I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
LNG XUN TRNG
BảO Vệ QUYềN CON NGƯờI BằNG
CáC CHế ĐịNH Về CHấP HàNH HìNH PHạT
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
LNG XUN TRNG
BảO Vệ QUYềN CON NGƯờI BằNG
CáC CHế ĐịNH Về CHấP HàNH HìNH PHạT
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TSKH Lấ VN CM
H NI - 2017
Khái niệm quyền con người ................................................................ 8
1.1.2.
Các đặc điểm cơ bản của quyền con người ....................................... 16
1.2.
Nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định về chấp
hành hình phạt ................................................................................... 20
1.2.1.
Bảo vệ quyền con người bằng chế định miễn chấp hành hình phạt ....... 20
1.2.2.
Bảo vệ quyền con người bằng chế định giảm mức hình phạt đã tuyên ..... 22
1.2.3.
Bảo vệ quyền con người bằng chế định giảm thời hạn chấp hành
hình phạt trong trường hợp đặc biệt .................................................. 26
1.2.4.
Bảo vệ quyền con người bằng chế định hoãn chấp hành hình
phạt tù ................................................................................................ 29
pháp hình sự ...................................... Error! Bookmark not defined.
2.1.2.
Phân tích một số văn bản quốc tế cơ bản về quyền con người
trong lĩnh vực tư pháp hình sự .......... Error! Bookmark not defined.
2.2.
Thực trạng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên
quan đến các chế định về chấp hành hình phạtError! Bookmark not defined
2.2.1.
Các chế định về chấp hành hình phạt trong Bộ Luật hình sự 1985Error! Bookmark
2.2.2.
Các chế định về chấp hành hình phạt trong Bộ Luật hình sự 1999Error! Bookmark
2.2.3.
Các chế định về chấp hành hình phạt trong Bộ luật hình sự
năm 2015 ........................................... Error! Bookmark not defined.
Kết luận chƣơng 2 ......................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY
PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH VỀ CHẤP
HÀNH HÌNH PHẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM THEO HƢỚNG TĂNG CƢỜNG HƠN NỮA
Chế định giảm mức hình phạt đã tuyênError! Bookmark not defined.
3.2.3.
Chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp
đặc biệt .............................................. Error! Bookmark not defined.
Kết luận chƣơng 3 ......................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN .................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 43
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một nhà nước tiến bộ là nhà nước tồn tại trên cơ sở hướng tới việc bảo
đảm các quyền và lợi ích của con người, hạnh phúc của con người là thước đo
mọi giá trị của cuộc sống. Một nhà nước dân chủ, tiến bộ luôn là cái đích mà
tất cả các nhà nước trên thế giới đều mong muốn có được.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã xác
định rõ và quy định ngay tại Điều 3 về Nhà nước có trách nhiệm “công nhận,
tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người,quyền công dân” và đưa “Quyền
con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thành một chương, đặt
ngay sau Chương I về chế độ chính trị. Nội dung của các quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong các điều khác
của Hiến pháp năm 2013 phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người
mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước quyền con người về chính trị, dân
sự và Công ước quyền con người về kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 của
Liên hợp quốc. Đây cũng chính là sự khẳng định cam kết mang tính hiến định
của Nhà nước ta trước Nhân dân và trước cộng đồng quốc tế về trách nhiệm tôn
hình thức, cụ thể như sau:
Một là, sách chuyên khảo về quyền con ngƣời nói chung
1) GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh
Tùng (đồng chủ biên), Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính
trị quốc gia Hà Nội 2009; 2) PGS. TS. Nguyễn Văn Động, Quyền con người,
quyền công dân trong Hiến pháp, NXB Khoa học xã hội Hà Nội 2005; 3) GS.
TS. Trần Ngọc Đường, Bàn về quyền con người, quyền công dân, NXB Chính
trị quốc gia Hà Nội 2004; 4) Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung
tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Luật Nhân quyền quốc
tế những vấn đề liên quan, NXB Lao động xã hội Hà Nội 2011; 5) GS. TS.
2
Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo dục quyền con người -Những vấn đề lý luận
và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội Hà Nội 2010;....
Hai là, sách chuyên khảo về quyền con ngƣời trong lĩnh vực tƣ
pháp hình sự:
1) GS. TSKH. Lê Cảm, Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây
dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2009; 2) PGS.TS
Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên), Sách chuyên khảo: Quyền con người trong lĩnh
vực tư pháp hình sự, NXB Hồng Đức 2015; 3) Tòa án nhân dân tối cao - Vụ
hợp tác Quốc tế, Quyền con người trong thi hành công lý, NXB Lao động -Xã
hội Hà Nội 2010; 4) Trần Quang Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong Luật
hình sự, Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2004; ...
Ba là, các bài báo khoa học về lĩnh vực bảo vệ quyền con ngƣời
1) GS. TSKH. Lê Văn Cảm, Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm
hình sự - Một yếu tố cơ bản và quan trọng nhất trong việc bảo vệ con người
bằng pháp luật hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân, số 2/1990; 2) GS. TSKH.
Lê Cảm, Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật
quyền con ngƣời bằng các chế định về chấp hành hình phạt trong luật
hình sự Việt Nam. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu làm
luận văn thạc sĩ luật học.
3. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ khái niệm, các đặc điểm quyền cơ bản của con người được bảo
vệ thông qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự. Đồng
thời, đi sâu phân tích bản chất nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam được
thể hiện thông qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự
Việt Nam cũng như việc bảo vệ quyền con người thông qua các chế định sau:
1) Miễn chấp hành hình phạt; 2) Giảm mức hình phạt đã tuyên; 3) Giảm thời
hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt; 4) Hoãn chấp hành hình
phạt tù; 5) Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 6) Tha tù trước thời hạn có
điều kiện. Qua đó, căn cứ vào Hiến pháp Việt Nam năm 2013, xu thế hội
4
nhập quốc tế và thực tiễn bảo vệ pháp luật ở nước ta để đưa ra những đề xuất,
giải pháp bảo đảm thực hiện, góp phần hoàn thiện các chế định về chấp hành
hình phạt trong luật hình sự Việt Nam theo hướng tăng cường hơn nữa việc
bảo vệ quyền con người.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn xoay quanh vấn đề bảo vệ các
quyền con người bằng các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình
sự Việt Nam, cụ thể là: 1) Chế định miễn chấp hành hình phạt; 2) Chế định
giảm mức hình phạt đã tuyên; 3) Chế định giảm thời hạn chấp hành hình
phạt trong trường hợp đặc biệt; 4) Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù;
5) Chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 6) Chế định tha tù trước
thời hạn có điều kiện.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
phạt trong luật hình sự Việt Nam nói riêng là một vấn đề hết sức cần thiết,
qua đó bổ sung vào kho tàng lý luận về bảo vệ quyền con bằng các chế định
về chấp hành hình phạt, góp phần cụ thể hóa nội dung bảo vê ̣ và bảo đảm
quyền con người quy định tại Hiến pháp Việt Nam năm 2013.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo về mặt lý luận cho việc
nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con bằng các chế định về chấp hành hình
phạt. Ngoài ra, luận văn còn là cơ sở để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện
pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến các chế định về chấp hành hình
phạt, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vê ̣ và bảo đảm quyền
con người trong quá trình thi hành án hình sự.
7. Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người thông
qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, đi sâu
6
nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người thông qua chế định: miễn chấp hành
hình phạt; giảm mức hình phạt đã tuyên; giảm thời hạn chấp hành hình phạt
trong trường hợp đặc biệt; hoãn chấp hành hình phạt tù; tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù; và chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện, trong pháp luật
hình sự Việt Nam. Những điểm mới cơ bản của luận văn như sau:
- Trên cơ sở kế thừa, phát huy kết quả nghiên cứu của các học giả, tác
giả đã đưa ra được các khái niệm về: Miễn chấp hành hình phạt; giảm mức
hình phạt đã tuyên; giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc
biệt; hoãn chấp hành hình phạt tù; tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; tha tù
trước thời hạn có điều kiện.
- Phân tích, làm rõ được một số nội dung bảo vệ quyền con người bằng
các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam.
thành viên Liên hợp quốc phải [40, tr.63]: 1) Là mục tiêu chung cho tất cả các
dân tộc và các quốc gia phấn đấu đạt tới; 2) Tôn trọng các quyền và tự do cơ
bản của con người, đồng thời tôn trọng và bảo đảm việc tuân thủ một cách
nghiêm chỉnh và hữu hiệu chúng.
Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định giá trị quyền con người:
Mọi thành viên trong gia đình, nhân loại đều có quyền bình đẳng và đó là
những quyền không ai có thể xâm phạm được. Các quyền này được thực hiện
không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hay giới tính, đồng thời được
ghi nhận chính thức trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm
1948. Tuyên ngôn này đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận,
tuy nhiên việc thực thi Tuyên ngôn này cũng như các công ước về quyền con
người tại các quốc gia khác nhau là hết sức linh hoạt, phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh thực tế của mỗi quốc gia.
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 là văn kiện
pháp lý xác lập các tiêu chuẩn quốc tế cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con
8
người trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Thông qua việc
thừa nhận Công ước, các quốc gia chấp nhận và tự cam kết đảm bảo thực hiện
quyền con người tại quốc gia mình.
Tiếp đó năm 1968, Tuyên bố Tê-hê-ran tại Hội nghị thế giới về quyền
con người được tổ chức tại Iran đã khẳng định:
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã xác nhận một
nhận thức chung của các dân tộc trên thế giới về các quyền bất di,
bất dịch và không thể bị xâm phạm của mọi thành viên trong gia
đình, nhân loại và thiết lập một nghĩa vụ cho các thành viên của
cộng đồng quốc tế.
Hội nghị cũng khẳng định sự tin tưởng với các nguyên tắc được đề cập
5 về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gia lao động công nghiệp, Công ước
số 6 về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp, Công ước số 14 về
quy định nghỉ hằng tuần cho lao động công nghiệp…
Việt Nam cũng tích cực tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc,
hợp tác nhân quyền trong khuôn khổ Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp. Bên
cạnh đó, với tư cách là thành viên ASEAN, Việt Nam cũng tích cực tham gia
vào các khuôn khổ hợp tác khu vực về nhân quyền, trong đó có Ủy ban Liên
Chính phủ về nhân quyền ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam còn thường xuyên tham
gia đối thoại nhân quyền với các nước như: Mỹ, Australia, Thụy Sỹ và EU.
Để thực hiện tốt các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền con người,
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
năm 1991 đã khẳng định: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định
các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách
nhiệm” [19, tr.422]. Trên tinh thần của Cương lĩnh xây dựng đất nước năm
1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW ngày
12/7/1992, Chỉ thị này đã ghi nhận những quan điểm quan trọng về vấn đề
quyền con người và bảo vệ quyền con người:
10
Quyền tự do, dân chủ của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa
vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương,
pháp luật. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyên chính với mọi hành
động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.... [59, tr.484].
Tiếp theo, vào tháng 1/2011, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã
chính thức đưa ra luận điểm mang tính chỉ đạo về sửa đổi Hiến pháp năm
1992, trong đó Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết của các nguyên tắc tiến bộ
và dân chủ, cụ thể như: Chủ quyền của nhân dân cao hơn chủ quyền của Nhà
bảo tồn văn hoá truyền thống. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số không
ngừng được nâng cao.
Quyền khiếu nại, tố cáo được đảm bảo; quyền bất khả xâm phạm thân
thể và quyền được bảo vệ tính mạng sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của
người dân luôn được tôn trọng.
Về kinh tế, GDP bình quân đầu người liên tục tăng, tỷ lệ đói nghèo
giảm. Việt Nam đã đạt được mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Liên hợp
quốc đặt ra là giảm một nửa tỷ lệ đói nghèo giai đoạn 1990 – 2015; hoàn
thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ; các chương trình chăm sóc y
tế đã thu được kết quả khá. Việc khám chữa bệnh cho người nghèo, vùng sâu,
vùng xa, được quan tâm; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được những
kết quả đáng khích lệ, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên từng năm.
Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục-đào tạo tăng nhanh, hình thức
giáo dục-đào tạo được đa dạng hoá, đã đảm bảo công bằng xã hội trong văn
hoá, giáo dục. Lượng thông tin được cung cấp phong phú hơn về số lượng, đa
dạng về chủng loại, hấp dẫn hơn về nội dung và hình thức. Người dân được
tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại.
Các quyền con người về mặt xã hội, đảm bảo công bằng về quyền lợi
và nghĩa vụ công dân ngày càng được phát huy. Đã kết hợp tốt giữa tăng
12
trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Quyền bình đẳng nam, nữ
được tôn trọng. Phụ nữ tham gia công tác xã hội và chính trị ngày càng nhiều,
có mặt ở các vị trí lãnh đạo các cấp Trung ương và địa phương.
Có thể khẳng định, Quyền con người ở Việt Nam không ngừng được
phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế
xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi
mới ở Việt Nam. Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền
thống nhất với những quy định của quốc tế. “Tuyên ngôn toàn thế giới về
Nhân quyền” của Liên hợp quốc (năm 1948), được coi là bản “Tuyên ngôn
đầu tiên của toàn nhân loại” và là “lý tưởng chung nhất mà tất cả các dân
tộc, quốc gia phải đạt tới” [6, tr.144], đã công nhận con người có 26 quyền cơ
bản, gồm ba nhóm sau:
Các quyền dân sự, là những quyền tự do cơ bản của cá nhân, như:
quyền sống, quyền tự do thân thể; quyền không bị xâm phạm cá nhân; quyền
bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi thông
tin, tự do di chuyển chỗ ở; quyền tự do đi lại và cư trú; quyền có quốc tịch và
thay đổi quốc tịch; quyền kết hôn và lập gia đình; quyền sở hữu; quyền được
xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa.
Các quyền về chính trị, là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình
trong đời sống chính trị; quyền tham gia công việc quản lý của nhà nước và
đời sống xã hội; quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội, gia nhập
hội; quyền tự do ngôn luận thể hiện chính kiến của mình; quyền được thông
tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng.
Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, là các quyền về sở hữu tài sản;
quyền trao đổi; quyền lao động và tự do thể hiện năng lực của mình trong lao
động; quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ, được chăm sóc
sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa.
Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể nên nó luôn đi cùng
14
với sự phát triển của nhân loại, đặc biệt trong những năm gần đây vấn đề bảo
vệ quyền con người luôn là vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm, GS.TSKH
Lê Văn Cảm cho rằng:
Việc bảo vệ các quyền con người đã và vẫn đang là vấn đề
trung tâm có ý nghĩa thời đại của hành tinh chúng ta,... vì nó không
động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, đồng thời vừa là tiền đề, điều kiện của
nhau, vừa là hệ quả của nhau, ...
TS. Trần Quang Tiệp đưa ra định nghĩa: "Quyền con người là những
đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều
kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định" [50, tr.14].
Trên cơ sở phân tích các quan điểm quốc tế về nhân quyền cũng như
những quan điểm của các học giả tại Việt Nam, tác giả đưa ra khái niệm
quyền con người như sau: Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có
của con người, những nhu cầu, lợi ích tự nhiên của con người cần được tôn
trọng và bảo vệ bằng pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của quyền con người
- Quyền con người có tính chất tự nhiên, vốn có của con người
Hiến pháp năm 2013 khẳng định "Nhà nước bảo đảm và phát huy
quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền
con người, quyền công dân" [45].
Vì vậy, khi quy định quyền con người, quyền công dân, hầu hết các
điều của Hiến pháp năm 2013 quy định trực tiếp "mọi người có quyền...",
"công dân có quyền" để khẳng định rõ đây là những quyền đương nhiên của
con người, của công dân được Hiến pháp ghi nhận và Nhà nước có trách
nhiệm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền này.
Đây chính là nguyên tắc hiến định rất quan trọng về quyền con người,
quyền công dân và theo nguyên tắc này, từ nay không chủ thể nào, kể cả các
cơ quan nhà nước được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền con người, quyền
16
công dân đã được quy định trong Hiến pháp. Cũng từ nguyên tắc này, các quy
định liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân
(như quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp
thừa nhận các quyền và tự do của người khác, hoặc để bảo đảm các yêu cầu
về đạo đức, trật tự công cộng và sự thịnh vượng nói chung trong một xã hội
dân chủ. Đồng thời, các quyền được ghi nhận trong các công ước có thể hạn
chế bởi pháp luật của quốc gia nhưng chỉ trong một chừng mực tương thích
với bản chất những quyền đó, với mục đích chính là để bảo vệ quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Tuy nhiên có một số quyền nhất định trong các công ước không
bao giờ bị hạn chế hoặc tạm dừng việc thực hiện, thậm chí trong
những trường hợp khẩn cấp, đó là quyền: sống, tự do không bị tra tấn,
tự do không bị nô lệ hoặc nô dịch, thừa nhận tư cách con người trước
pháp luật và tự do tín ngưỡng, tư tưởng, tôn giáo [40, tr.40].
- Quyền con người gắn liền với mỗi con người kể từ khi sinh ra
Quyền công dân gắn liền với quốc tịch của mỗi con người, do vậy công
dân mang quốc tịch của quốc gia nào thì sẽ được quốc gia đó bảo hộ. Quyền
con người thì lại khác, quyền con người không gắn với quốc tịch và với mỗi
quốc gia mà quyền con người thì gắn liền với cá nhân người đó, không kể là
người có quốc tịch hay người không có quốc tịch. Ngay khi sinh ra con người
đã có sẵn những quyền đó, tùy thuộc vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia
mà quyền con người sẽ được thừa nhận và bảo vệ ở các mức độ khác nhau.
- Quyền con người được bảo vệ bằng pháp luật
Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền nào là quyền con người, quyền
nào là quyền công dân và quy định theo thứ tự: đầu tiên là các nguyên tắc
hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tiếp
đến là các quyền dân sự, chính trị rồi đến các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
và cuối cùng là các nghĩa vụ của cá nhân, của công dân. Hiến pháp năm 2013
18
thay vì quy định “công dân” như Hiến pháp năm 1992 đã quy định “mọi
19