I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
-----o0o-----
PHAN TH HU
VAI TRò CủA NHà NƯớC TRONG VIệC BảO Vệ
QUYềN CủA NHữNG NGƯờI THUộC NHóM Dễ Bị TổN THƯƠNG
ở việt nam hiện nay
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
-----o0o-----
PHAN TH HU
VAI TRò CủA NHà NƯớC TRONG VIệC BảO Vệ
QUYềN CủA NHữNG NGƯờI THUộC NHóM Dễ Bị TổN THƯƠNG
ở việt nam hiện nay
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS Hong Th Kim Qu
1.1.3. Tổng quan về pháp luật quốc tế và quốc gia về quyền của nhóm dễ bị tổn
thương .............................................................................................................. 12
1.2. Nội dung cơ bản về vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ quyền của
những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương ..................................................... 14
1.2.1. Vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của những người thuộc
nhóm dễ bị tổn thương trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam hiện nay................................................................................................... 15
1.2.2. Vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng pháp luật bảo vệ quyền của
những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương ..................................................... 22
1.2.3. Vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ
quyền của những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương ................................... 27
1.2.4. Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo
dục đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của nhóm ..................................... 35
1.2.5. Vai trò của Nhà nước trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp
luật và cung ứng các dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền của những người thuộc
nhóm dễ bị tổn thương .................................................................................... 39
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CỦA NHỮNG NGƢỜI THUỘC NHÓM DỄ BỊ
TỔN THƢƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. . Error! Bookmark not defined.
2.1. Thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của những
người thuộc nhóm dễ bị tổn thương ................ Error! Bookmark not defined.
2.2. Thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ một số nhóm dễ bị tổn
thương ............................................................ Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của phụ nữ.
........................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của trẻ em.
........................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.3 Thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của người cao
hội dễ bị tổn thương chiếm vị trí rất quan trọng. Kể từ khi Liên Hợp Quốc ra
đời, nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyền đã được tổ chức này thông qua,
trong đó có một số lượng ngày càng nhiều văn kiện đề cập đến quyền của các
nhóm người dễ bị tổn thương.
Nếu như trong một số vấn đề chung về nhân quyền hiện vẫn còn đang
được tranh cãi và ở một số nước bị coi là nhạy cảm, thì trong vấn đề quyền
của các nhóm người dễ bị tổn thương, các quốc gia thường có sự đồng thuận
và ủng hộ ở mức cao. Điều đó thể hiện ở việc hầu hết các điều ước quốc tế về
quyền của các nhóm này, ví dụ như Công ước về quyền trẻ em, …thường có
một số lượng quốc gia thành viên đứng đầu trong các điều ước quốc tế về
nhân quyền.
Ở nước ta, từ trước đến nay Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến bảo
vệ và thúc đẩy sự hưởng thụ các quyền con người nói chung và quyền của các
nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng. Trên thực tế, vấn đề quyền của các
nhóm người dễ bị tổn thương đã được thể hiện trong pháp luật và chính sách
của nhà nước từ rất sớm, trước khi Việt Nam tham gia, thậm chí là trước khi
Liên Hợp Quốc thông qua các điều ước quốc tế có liên quan. Mặc dù vậy, về
cơ bản, nhận thức về các tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề này ở nước ta vẫn còn
rất hạn chế, dẫn đến việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của một số nhóm xã hội
dễ bị tổn thương chưa thật hiệu quả.
Những cộng đồng dễ bị tổn thương là những cộng đồng không chỉ dễ bị
tổn thương về mặt thực thể như trẻ em, người khuyết tật, người già, người
bệnh, các phạm nhân, v.v, mà nhiều khi đó có thể là những nhóm vừa dễ bị
1
tổn thương về mặt thực thể và về mặt xã hội, kinh tế, chính trị, do thiếu nguồn
lực, do sự kỳ thị, hay các dịch vụ dành cho họ. Có những nhóm không bị tổn
thương về mặt thực thể nhưng vẫn là những cộng đồng dễ bị tổn thương do
thiếu nguồn lực kinh tế và xã hội và do định kiến xã hội khiến cho họ khó tiếp
các quy định của pháp luật hiện hành, Luận văn phân tích những vai trò của
Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của những người thuộc nhóm dễ bị tổn
thương nói chung và đi sâu nghiên cứu 4 đại diện của nhóm là phụ nữ, trẻ em,
người cao tuổi, người khuyết tật. Từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, vướng
mắc, nguyên nhân trong việc bảo vệ quyền lợi của những người thuộc nhóm
dễ bị tổn thương; đề xuất được những phương hướng và giải pháp cơ bản, tạo
cơ sở khoa học để xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả vai trò của Nhà
nước trong việc bảo vệ quyền của những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương
trong xã hội ở Việt Nam hiện nay.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Vai trò của nhà nước pháp quyền Việt Nam trong việc bảo vệ quyền của
nhóm những người dễ bị tổn thương trong xã hội đã được đề cập trong nhiều
Hội thảo khoa học, tọa đàm. Vấn đề bảo vệ quyền của từng người trong nhóm
này cũng đã được cụ thể hóa trong nhiều quy định của pháp luật, nhất là trong
Hiến pháp 2013.
Dưới góc nhìn tổng quan về đối tượng cần nghiên cứu là vai trò của Nhà
nước trong việc bảo vệ quyền của những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương
trong xã hội, Luận văn này hy vọng sẽ góp phần làm rõ vai trò của Nhà nước
với việc bảo vệ quyền của nhóm dễ bị tổn thương, thể chế hóa quy định tại
Hiến pháp 2013. Từ đó nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo
quyền con người ở Việt Nam.
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là vấn đề lý luận về nhóm dễ bị tổn
3
thương; vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ quyền của những người thuộc
nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam hiện nay; thực trạng và giải pháp hoàn thiện
vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của nhóm dễ bị tổn thương.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là khái niệm, đặc điểm của những
thương ở Việt Nam.
- Thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của nhóm
dễ bị tổn thương ở Việt Nam hiện nay.
- Quan điểm, giải pháp bảo đảm nâng cao vai trò của Nhà nước trong
việc bảo vệ quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội ở Việt Nam
hiện nay.
2.2. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của Luận văn là quan điểm Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người; đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền của
nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội với tư cách là một trong những
khía cạnh để nâng cao việc bảo vệ quyền con người. Các phương pháp nghiên
cứu để giải quyết vấn đề được sử dụng bao gồm: phương pháp tổng hợp,
thống kê, phân tích, so sánh…
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Luận văn sử dụng các số liệu của Viện nghiên cứu quyền con người, Tổng
cục Thống kê, tham khảo số liệu của một số cơ quan, tổ chức khác đánh giá về
việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay…trong khoảng thời gian từ
2010 đến nay.
3. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Quyền con người nói chung và quyền của nhóm dễ bị tổn thương nói
riêng luôn được quan tâm và ghi nhận trong rất nhiều văn bản pháp luật, thể
hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con
5
người nói chung và quyền của nhóm dễ bị tổn thương nói riêng. Hiến pháp
2013 là bước tiến vượt bậc trong việc bảo đảm quyền của nhóm dễ bị tổn
thương. Luận văn làm rõ vai trò của Nhà nước, đồng thời bám sát các nội
dung quy định trong Hiến pháp 2013 làm cơ sở phân tích, đưa các quy định
chưa có định nghĩa chính thức nào về khái niệm “nhóm người dễ bị tổn
thương” dù cho nó được sử dụng phổ biến trong các văn kiện pháp lý quốc tế
và trong các hoạt động nghiên cứu thực tiễn về quyền con người trên thế giới.
Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm này như sau:
Nhóm người dễ bị tổn thương là “những nhóm, cộng đồng có vị thế về
chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị
bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, và bởi vậy, họ cần được chú ý
bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác”. [23]
+ Theo xác định của UNESCO, nhóm yếu thế/thiệt thòi bao gồm:
những người ăn xin, nạn nhân của các loại tội phạm, người tàn tật, thanh
thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn, nhóm giáo dục đặc biệt, người cao tuổi,
người nghèo, tù nhân, gái mại dâm, người thất nghiệp, người lang thang cơ
nhỡ. Ngoài ra còn kể đến người tị nạn, người xin tị nạn, người bị xã hội loại
trừ . Theo cách xác định này người nghèo, người thất nghiệp cũng được coi
thuộc nhóm yếu thế/ thiệt thòi.
+ Trong một số nghiên cứu ở Việt Nam còn kể thêm nhóm người là nạn
7
nhân chiến tranh, đặc biệt nạn nhân chất độc da cam, nhóm bị bạo lực gia
đình, nạn nhân bị quấy dối và lạm dụng tình dục, nạn nhân buôn bán người,
các đối tượng mắc bệnh xã hội, trẻ em bị ảnh hưởng của HIV/AIDS…Như
vậy có thể nói, nhóm yếu thế (hay nhóm thiệt thòi) là những nhóm xã hội đặc
biệt, có hoàn cảnh khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém hơn so với với các
nhóm xã hội “bình thường” có những đặc điểm tương tự. Họ gặp phải hàng
loạt thách thức, ngăn cản khả năng hòa nhập của họ vào đời sống cộng đồng.
Hàng rào đó có thể liên quan đến thể chất, liên quan đến khả năng, nghề
nghiệp, hoàn cảnh sống, sự đánh giá, kỳ thị của xã hội, các vấn đề tâm lý…
Hàng rào đó có thể là vô hình, có thể là hữu hình, ngăn cản họ tiếp cận và sử
dụng các phương tiện sống thiết yếu hay các dịch vụ xã hội cần thiết cho mọi
các đặc điểm của nhóm như sau:
- Có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn:
Mặc dù luật quốc tế và quốc gia nói rất rõ phân biệt đối xử chống lại
phụ nữ là nghiêm cấm nhưng trên thực tế sự phân biệt đó vẫn tồn tại. Chúng
ta đều biết rằng phụ nữ chiếm khoảng một nửa dân số thế giới tuy nhiên chỉ từ
5-10% trong số họ có vị trí lãnh đạo. Trẻ em là đối tượng yếu đuối về mặt thể
chất do chưa phát triển hoàn thiện. Đa số trẻ em chưa có sức lao động và tài
sản riêng nên tất yếu phải lệ thuộc về kinh tế vào các thành viên trong gia
đình mà trước tiên là bố mẹ, ông bà, anh chị.
Mặc dù Luật cư trú ban hành từ năm 2006 đã quy định nghiêm cấm lạm
dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
nhưng trong thực tế hàng chục thủ tục hành chính vẫn đang “ăn theo” hộ
khẩu, gây khó khăn và trở ngại cho cuộc sống của người dân nhập cư. Theo
Điều 19 Luật thủ đô 2012, trừ các trường hợp được điều động, tuyển dụng
đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm
việc theo hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động không xác định thời hạn, về
9
ở cùng với người thân hoặc trước đây từng có hộ khẩu trong nội thành, các
trường hợp khác muốn đăng ký thường trú ở nội thành phải tạm trú liên tục tại
nội thành từ 3 năm trở lên, có nhà ở thuộc sở hữu của mình hoặc nhà thuê ở
nội thành của tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh nhà ở, bảo đảm điều
kiện về diện tích bình quân (theo quy định của HĐND thành phố Hà Nội) và
được sự đồng ý bằng văn bản cho đăng ký thường trú vào nhà thuê của tổ
chức, cá nhân có nhà cho thuê. Như vậy, những người muốn đến Hà Nội cư
trú và lập nghiệp, những người điều chuyển công tác không thuộc các cơ quan
Nhà nước bị hạn chế về nhập cư tại Hà Nội, thậm chí được gọi là “công dân
hạng hai” vì không có hộ khẩu, gây khó khăn rất nhiều cho người dân.
- Do thể chất chưa phát triển hoặc do giới tính tự nhiên:
điểm thể chất cũng như tinh thần của người già. Về thể chất, có thể thấy rõ
rằng người cao tuổi có phản ứng chậm hơn. Về vấn đề sức khỏe, người cao
tuổi dễ bị mắc bệnh hơn người trẻ, và biểu hiện bệnh thường không rõ ràng.
Đây là vấn đề rất cần được lưu ý. Vì thế, việc quan tâm, chăm sóc người cao
tuổi cần được bảo vệ và nâng cao.
- Có nguy cơ cao bị bỏ quên hay bị coi thường, bị vi phạm các quyền
con người, cần được bảo vệ đặc biệt so với nhóm cộng đồng khác.
Nước ta hiện nay vẫn tồn tại tư tưởng “trọng nam khinh nữ” dẫn đến
việc bạo hành đối với phụ nữ và trẻ em trong gia đình. Hoặc tư tưởng “gia
trưởng” khiến cho những người đàn ông trong gia đình mặc nhiên cho mình
có “quyền đối với vợ con” nên muốn làm gì thì làm. Ngoài ra, việc cha mẹ
thường xuyên trừng phạt, đánh đập con cái một cách dã man đôi khi cũng là
do hiểu sai ý nghĩa câu nói của cha ông ta đã dạy “thương cho roi cho vọt”.
Hiểu sai lầm trong cách dạy dỗ và giáo dục trẻ em cũng như thiếu sự hiểu biết
về pháp luật và bạo lực gia đình từ các thành viên trong gia đình khiến phụ nữ
và trẻ em có nguy cơ cao bị vi phạm các quyền con người và cần được bảo vệ
11
đặc biệt so với nhóm cộng đồng khác.
Theo một báo cáo của tổ chức UNICEF, có hơn 2,6 triệu trẻ em ở Việt
Nam cần được bảo vệ đặc biệt. Trong số đó, trẻ em bị lạm dụng, bị bóc lột và
buôn bán vì mục đích tình dục; trẻ em lang thang cơ nhỡ; trẻ em tật nguyền;
trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ mồ côi; trẻ em bị ruồng bỏ; trẻ em bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS và trẻ em sống trong hoàn cảnh nghèo đói. Hoàn cảnh của các
em đều hết sức nghiệt ngã, rất nhiều em phải tự bươn trải kiếm sống. Một số
em bị bắt phải lao động, còn một số khác phải lang thang trên đường phố chính tình cảnh đó khiến các em có nguy cơ cai bị nhiễm HIV, sử dụng ma
túy và bị lôi cuốn vào các hành vi phạm tội và mại dâm.
Phụ nữ và trẻ em là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất trong cuộc
sống. Các quyền cơ bản của phụ nữ và trẻ em không được đảm bảo, nạn bạo lực
không quốc tịch 1954.
- Quyền của các nạn nhân trong chiến tranh: Các Công ước Giơnevơ
bao gồm: Công ước Giơnevơ I về bảo vệ những người bị thương, bị ốm trong
các lực lượng vũ trang trên đất liền; Công ước Giơnevơ II về bảo vệ những
người bị thương, bị ốm, bị đắm tàu thuộc các lực lượng vũ trang trên biển…
- Quyền của người bản địa: Công ước về các dân tộc và bộ lạc bản địa
ở các quốc gia độc lập 1989,…
- Quyền của người bị tước tự do: Công ước chống tra tấn và các hình
thức trừng phạt và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác.
- Quyền của người thiểu số: Tuyên bố về quyền của những người thuộc
các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ 1992.
- Quyền của người sống chung với HIV/AIDS: Các hướng dẫn quốc tế
về HIV/AIDS và quyền con người 1996; Tuyên bố về “Những hành động
then chốt để tiếp tục thực hiện Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế
về dân số và phát triển” 1999, Tuyên bố chính trị và các sáng kiến và hành
13
động tiếp theo nhằm thực hiện các cam kết được đưa ra tại Hội nghị thượng
đỉnh thế giới về phát triển xã hội năm 2000.
- Quyền của những người đồng tính: Phong trào vận động cho các
quyền của LBGT còn mở cuộc vận động tổ chức quốc tế và tổ chức khu vực,
họ cũng vừa trình lên Liên Hợp quốc một dự thảo Tuyên bố của Liên Hợp
quốc về định hướng tình dục và sự đồng giới ngày 18/12/2008.
Bên cạnh việc tìm hiểu các văn bản luật quốc tế quy định về quyền của
nhóm yếu thế, tác giả xin được trình bày quyền của những người thuộc nhóm
dễ bị tổn thương theo pháp luật Việt Nam. Đây là các cơ sở pháp lý quan
trọng về quyền của những người yếu thế. Bên cạnh đó, việc ghi nhận quyền
của người yếu thế trong pháp luật Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt với những
người này tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể thực hiện quyền của mình và
pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Hiến pháp 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày
28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/1/2014. Hiến pháp 2013 có nhiều nội
dung mới, chứa đựng hàm lượng khoa học sâu sắc, tính chân thực, chính xác,
rõ ràng, phản ánh đúng đắn tình hình thực tiễn công cuộc đổi mới toàn diện
đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực
phấn đấu, vượt qua muôn ngàn chông gai, thử thách, giành được những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Một trong những nội dung mang tính thời sự
nóng bỏng, thu hút sự quan tâm theo dõi, của nhiều người cả ở trong nước và
bạn bè quốc tế, thậm chí cả các thế lực thù địch vì nó liên quan trực tiếp đến
sinh mệnh, sự sống còn của quốc gia, dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiện
nay là việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Cụ thể Điều 2 ghi rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân
dân, vì Nhân dân. 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân
15
làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”;
Điều 3 khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công
dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,
mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện”. Hiến pháp là Văn kiện chính trị pháp lý cơ bản nhất, thiêng liêng nhất
và quan trọng nhất, đồng thời khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân và
Nhân dân là chủ thể trong xây dựng và nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà mọi
quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan nhà nước do mình trực tiếp bầu
các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền của người tiêu dùng; …và một số
nhóm người khác như người đồng tính, người nước ngoài định cư tại Việt
Nam, và Việt kiều; gia tăng vai trò của các tổ chức phi chính phủ quốc gia và
quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quyền con người; quyền của người
đồng tính,...). Sự tác động của biến động kinh tế, nhất là của khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua, đến tình hình kinh tế - xã hội
Việt Nam; sự tác động đa chiều của truyền thông và dư luận xã hội trong điều
kiện tồn tại, phát triển các mạng xã hội; sự tác động của pháp luật và cơ chế
nhân quyền quốc tế, khu vực đến công tác bảo đảm quyền con người,... cũng
tác động đến thực hiện quyền con người. Hiện nay, dưới sự tác động của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nhà nước
cần phải thể hiện vai trò và trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm quyền
của những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương. Bộ máy Nhà nước từ trung
ương đến địa phương cần chung tay góp sức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo
vệ quyền và lợi ích của những người dễ bị tổn thương ở Việt Nam hiện nay.
17
Bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của những người thuộc
nhóm dễ bị tổn thương nói riêng là xu thế quốc tế. Nghị quyết của Đại hội đồng
nhân quyền ngày 03/4/2006 “Khẳng định thêm rằng tất cả các quyền con người
là phổ quát, không thể chia cắt, quan hệ với nhau, phụ thuộc và củng cố lẫn
nhau, và rằng tất cả các quyền con người phải được đối xử một cách công bằng
và bình đẳng, trên cùng một vị thế và với cùng mức độ coi trọng,
Tái khẳng định rằng, trong khi lưu ý đến đặc thù quốc gia, khu vực và
các bối cảnh lịch sử, văn hóa và tôn giáo khác nhau, tất cả các quốc gia
không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế và văn hóa, có trách nhiệm thúc
đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản,
Nhấn mạnh trách nhiệm của tất cả các nước, phù hợp với Hiến chương,
tôn trọng nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không có bất kỳ
nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân; ngăn chặn
tình trạng phân biệt đối xử, hoặc sự hình thành các thế lực đe dọa quyền con
người, quyền công dân của những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương trên
các lĩnh vực; điều tra, trừng trị và phục hồi các quyền đã bị vi phạm hoặc bồi
thường khi có sai phạm từ phía cơ quan, người có thẩm quyền.
- Thực hiện (obligation to fulfil): Nhà nước chủ động xây dựng thể chế
(pháp luật, quy chế và thiết chế) cũng như các chiến lược, kế hoạch, chương
trình phát triển, biện pháp quản lý cụ thể để bảo đảm cho những người thuộc
nhóm dễ bị tổn thương được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền
con người, quyền công dân, tạo sự bình đẳng cao nhất có thể giữa họ với các
cộng đồng khác. Việc thực hiện chỉ được bảo đảm (bảo đảm thực hiện) khi
các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản
lý được đề ra (hay xây dựng) phải mang tính khả thi và hiệu quả, chứ không
phải chúng được đề ra một cách hình thức, đặc biệt trong quá trình thực thi
các quyền con người, quyền công dân của các nhóm yếu thế. Nói cách khác,
19