệt mộ để rồi trong lễ bỏ nhà mồ, linh hồn con người đi
theo tiếng cồng chiêng mà về với “nửa cộng đồng hôm qua”. Có thể nói, cuộc đời
con người Tây Nguyên “dài như tiếng chiêng”. Với chức năng xã hội như vậy, khái
niệm “Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” được đưa ra là thoả đáng.
Cũng sẽ không sai nếu đưa ra một khái niệm nữa: Nghệ thuật âm nhạc cồng
chiêng Tây Nguyên. Xưa kia, mỗi nhà dù nghèo cũng có một bộ. Nhà giàu có đến
hàng chục bộ khác nhau. Gọi là một bộ vì đó là một biên chế âm nhạc với một hệ
âm thanh chặt chẽ. Tuỳ theo dân tộc, thậm chí, từng nhóm địa phương từng dân
tộc, biên chế ấy không giống nhau. Một bộ chiêng cồng có từ 3 đến 15 cái, trong
đó, cồng (có núm) và chiêng (không có núm). Cùng với cồng chiêng, còn có trống
và ở một số dân tộc còn thêm hai cặp chũm chọe nữa. Theo đồng bào, trống là thần
sấm biểu tượng cho Trời, tính nam. Cồng chiêng biểu tượng cho Đất, tính nữ.
Người Giẻ cho rằng trống là Mặt trời, tính nam, cồng là Mặt trăng, tính nữ. Bất kể
cồng chiêng và trống được gắn cho biểu tượng gì, ở đâu cũng ẩm giấu một quan
niệm lưỡng hợp nguyên sơ về một quá trình sinh sôi nảy nở của cư dân nông
nghiệp. Nếu bộ chiêng chỉ có ba chiếc thì thường đó là ba cái cồng (có núm). Âm
thanh của chúng cách nhau một quãng năm và quãng bốn. Đó là những quãng cơ
bản trong hệ âm thanh thiên nhiên.
Ở Việt Nam nhiều dân tộc dùng chiêng cồng. Nhưng không ở đâu cồng
chiêng lại quán xuyến cuộc sống con người và đạt đến trình độ âm nhạc như cồng
chiêng Tây Nguyên. Chính phẩm chất này đã khiến “văn hoá cồng chiêng” và
“nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng” trở thành một đặc điểm nổi bật của vùng văn
hoá Tây Nguyên.
Trang phục Tây Nguyên có đầy đủ các thành phần, chủng loại trang phục và
phong cách thẩm mỹ khá tiêu biểu cho các dân tộc khu vực Tây Nguyên. Lễ hội
của đồng bào dân tộc Tây Nguyên thường diễn ra theo chu kỳ vòng đời con người
thiết đãi khách quí đến thăm làng. Những ngày lễ Bỏ Mả, lễ Đâm trâu xây cột, Tết
Cơm mới, Tết Giọt nước, Tết Lửa... diễn ra rộn rịp suốt mùa hanh khô. Đây là mùa
lễ Tết ở Tây Nguyên.Trong lễ Tết, ẩm thực của các dân tộc Tây Nguyên đều giống
nhau, từ món thịt nướng cho đến rượu cần. Còn cách ăn uống và nấu nướng thế
nào, thì đó là đặc điểm của mỗi dân tộc và của mỗi địa phương.
Vào các ngày lễ Tết, cơm nếp được thay cơm gạo tẻ và được nấu theo cách
thức của tổ tiên: Cơm Lam. Họ vào rừng chặt những ống lồ ô còn non, giữ lại mấu
ở một đầu ống rồi cho gạo nếp và nước vào, xong nút lại đem đốt bằng lửa và than
cho thật khéo. Những ống cơm lam, ngoài vỏ tuy đen đúa, lem nhem nhưng khi
chẻ bỏ lớp vỏ ấy đi thì lộ ra lớp cơm nếp thơm ngon, hấp dẫn lạ thường. Hương vị
nếp quyện với hương thơm của tre tươi qua lửa làm cho cơm lam có một hương vị
đặc biệt, hơn hẳn cơm nếp nấu trong chõ, trong nồi.
Thịt là thực phẩm chủ yếu trong các món ăn ngày Tết. Người Tây Nguyên
làm lông con vật bằng cách thui đốt. Họ không chế biến được các món ăn đặc biệt
như ở miền xuôi. Đáng chú ý là món nướng và làm món như tiết canh, nem sống ở
dạng thô sơ. Những món ăn này dùng để khoản đãi hay để dâng cúng thần linh.
Ngoài ra, họ còn dùng phèo lấy từ ruột con vật bốn chân để chế biến món ăn là một
đặc điểm trong cách thức ngả món của đồng bào Gia Rai, Ba Na. Kỹ thuật băm
sống và trộn bóp đóng vai trò quan trọng tạo ra nhiều món từ thịt trâu bò, dê,
nguồn thịt chính trong lễ hiến tế thần linh. Có món thịt bóp với phèo. Có món thịt
băm nhỏ trộn với muối đựng trong ống tre. Có món thịt trộn với phèo rồi gói lá. Có
món thịt trộn với tiết, phèo và muối ớt để trên lá. Có món thịt, ruột non, gan, ruột
già hỗn hợp đựng trong ống tre. Lại có món thịt băm, tiết, phèo, muối ớt trộn
nhuyễn. Da bóp với phèo cũng thành một món. Món thường gặp là gan và lá sách
thái miếng xiên xen kẽ vào que tre để nướng.
Trong các món ăn kể trên họ đều dùng thịt sống, tuy không được nấu nướng
nhưng có thể phèo là nguyên liệu có tác dụng làm tái các loại thịt tươi, giống như
thính gạo trong món nem của người Kinh. Hơn nữa, tất cả những món sống ấy bao
chủ yếu dùng vào những ngày “ có việc “ của buôn làng hay gia đình.Như: cúng
Yàng, mừng thọ người già, lễ cưới, đám ma, làm nhà, có khách xa đến chơi.Đặc
biệt là trong những lễ nghi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, những lễ hội của cả
buôn làng. Gia đình hay buôn làng nào “có việc” như vậy, liền được sự đóng góp
của cả họ hàng, cả buôn. Mọi gia đình đều chuẩn bị ghè rượu to nhất, ngon nhất
của mình để đem tới góp chung. Vừa xẻ chia, giúp đỡ, vừa tạo nên tình cảm gắn
bó, thân tình đầm ấm trong cộng đồng.
Để có được ché rượu, phải tiến hành nhiều công đoạn, từ chuẩn bị nguyên
liệu đến cách thức chế biến, tính toán thời gian phù hợp, sao cho vừa kịp xử
dụng… để ghè rượu đạt chất lượng cao nhất. Gia đình Tây nguyên nào cũng biết
làm rượu cần, nhưng tỷ lệ lại là bí quyết riêng chỉ được phép truyền trong mỗi
nhà.Do đó rượu được tạo ra bởi những hương vị khác nhau theo sở thích của từng
gia đình. Tuy nhiên có một điều ai cũng phải tuân theo là : trong thời gian làm men
rượu, kể cả làm rượu, phải giữ cho thân thể được sạch sẽ, nhất là vợ chồng không
được quan hệ sinh lý với nhau. Đồng bào cho rằng như thế sẽ ảnh hưởng đến chất
lượng, hương vị cuả men rượu.
Đặc biệt, bộ phận lớn nhất trong nền văn hoá cổ truyền các tộc người Tây
Nguyên là các hình thức và hoạt động văn hoá phi vật thể. Đây là bộ phận có vai
trò rất quan trọng, vừa là chỗ dựa tinh thần, vừa là tác nhân làm cân bằng đời sống
xã hội và con người. Nền văn hoá cổ truyền Tây Nguyên nhìn chung đa số tồn tại
dưới dạng văn hoá dân gian. Đó là các bộ sử thi nổi tiếng của đồng bào như Đam
San, Xinh Nhã, ĐămBri, Dăm Dí, Rơ Păm, Khinh Dú với các nghệ nhân hát kể các
bộ sử thi đó như Khan (Êđê), Hơri (Giarai), Hôamn (Hahnar), Otnroong (M’nông),
Akhatgukhar (Rắcglây), hoặc có nhiều thầy cúng (Pơtau), các luật tục giống như
Hương ước của người Kinh dưới xuôi. Các lễ hội cứ nối tiếp nhau từ mùa xuân
năm nay đến năm sau như đâm trâu (Groongk’po), cầu an cho lúa (Sômah kwai),
bỏ mả (Pớatpothi), cúng đất làng, lễ mừng, tết cơm mới, múa trống, múa xoang,
múa khiên, đánh cồng, đánh chiêng… cùng với những lễ hội đó, đời sống tâm linh
quý giá và đa dạng. Đây chính là những nhân tố góp phần vào hành trang văn hoá
dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế. Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước,
công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộc cũng như bảo
tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã đạt được nhiều thành
tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên, thực tế hiện tại trong quá trình phát triển kinh tế thị
trường, CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, văn hoá cổ truyền các dân tộc Tây
Nguyên đang bị tấn công và có những nét văn hoá bị mai một đi từng ngày, hoặc
được chú ý giữ gìn nhưng lại mang hơi hướng “hiện đại hoá”. Văn hoá truyền
thống Tây Nguyên trong quá trình phát triển cũng cần phải loại bỏ dần những tập
tục lạc hậu lỗi thời, cũng như cần tiếp tục chọn lọc cái mới, giữ gìn cái truyền
thống còn ý nghĩa và tác dụng tích cực để bổ sung và làm phong phú thêm. Trong
nguyên lý phát triển của chủ nghĩa Mác, đó chính là nguyên tắc kế thừa cần được
quán triệt. Tất nhiên, cũng có những nguyên nhân chủ quan và khách quan để nền
văn hoá truyền thống các tộc người Tây Nguyên không tồn tại toàn vẹn như quá
khứ. Chúng ta phải chấp nhận thực tế khách quan như lợp mái tôn thay mái tranh,
cột bê tông thay cột gỗ khi rừng ngày càng thu hẹp và cạn kiệt. Các lễ hội không
thể kéo dài ngày như ngày xưa mà phải nhanh, ngắn và nhỏ hơn trước, hoặc thay vì
độc canh thì chuyển đa dạng hoá sản xuất, phải ứng dụng kỹ thuật, phải định canh
định cư, đất đai vì dân di cư có và không có tổ chức đến nay đã làm cho diện tích
canh tác trên đầu người bị thu hẹp, không gian sinh hoạt văn hoá rộng rãi trước kia
nay dần thu hẹp lại… Trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ
trương, chính sách và dành hẳn chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn và phát
triển văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Quán triệt đường lối xây dựng nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, trong thời gian qua, công tác
giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá các dân tộc Tây Nguyên đạt được nhiều tiến
bộ tích cực. Quan điểm của Đảng không chỉ bảo tồn, phát huy mà còn làm giàu
thêm bản sắc văn hoá dân tộc ở Tây Nguyên. Trong mảng công tác này, mặc dù
gặp nhiều khó khăn nhưng sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân đã
Thứ ba: Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc Tây
Nguyên không chỉ là công việc của các cấp chính quyền mà còn là sự đồng thuận
của các dân tộc theo quan điểm “ý Đảng, lòng dân”. Đầu tiên là phải giáo dục cho
đồng bào các dân tộc hiểu được tầm quan trọng của các giá trị văn hoá, nhất là với
lớp người trẻ, bởi đây sẽ là lực lượng kế cận quyết định sự tồn vong bản sắc văn
hoá dân tộc. Đồng thời phải có chính sách khen thưởng đãi ngộ xứng đáng với
những người tham gia vào quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị như văn nghệ
sĩ, các nghệ nhân, các nhà nghiên cứu văn hoá, văn nghệ gắn bó với mảnh đất và
con người Tây Nguyên. Trên cơ sở đó tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ của văn
hoá bên ngoài, giữ gìn những thuần phong mỹ tục của đồng bào các dân tộc, loại
bỏ dần các hủ tục, tập quán lỗi thời, lạc hậu.
Thứ tư: Thực hiện chính sách tôn giáo, đất đai, dân tộc hợp lý. Ví dụ như với
đạo Tin lành ở Tây Nguyên thì đẩy nhanh quá trình bình thường hoá, các buôn
phải đăng ký với chính quyền để sinh hoạt tôn giáo. Đồng thời tập trung giải quyết
vấn đề đất đai, dân tộc, sẽ giải quyết tận gốc những vấn đề bất ổn về kinh tế xã hội
trong thời gian qua. Mặt khác, để gần dân, sát dân hơn, yêu cầu những người làm
công tác văn hoá cần nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng hưởng thụ văn hoá chính
đáng của đồng bào, và làm tốt công tác tham mưu cho chính quyền về các vấn đề
văn hoá xã hội kịp thời. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi, trợ cấp để cán bộ văn
hoá yên tâm công tác. Đối với công tác với từng buôn, cần phát huy vai trò của Già
làng, trưởng bản và các nghệ nhân trong công tác tuyên truyền, vận động giáo dục,
thuyết phục bà con buôn làng noi theo trong công tác xoá đói, giảm nghèo, thực
hiện chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đây là những
người có uy tín cao trong cộng đồng, là hạt nhân của khối đại đoàn kết ở cơ sở, và
chính họ sẽ là những người đào tạo và giúp lớp trẻ nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và
giá trị của các di sản văn hoá truyền thống.
KẾT LUẬN
Vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa là một vấn đề lâu dài, bản sắc
Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011.
Ban Tuyên giáo Trung ương, Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết và một số chủ
trương của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam khóa XI, NXB CTQG, HN, 2014
Trương Minh Dục, Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá Tây Nguyên trong
quá trình xây dựng đời sống văn hoá tinh thần ở vùng đồng bào các dân tộc
thiểu số, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 1/2010.
Phan Đăng Nhật, Kế thừa luật tục để xây dựng quy ước làng văn hoá ở Tây
Nguyên, Tạp chí Cộng sản, số 13-07/2010.
Tô Ngọc Thanh, Văn hoá các tộc người Tây Nguyên – Thành tựu và thực
trạng, T/c Sinh hoạt Lý luận, số 1/2008.
Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXBGD, HN, 1998
Hồ Tấn Sáng, Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần vùng núi các tỉnh miền
Trung, Tạp chí Cộng sản, số 17 – 10/2007.
Nguyễn Nhân Thống, Âm vang lễ hội Tây Nguyên, Tạp chí Cộng sản, số 4 +
5 – 2/2003.
Ngô Đức Thịnh, Văn hoá dân gian và bản sắc văn hoá dân tộc, Tạp chí
Cộng sản, số 8-02/2011.
Nguyễn Thế Tư, Già làng ở Kon Tum với việc xây dựng củng cố khối đoàn
kết dân tộc, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 2/2012.
Võ Quang Trọng, Luật tục các dân tộc Tây Nguyên với quyền bình đẳng của
phụ nữ và trẻ em, Tạp chí Cộng sản số 14-05/2009.
Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXBGD,HN. 2006