I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH TUYT Lấ
HIệU LựC PHáP Lý CủA ĐảO TRONG PHÂN ĐịNH BIểN
THEO PHáP LUậT Và THựC TIễN QUốC Tế
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH TUYT Lấ
HIệU LựC PHáP Lý CủA ĐảO TRONG PHÂN ĐịNH BIểN
THEO PHáP LUậT Và THựC TIễN QUốC Tế
Chuyờn ngnh: Lut Quc t
Mó s: 60 38 01 08
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS NGUYN B DIN
H NI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Khái niệm đảo ..................................................................................... 7
1.1.2.
Khái niệm quần đảo ............................................................................ 9
1.2.
Các yếu tố tạo thành đảo, phân loại đảo ....................................... 10
1.2.1.
Các yếu tố tạo thành đảo ................................................................... 10
1.2.2.
Phân loại đảo và các loại cấu trúc trên biển ...................................... 21
1.3.
Tổng quan về phân định biển và tranh chấp phân định biển ..... 30
1.3.1.
Khái niệm phân định biển ................................................................. 30
1.3.2.
Cơ sở pháp lý của phân định biển ..................................................... 31
ước Luật Biển 1982 ......................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1.
Những vùng biể n của đảo thuô ̣c quố c gia ven biể nError! Bookmark not define
2.2.2.
Vùng biển của quốc gia quần đảo ..... Error! Bookmark not defined.
2.2.3.
Vùng biển và quy chế pháp lý của các bãi cạn lúc nổi lúc chìmError! Bookmar
2.2.4.
Quy chế của các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biểnError! Bookmark
2.3.
Các loại hiệu lực của đảo trong phân định biểnError! Bookmark not define
2.4.
Thực tiễn quốc tế về hiệu lực pháp lý của đảo trong phân
định biển........................................... Error! Bookmark not defined.
2.4.1.
Hiệu lực của đảo xem xét trong thực tiễn phân định giữa các
3.2.
Thực tiễn vấn đề hiệu lực đảo trong hoạt động phân định
biển của Việt Nam với các quốc gia láng giềngError! Bookmark not defined
3.2.1.
Phân định biển Việt Nam - Thái Lan Error! Bookmark not defined.
3.2.2.
Phân định biển Việt Nam - IndonesiaError! Bookmark not defined.
3.2.3.
Phân định biển Việt Nam - Trung QuốcError! Bookmark not defined.
3.3.
Vai trò của vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phân
định Biển Đông ................................ Error! Bookmark not defined.
3.3.1.
Phạm vi địa lý của hai vùng đảo Hoàng Sa, Trường SaError! Bookmark not de
3.3.2.
DOC
: Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002
EEZ
: Vùng đặc quyền kinh tế
ICJ
: Tòa án Công lý quốc tế
ITLOS
: Tòa án quốc tế về Luật biển
UNCLOS : Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
Hình 2.1. Đường phân định lãnh hải giữa Bangladesh và
Error!
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại dương bao la với nhiều nguồn tài nguyên phong phú chưa được
khai thác. Do vậy, việc chiếm hữu một vùng biển rộng lớn có ý nghĩa rất to
lớn đối với việc phục vụ phát triển kinh tế - kỹ thuật của các quốc gia. Theo
UCLOS 1982, hiệu lực của các đảo là tác động do sự hiện diện của chúng để
có được các vùngg biển bao quanh. Hiệu lực các đảo rất khác nhau trong phân
định biển, để đánh giá hiệu lực của đảo chúng ta phải xem xét đến việc có
thỏa mãn các yếu tố được quy định tại 03 khoản của Điều 121 UCLOS 1982,
đặc biệt là yếu tố dân cư và khả năng phát triển kinh tế. Sự hiện diện của các
đảo tại khu vực phân định tạo nên hoàn cảnh đặc biệt, việc tính hiệu lực cho
các đảo tùy từng trường hợp có khác nhau nhưng phải đáp ứng nguyên tắc
công bằng. Từ đó phát sinh những xung đột về xác định chủ quyền quốc gia
trên biển, các đảo trên biển. Hiện nay, tranh chấp về các đảo đang diễn ra
ngày càng phổ biến và có tính chất căng thẳng dẫn đến leo thang xung đột gây
ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia, nó cũng là nguy cơ cho các cuộc
chiến tranh lãnh thổ. Trong quá khứ, chúng ta đã biết đến các tranh chấp giữa
Nga và Nhật đối với quần đảo Kuril, tranh chấp đảo Điếu Ngư (Senkaku) giữa
Trung Quốc và Nhật. Việt Nam là một quốc gia ven biển với nhiều hòn đảo,
vùng đảo lớn, nhỏ cũng đang nóng lên với tranh chấp tại Vùng đảo Hoàng Sa,
Trường Sa với các quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei
và một thực thể quốc tế đặc biệt - Đài Loan. Do vậy, vấn đề hiệu lực pháp lý
của đảo trong phân định biển theo pháp luật và thực tiễn quốc tế có tính cấp
thiết để đóng góp các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp trên biển
đang trở nên căng thẳng trên mọi trận tuyến từ ngoại giao, chính trị đến quân
sự, pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
1
2
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu hiệu lực pháp lý của đảo trong phân định biển được coi
là then chốt nhằm cung cấp các lập luận để giải quyết các bất đồng giữa các
quốc gia. Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu lớn về vấn đề này.
Hiện nay, đã có một số bài báo, bài tham luận liên quan đến vấn đề này, cụ thể
như sau: (i) của tác giả Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Bá Diến: Bài viết "Vấn đề phân
định biển trong Luật Quốc tế hiện đại" đăng tải trên Tạp chí Khoa học ĐHQG,
Kinh tế - Luật năm 2007; Bài viết “Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo
và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa”, đăng tải trên Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học năm 2009; Bài Tham luận "Địa vị pháp lý
của Đảo trong phân định Biển" tại Hội thảo Quốc gia về Biển Đông lần thứ hai
vào năm 2011; (ii) của tác giả Nguyễn Hùng Cường, "Nguyên tắc công bằng
trong phân định thềm lục địa và các vùng biển trong Luật Quốc tế hiện đại",
đăng tải trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, năm 2014.
Tuy nhiên, trong phạm vi là một bài báo hay một bài tham luận nên
còn mang tính lẻ tẻ chưa có sự hệ thống và xâu chuỗi vấn đề hiệu lực của
đảo trong phân định biển từ nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển để
giúp những người quan tâm đến vần đề này có kiến thức một cách đầy đủ.
Bên cạnh đó, các bài báo, bài tham luận chưa đi sâu vào thực tiễn vận dụng,
giải thích các quy định trên tại các cơ quan tài phán quốc tế, các điều ước
quốc tế song phương và pháp luật từng quốc gia về hiệu lực pháp lý của đảo,
quần đảo và các thực thể khác trong phân định biển. Hơn nữa, các bài báo,
bài tham luận này đã được viết từ lâu (năm 2007, 2009, 2011, 2014) nên
chưa cập nhật các thông tin mới diễn ra trên thực tiễn. Do đó, đề tài sẽ
nghiên cứu, rà soát lại và cập nhật quan điểm phù hợp chính xác nhất trên cơ
sở những tri thức mới nhất về đảo, làm rõ hơn hiệu lực của đảo trong phân
định biển theo pháp luật và thực tiễn quốc tế.
biển... Đề tài cũng sẽ dành phần lớn dung lượng để nghiên cứu về quy chế
4
pháp lý của các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển theo pháp luật
và thực tiễn quốc tế. Đây là vấn đề đã được đề cập từ lâu nhưng ít được
quan tâm, nghiên cứu, cập nhật.
Từ những nghiên cứu trên, đề tài cũng sẽ đề xuất giải pháp cụ thể,
những bước đi cho Việt Nam trong việc hiện thực hóa quan điểm của mình
trong vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến hai vùng đảo Hoàng Sa,
Trường Sa, bao gồm: giải pháp đàm phán, thương lượng; giải pháp trung gian,
hòa giải; giải pháp sử dụng các thiết chế tài phán quốc tế; giải pháp tạm
thời;... và các điều kiện đảm bảo nhằm thực thi hiệu quả các giải pháp trên.
Bằng việc giải quyết những vấn đề trên, Luận văn là một công trình
nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp
phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
5. Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Để nghiên cứu thực hiện đề tài đã chọn, Luận văn được thể hiện trên cơ
sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những quan điểm cơ bản của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta, giữ vững lập trường chính trị và đường
lối ngoại giao với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới với chủ trương
hòa bình, hợp tác cùng phát triển, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Luận văn đặc biệt sử dụng phương pháp so sánh luật học, tiếp cận dưới
góc độ luật so sánh để làm sáng tỏ vấn đề. Ngoài ra, còn dựa trên sự kết hợp
giữa phương pháp nghiên cứu từ cái chung đến cái riêng, phương pháp tích
hợp liên ngành, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic và
lịch sử, đánh giá, diễn giải, dự báo, sử dụng số liệu thống kê,...
Bên cạnh đó, Luận văn cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn
Indonesia, SriLanka… hoặc do hoạt động dưới núi lửa tạo thành như Hawai…
Có các đảo với nhiều dạng và các kích cỡ từ đảo san hô cho đến đảo lục địa.
Nhiều đảo đơn độc hay tụ hợp lại thành quần đảo hay kéo dài thành vòng
cung đảo. Đảo có thể là lục địa nếu nó nằm trên thềm lục địa và đai dương,
nếu có thể tách rời lục địa bằng một bồn vực hay một bồn trũng đại dương.
Trong các loại này ta phân biệt chằng hạn như các quần đảo Thái Bình
Dương, các đảo cao, núi nguồn gốc từ núi lửa, các đảo thấp nguồn gốc san hô,
đảo san hô gần các đầm phà khép kín, đảo nhân tạo…
Các khái niệm nêu trên và kế thừa sự phát triển của các quy định trong
lịch sử đã góp phần để xây dựng khái niệm thống nhất về Đảo trên phương
diện pháp lý tại Công ước Luật biển năm 1982.
* Khái niệm về Đảo trước Công ước 1958
Lần đầu tiên khái niệm về đảo được nhắc đến một cách chính thức là tại
7
Hội nghị pháp điển hóa La Hay 1930. Theo đó, các nhà khoa học pháp lý đã
đưa ra khái niệm về đảo đó là: “Một vùng đất có nước bao bọc xung quanh
thường xuyên ở mực nước cao”. Khái niệm này còn hết sức sơ lược và chưa thể
khái quát hết được các yếu tố cấu thành đảo mà chủ yếu vẫn dựa vào các khái
niệm vật lý tự nhiên và chỉ xét trên các yếu tố như vùng đất có nước bao bọc,
thường xuyên trên mực nước cao… Tại thời điểm đó đảo cũng như quy chế
pháp lý về đảo chưa được các quốc gia hay các nhà khoa học pháp lý quan tâm.
* Khái niệm về đảo trong Công ước 1958
Tại Hội nghị Geneve 1958 các quốc gia đã thống nhất đưa ra khái niệm
về đảo: “Đảo là vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc khi thủy triều
lên vùng đất này vẫn nổi trên mặt nước”. Khái niệm này đã phát triển cao hơn
so với khái niệm tại Hội nghị pháp điển hóa La Hay 1930 và phù hợp với tình
hình phát triển khoa học kỹ thuật của các quốc gia trên thế giới theo hướng có
biệt đối với một đảo bình thường và một đảo đá. Theo đó, nếu một đảo không
thích hợp cho người đến sinh sống và không có đời sống kinh tế riêng có
nghĩa nó sẽ là đảo đá và chỉ có vùng lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải chứ
không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Quy định này là căn cứ xác
định vùng biển đối với một hòn đảo thông thường và đảo đá; giải quyết được
nhiều tranh cãi giữa các quốc gia trong các trường hợp lợi dụng đảo đá yêu
sách đòi chủ quyền đối với các vùng biển.
1.1.2. Khái niệm quần đảo
Theo Công ước Luật biển 1982:
Quần đảo là một nhóm các đảo, bao gồm các bộ phận của các
đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có
liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể
thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về
mặt lịch sử [16, Điều 46, Khoản 2].
Trong quy chế dành cho quần đảo dường như cũng nhấn mạnh đến sự
9
hiện diện chủ yếu của “đảo” và các bộ phận hữu cơ của đảo; đối với các thực
thể khác trong quần đảo, lại được tập trung vào mối liên hệ của chúng với đảo
và bộ phận của đảo hơn là sự hiện diện mang tính độc lập này.
“Quốc gia quần đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay
nhiều quần đảo và có thể bao gồm một số hòn đảo khác” [16, Điều 46, khoản 1].
Quốc gia sở hữu một tổng thể các quần đảo có thể được coi là một quốc gia
quần đảo, được hoạch định các vùng biển giống như đối với các quốc gia ven
biển khác, chỉ khác biệt ở khả năng sử dụng đường cơ sở thẳng nối các điểm
là các đảo ở tận ngoài khơi xa với những điều kiện theo quy định Công ước.
Điều này khiến cho quốc gia quần đảo có được vùng nước quần đảo phía
trong đường cơ sở rất rộng lớn.
- Nguồn gốc tự nhiên
“Trước Hội nghị của Liên hợp quốc về luật biển lần I, yếu tố đảo phải
là một vùng đất hình thành tự nhiên chưa được coi là một tiêu chuẩn để xác
định quy chế đảo. Tại Hội nghị Pháp điển hóa Luật pháp quốc tế La Hay năm
1930, một số nước như Pháp, Đức vẫn còn đề nghị dành cho các cấu trúc
nhân tạo quy chế đảo. Hội nghị không chấp nhận đề nghị này và không dành
quy chế đảo cho các đảo nhân tạo. Tuy vậy, Hội nghị cũng không loại đảo
nhân tạo ra khỏi khái niệm đảo. Báo cáo của Ủy ban Luật pháp quốc tế của
Liên hợp quốc năm 1954 còn đề nghị các bãi cạn nửa nổi, nửa chìm có nhà
cửa xây dựng ở trên cũng được hưởng quy chế đảo. Đề nghị này không được
thông qua, nhưng các thành viên của Ủy ban cũng không không ủng hộ việc
đòi hỏi đảo nhất thiết phải là vùng đất tự nhiên. Ủy ban đã thông qua đề nghị
của ông S.H. Lauterpacht là: “Đảo phải thường xuyên ở trên mức nước cao
trong các hoàn cảnh bình thường”. Tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật
Biển lần I, tiêu chuẩn đảo phải là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên
đã được các quốc gia coi là một tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo và ghi
nhận chính thức trong Điều 10 của Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp
11
giáp. Công ước Luật biển 1982 cũng đã ghi nhận nội dung tương tự trong
Điều 121. Như vậy, trong cả Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển lần I
và lần III, các quốc gia đã dứt khoát không dành cho các công trình nhân tạo
quy chế đảo dù nó có kích thước và đặc điểm như thế nào” [9].
Câu hỏi được đặt ra là: Tại sao nguồn gốc hình thành đảo lại quan trọng
đến vậy? Câu trả lời đúng đắn nhất là: tại thời điểm hiện tại có rất nhiều quốc
gia có tiềm lực mạnh về kinh tế và khoa học kỹ thuật, có đủ khả năng để xây
dựng những hòn đảo nhân tạo và nếu như cho những hòn đảo nhân tạo được
hưởng đầy đủ quy chế pháp lý như đối với đảo tự nhiên thì chắc chắn các
có người nằm rải rác khắp đại dương, thậm chí có thể tạo ra các vùng đặc
quyền kinh tế của các quốc gia đó tính từ ven biển. Bắt nguồn từ nguyên nhân
đó, khái niệm đảo trong Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp đã
được sửa đổi lại. Tuy nhiên, việc xác định kích thước của đảo đã vấp phải sự
phản đối của các quốc gia có đảo nhỏ như Anh, Venezuela và các quốc đảo ở
Nam Thái Bình Dương. Họ lập luận rằng các đảo tuy nhỏ nhưng có dân sinh
sống và có khả năng tự cung tự cấp thì không thể bị bỏ qua. Các đảo nhỏ có
đủ diện tích cho cư dân sinh sống và tồn tại được đề nghị cũng được hưởng
quy chế đảo. Kết thúc, trong Công ước Luật Biển 1982, khái niệm đảo đã
không nêu kích thước cụ thể mà chấp nhận một công thức thỏa hiệp là
“Những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời
sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”. Đây
là một cách gián tiếp hạn chế kích thước của đảo. Rõ ràng là các đảo với diện
tích quá nhỏ thì khó có thể thích hợp cho người đến ở hoặc cho một đời sống
kinh tế riêng” [9].
Như vậy, sau nhiều tranh cãi thì kích thước của đảo không được đưa
vào là một trong các yếu tố xác định đảo. Việc này có cơ sở dựa trên thực tế
các hòn đảo nhỏ vẫn được hưởng một quy chế pháp lý đầy đủ có nghĩa là có
cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa dẫn tới có nhiều vùng chồng lấn
13
gây phức tạp trong việc phân định biển, cũng là nguyên nhân gây ra tranh
chấp trên biển. Thêm vào đó, nếu đưa yếu tố kích thước vào khái niệm xác
định đảo sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền quốc gia cũng như quyền
lợi của quốc gia có nhiều hòn đảo nhỏ. Cuối cùng, phương án xét đến yếu tố
“thích hợp cho người sinh sống” hay có “đời sống riêng” có thể coi là dung
hòa nhu cầu của các quốc gia và không gây ra những xung đột cũng như tránh
được các tranh chấp trên biển.
Có 9 phiếu của Ủy ban Luật pháp quốc tế đã ủng hộ đề nghị trên. Tuy vậy,
đoàn Mỹ có ý kiến cho rằng yêu cầu đảo phải ở trên mực nước cao “trong hoàn
cảnh bình thường” và ”thường xuyên” rất mâu thuẫn nhau; dường như không
có cái gọi là thủy triều bình thường và bất bình thường. Vì vậy, họ đề nghị
trong khái niệm đảo nên bỏ cụm từ “trong hoàn cảnh bình thường” và “thường
xuyên” đi mà chỉ nêu đơn giản là: đảo là một vùng đất tự nhiên, có nước bao
bọc và ở trên mặt biển khi thủy triều lên. Dự thảo định nghĩa đảo của đoàn Mỹ
đã được Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển lần I chấp nhận và được đưa
vào trong Điều 10 của Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp” [9].
Tại Công ước 1958 đã sử dụng yếu tố “thường xuyên nổi trên mực
nước biển khi thủy triều lên” để xác định một thực thể có được hưởng quy chế
đầy đủ của một đảo không so với các thực thể khác. Quy định này được Công
ước 1982 kế thừa đầy đủ tại Điều 13 khi cho rằng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm
thì sẽ không được hưởng quy chế pháp lý đầy đủ có nghĩa là các bãi cạn này
sẽ chỉ có vùng lãnh hải và tiếp giáp mà không có vùng thềm lục địa và đặc
quyền kinh tế. Ngoài ra, Điều 11 của Công ước 1958 cũng quy định một quy
chế pháp lý hạn chế hơn quy chế pháp lý dành cho dành cho đảo đối với các
thực thể tự nhiên nửa nổi nửa chìm. Cụ thể nếu các thực thể tự nhiên ở dưới
mực nước thủy triều cao nhất và trên mực nước thủy triều thấp nhất, nằm
hoàn toàn hay từng phần không vượt quá chiều rộng của lãnh hải của đất liền
hoặc một đảo thì đường ngấn thủy triều thấp nhất sẽ được sử dụng để đo
15
chiều dài của lãnh hải. Một tác dụng khác của các cấu trúc tự nhiên nửa nổi
nửa chìm sẽ là mở rộng vùng lãnh hải của đảo. Tuy nhiên, đối với các cấu
trúc tự nhiên nằm xa hoàn toàn bờ biển ở một khoảng cách rộng hơn lãnh hải
nó sẽ không có bờ biển riêng.
Yếu tố xác định một thực thể có luôn nổi trên mực nước biển khi thủy
đã bị bác bỏ do không thiếu tính chặt chẽ và phù hợp với thực tế xã hội.
“Tại Ủy ban Luật pháp quốc tế khi chuẩn bị cho Hội nghị Luật Biển lần
thứ I, Lauterpacht có ý kiến cho rằng muốn được coi là một đảo thực sự, đảo
đó phải được “chiếm đóng và kiểm soát có hiệu quả”. Tuy vậy, Báo cáo viên
của Ủy ban đã không đồng ý với ý kiến trên vì cho rằng bất cứ một đảo đá
nào cũng có thể sử dụng như một đài quan sát khí tượng hoặc một đài phát
thanh và điều đó có nghĩa là đảo đó đã được kiểm soát và chiếm đóng có hiệu
quả. Như vậy, tại Hội nghị Luật Biển lần thứ I, tiêu chuẩn “có người ở” hoặc
“có thể sử dụng được” đã không được đưa vào trong khái niệm đảo của Công
ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp. Đến Hội nghị Liên hợp quốc về
Luật Biển lần III thì tiêu chuẩn “có người ở” đã được sử dụng rộng rãi. Trong
Tuyên bố về các vấn đề của luật biển, các nước Tổ chức Thống nhất Châu phi
đã nêu lên yếu tố dân cư. Tuy vậy, một số nước như Ireland đã phản đối mạnh
mẽ đề nghị dành quyền tài phán cho các đảo không có người ở. Trong đề nghị
của Rumani có nêu ra yêu cầu đảo phải duy trì được đời sống kinh tế và xã
hội, trong đó bao gồm cả tiêu chuẩn “có người ở”. Có đại diện quốc gia còn
nêu đến số lượng cụ thể của dân số trên đảo. Cuối cùng Hội nghị đã nhất trí
chấp nhận tiêu chuẩn “có người ở” để xác định quy chế đảo” [9].
Theo Công ước 1982 quy định, điều kiện để một đảo hưởng quy chế
pháp lý đầy đủ là đảo đó phải “thích hợp cho người đến sống”. Khái niệm này
rất khó để xác định trên thực tế do trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của
các quốc gia là khác nhau. Điều này dẫn đến một hệ quả là với quốc gia có
trình độ khoa học cao thì có nhiều nguồn lực để cải tạo điều kiện sinh hoạt
17