ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------o0o------
PHẠM NGỌC HÒA
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------o0o------
PHẠM NGỌC HÒA
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
BẰNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
1.1.2 Quyền con người và các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người ..........14
1.2 Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và quyền con người ............................ 23
1.2.1 Vị trí của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người. ......23
1.2.2 Vai trò của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người ....23
1.2.3 Ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự trong bảo vệ quyền con người ...26
1.2.4 Đặc điểm của việc bảo vệ quyền con người bằng quy định về trách
nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam...................................................... 29
Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................................33
CHƢƠNG 2: BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG QUY ĐỊNH VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM. ............35
2.1 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về cơ sở của
TNHS. ...................................................................................................................35
2.2 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về tuổi chịu
TNHS. ...................................................................................................................50
2.3 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về tình trạng
không có năng lực TNHS. .................................................................................... 61
2.4 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng quy định về thời hiệu
truy cứu TNHS. .....................................................................................................65
2.5 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách
nhiệm hình sự trong phần các tội phạm ................................................................ 72
Kết luận chƣơng 2 ...................................................................................................76
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀO CÔNG
TÁC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI ..................................................................78
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp
luật hình sự về trách nhiệm hình sự góp phần bảo vệ quyền con người ở Việt
Nam hiện nay. .......................................................................................................78
3.2 Những đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định một số quy phạm cụ thể
NXB
Nhà xuất bản
C44
Văn phòng cơ quan cảnh sát điều tra
C64
Cục Cảnh sát quản lý hành chính trật tự xã hội
A92
Cục An ninh điều tra
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.
Thống kê số vụ án do cơ quan điều tra trong công an nhân dân
tiến hành từ 2010-2015. Báo cáo của V11- Bộ công an.
Bảng 2.2
Thống kê số vụ án được cơ quan điều tra và viện kiểm sát đình
chỉ từ năm 2010-2014. ( Báo cáo của V11 - Bộ công an.
Bảng 2.3
cao nhận thức pháp luật và ý thức pháp lý; từng bước tiến tới hạn chế đến mức thấp
1
nhất những ảnh hưởng của tội phạm gây ra. Từ đó, nâng cao pháp chế, giữ gìn trật
tự pháp luật, duy trì kỷ cương xã hội, bảo vệ và bảo đảm quyền con người.
Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng hoàn thiện và áp dụng chính xác
pháp luật hình sự được đặt ra như là một trong những yêu cầu cấp thiết của việc
khẳng định và bảo vệ quyền con người. Qua thực tiễn nghiên cứu cũng như thi hành
Bộ luật hình sự, mặc dù đã đạt được những thành tựu mang ý nghĩa tích cực trong
công tác phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền con người, tuy nhiên thực tế đã
chỉ ra nhiều vướng mắc, thiếu sót cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Đặc biệt,
chúng ta có thể đề cập đến chế định trách nhiệm hình sự như là một trong ba chế
định quan trọng nhất bên cạnh tội phạm và hình phạt. Cụ thể, qua công tác nghiên
cứu lý luận luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, quy định
pháp luật hình sự nước ta còn thiếu quy định hoặc quy định chưa rõ về nhiều vấn
đề liên qua đến chế định vừa đề cập ở trên như: khái niệm về trách nhiệm hình sự,
cơ sở của trách nhiệm hình sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự, quy định về trách nhiệm hình sự pháp nhân... Thêm vào đó,
công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự trong thời gian qua chưa
được quan tâm đúng mức nên một số quy phạm pháp luật hình sự, trong đó có các
quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự, còn có những nhận thức không thống
nhất, gây khó khăn cho việc vận dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn.
Vì vậy, xuất phát từ những nguyên nhân kể trên, ta thấy được việc nghiên
cứu cụ thể vấn đề: “Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về trách nhiệm
hình sự trong Luật hình sự Việt Nam” là vô cùng cần thiết. Công tác nghiên cứu
góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng pháp luật đặc biệt là trong lĩnh vực
tư pháp hình sự và cụ thể là trong chế định về trách nhiệm hình sự. Từ đó, giúp cho
các cơ quan bảo vệ pháp luật có cơ sở để tăng cường tính hiệu lực, hiệu qua trong
nhiều đã được đề cập đến tại các công trình đáng chú ý sau:
* Sách chuyên khảo, tham khảo và đề tài khoa học:
GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền, (Sách chuyên khảo) Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009;
GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần
3
chung), (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; TS. Trần Quang
Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam,
(Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; GS.TSKH Lê Văn Cảm,
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), Bảo vệ các
quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai
đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số: QL. 04.03, Hà Nội, 2006...
* Cấp độ các bài viết, chúng ta có thể tham khảo một số ấn phẩm như:
GS.TSKH Lê Văn Cảm, Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người
bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, các số: 11
(6/2006), 12 (6/2006), 13 (7/2006); 14 (7/2006); GS.TSKH Lê Văn Cảm, Bảo vệ
quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự - ý nghĩa của việc nghiên cứu, đăng
trên Tạp chí Khoa học, (Luật học), số 26 (2010); PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Bảo vệ
quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học, (Kinh tế - Luật),
số 23 (2007); Nguyễn Ngọc Chí - Trần Thu Hạnh. Hoàn thiện chế định TNHS - Yếu
tố quan trọng để xây dựng Nhà nước Pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 18 ; Trịnh Quốc Toản. Vấn đề TNHS pháp
nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 19 (2013); Hoàn thiện quy phạm về trách
nhiệm hình sự - yếu tố cơ bản và quan trọng nhất trong việc bảo vệ con người bằng
pháp luật hình sự ( Tạp chí Tòa án nhân dân các số 2,3,4 năm 1990); Đinh Thế Hưng,
luận và một phần nhỏ những vấn đề về thực tiễn bảo vệ các quyền con người bằng
các quy định về TNHS trong Phần chung và một số quy định trong phần các tội phạm
của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999. Luận văn đi sâu nghiên cứu sự bảo vệ
quyền con người thể hiện qua các quy định về trách nhiệm hình sự nói chung được
quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và không đi
sâu vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự do đây là nội dung thuộc một chế định khác.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Làm rõ khái niệm, đặc điểm quyền cơ bản của con
người được bảo vệ thông qua các chế định về trách nhiệm hình sự trong pháp luật
hình sự. Đồng thời, người viết đi sâu phân tích tính nhân đạo của pháp luật hình
5
sự Việt Nam được thể hiện thông qua các quy định này. Trên cơ sở ấy, căn cứ vào
xu thế hội nhập, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực tiễn bảo vệ
pháp luật ở nước ta để đưa ra những đề xuất, giải pháp bảo đảm thực hiện, góp phần
hoàn thiện quy định về Trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam theo
hướng bảo vệ quyền con người.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Về lý luận: Trên cơ sở những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), có liên hệ với những quy định của Bộ luật hình
sự năm 2015 trong các quy định về trách nhiệm hình sự phân tích khái niệm, bản
chất của các các quy định này để làm sáng tỏ ý nghĩa của sự bảo vệ quyền con
người.
- Về thực tiễn: Thông qua những ví dụ cụ thể, người viết đánh giá sự bảo vệ
quyền con người bằng quy định về Trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong Bộ
luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009). Từ đó, đóng góp một số giải
pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định về trách nhiệm hình sự theo hướng bảo
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, người viết đã phân tích và chỉ
ra một số nội dung bảo vệ các quyền con người bằng những quy phạm về TNHS
trong Phần chung và một số điều trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mà
theo tác giả cho là chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất. Đồng thời, đưa ra một số
kiến nghị, nhằm khắc phục phần nào những hạn chế còn tồn tại trong những quy
định của pháp luật thực định, hướng tới tăng cường bảo vệ các quyền con người.
* Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Cùng với ý nghĩa về mặt lý luận, luận văn đã nghiên cứu, nhận ra một số tồn
tại, trong hoạt động thực tiễn,xét về bình diện bảo vệ các quyền con người bằng các
quy định về TNHS, đưa ra căn cứ và giải pháp nhằm khắc phục phần nào tồn tại và
hạn chế, nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ các quyền con người. Ngoài ra, luận
văn còn có ý nghĩa trong hoạt động nghiên cứu khoa học đối với các luật gia, học
viên, sinh viên chuyên ngành tư pháp hình sự, kể cả những người làm công tác thực
tiễn trong lĩnh vực tư pháp - hình sự, như trong hoạt động tố tụng hình sự.
7
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng quy định về
TNHS trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Bảo vệ quyền con người bằng quy định trong Bộ luật hình sự Việt
Nam.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những
quy định về trách nhiệm hình sự vào công tác bảo vệ quyền con người.
8
9
tội của mình. Hành vi phạm tội có thể là các hành vi vi phạm những điều pháp luật
hình sự cấm, hoặc không thực hiện những nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện; từ đó
gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp
luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Nhà nước quy định TNHS để áp dụng đối với
người phạm tội theo một thủ tục duy nhất là thủ tục tố tụng hình sự. Việc áp dụng
thủ tục này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người phạm tội, hoặc ý
muốn của người bị hại (trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tại những
điều khoản mang tính chất loại trừ được ghi nhận riêng biệt và cụ thể). Trách nhiệm
hình sự phát sinh từ khi có hành vi phạm tội, từ thời điểm đó Nhà nước có quyền
yêu cầu người phạm tội phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Qua công tác tham khảo, nghiên cứu cho thấy, chế định trách nhiệm hình sự
là một vấn đề lý luận phức tạp. "Hiện nay giữa các nhà khoa học còn tồn tại nhiều
quan điểm khác nhau" [20, tr.41]. Chúng ta có thể nêu ra ra một số quan điểm nổi
bật như sau. Theo GS.TSKH. Đào Trí Úc định nghĩa: “TNHS là hậu quả pháp lý
của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành
vi của mình trước Nhà nước [20, tr 41]”. GS.TSKH. Lê Cảm khẳng định: “TNHS là
hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối
với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp chế của Nhà nước do Luật hình sự
quy định [23, tr.122]”. GS.TS. Đỗ Ngọc Quang quan niệm: “TNHS là một dạng
trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong PLHS bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy
thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện
[28, tr.14]”. Trong cuốn sách chuyên khảo "Tội phạm và trách nhiệm hình sự", TS
Trịnh Tiến Việt coi trách nhiệm hình sự "là một dạng trách nhiệm pháp lý và là hậu
quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng
một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Bộ luật hình sự quy định đối
được khi tiến hành xử lý tội phạm và người phạm tội. Điều đó cho thấy bản chất
nhân đạo và tính hướng thiện của pháp luật hình sự hiện đại. Trên cơ sở tổng hợp
đầy đủ những căn cứ, điều kiện, Nhà nước xác định TNHS một cách công minh,
công bằng sẽ là tiền đề vững chắc để giáo dục người phạm tội có thể trở lại với cuộc
sống lương thiện. Bên cạnh đó, đối tượng tác động của TNHS còn là tất cả các
thành viên khác trong xã hội. Nếu như TNHS tác động trực tiếp đến người phạm tội
thì đối với những thành viên khác trong xã hội đó là sự tác động mang tính gián
tiếp. Sự tác động ấy là tác động vào tâm lý của các thành viên còn lại trong xã hội,
12
đặc biệt là nhóm người đang có thái độ tâm lý chưa vững vàng, đang đứng trước
nguy cơ trở thành người phạm tội. Việc quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự sẽ
làm những đối tượng này thấy được hậu quả tất yếu mà mình phải gánh chịu khi
thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó, làm cho những người này từ bỏ ý định phạm
tội và lựa chọn cách xử sự phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, tránh việc lựa
chọn xử sự phạm tội. Các quy định về trách nhiệm hình sự còn góp phần xây dựng
một bộ khung cho những xử sự của con người trong đời sống, từng bước nâng cao ý
thức pháp luật cho nhân dân, nâng cao tính tích cực của nhân dân trong công cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm; góp phần từng bước tăng cường hơn nữa công tác
bảo vệ quyền con người.
* Ý nghĩa của việc ghi nhận chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam:
Với vị trí và vai trò quan trọng nêu trên chúng ta có thể thấy được ý nghĩa to
lớn của chế định TNHS. Chế định TNHS là một bộ phận quan trọng cấu thành nên
pháp luật hình sự. Chế định trách nhiệm hình sự ra đời dựa trên các quan điểm, chủ
trương, đường lối của giai cấp cầm quyền phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa xã
hội, truyền thống pháp lý và thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm ở
mỗi quốc gia. Thông qua đó, phản ánh sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với các
hành vi phạm tội, là sự phủ định lại những hành vi mang tính chất nguy hiểm xâm
lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý... Xét về ý nghĩa, bên cạnh thuật ngữ
“quyền con người”, có một thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng, đó là “nhân
quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ "human rights" - chúng
ta có thể được dịch là quyền con người (theo nghĩa thuần Việt) hoặc nhân quyền (
theo nghĩa Hán - Việt). Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền
con người”. Như vậy, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do đó,
chúng ta có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn.
Mặc dù có quá trình hình thành và phát triển lâu đời nhưng hiện nay, khái
niệm quyền con người vẫn được xác định là phức tạp với nhiều cách hiểu khác
nhau. Trong tiến trình lịch sử ấy, quyền con người được tiếp cận với nhiều trường
phái và môn học khác nhau. Với nội hàm rộng và có tính chất tổng hợp, đa ngành,
chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người. Ở mỗi định
nghĩa quyền con người được tiếp cận theo những khía cạnh riêng. Theo một tài liệu
của Liên hợp quốc, từ trước đến nay "có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người
14
đã được công bố" [54, Tr. 4] đã cho thấy đây là hướng nghiên cứu nhận được sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới. Khi nghiên cứu về quyền con
người , có hai trường phái nổi bật là trường phái quyền tự nhiên và trường phái
quyền pháp lý, với sự góp mặt của nhiều học giả nổi tiếng.
Các tác giả theo học thuyết quyền tự nhiên tiêu biểu là Thomas Hobbes, John
Locke, Thomas Paine coi "quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi
cá nhân đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại"
[13]. Mọi cá nhân sinh ra mặc nhiên đều có và đều được hưởng quyền này mà
không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan bên ngoài nào. Không một cá nhân
tổ chức, thiết chế xã hội nào có thể tạo ra hay phân phát quyền con người. Quyền
con người là tự nhiên vốn có, không phụ thuộc vào bất kỳ phong tục tập quán hay ý
chí của chủ thể nào; mặc dù quyền con người có liên hệ to lớn với các nhân tố vừa
người, xứng đáng với con người. Ở khía cạnh xã hội, con người chính là sản phẩm
của tiến trình lịch sử xã hội. C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất
con người là tổng hòa những quan hệ xã hội [10,tr.21]". Theo Mác: "Quyền con
người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là
thành viên xã hội loài người [11, tr. 14]". Định nghĩa quyền con người của chủ
nghĩa Mác - Lênin không phải chỉ là việc liệt kê đối với hai cách tiếp cận về quyền
con người nêu trên, mà từ phân tích cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội
của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa
hai mặt đối lập. Phải khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin coi "quyền con người
mang đặc tính tự nhiên nhưng có nội dung xã hội, bị chế ước bởi từng hoàn cảnh
lịch sử, từng chế độ xã hội, từng Nhà nước" [11,tr. 14].
Ở Việt Nam, trải qua quá trình đấu tranh đầy gian nan của cả dân tộc để
giành lấy độc lập được đánh dấu bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm
1945, quyền con người đã được ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp
năm 1946. Tất cả những nội dung về quyền con người này đều thể hiện được tư
tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân quyền. Theo đó, quyền con người không
chỉ là các quyền thuộc về cá nhân, là giá trị nhân văn vốn có và thiêng liêng của mỗi
người, mà đó còn là giá trị văn hóa của cộng đồng, dân tộc, quốc gia - dân tộc.
Quyền con người gắn chặt với các quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ
16
quyền quốc gia, là bộ phận không thể tách rời của tiến trình phát triển của đất nước.
Quyền con người cơ bản này bao gồm quyền được tồn tại (quyền sống), độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành một phạm trù phổ quát của
luật quốc tế hiện đại. Điều đó cho thấy sự kế thừa một cách tinh tế và kết hợp tài
tình những giá trị nhân văn của nhân loại tiến bộ với những giá trị truyền thống của
dân tộc. Quyền con người ở nước ta được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa
Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, có
GS.TSKH. Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm quyền con người như sau: “Quyền con
người là một phạm trù lịch sử - cụ thể là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận
chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn
trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên
trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia – thành viên
Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế” [ 24, tr. 224]. TS Trần Quang Tiệp
cũng đưa ra định nghĩa về quyền con người một cách ngắn gọn, theo đó, quyền con
người “là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong
những điều kiện chính trị, văn hóa kinh tế, xã hội nhất định” [ 29, tr.14]. Một định
nghĩa được sử dụng tương đối phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền
ở nước ta hiện nay coi: "Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và
nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân
loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế"
[17, tr. 10]. Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung,
quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của
con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của
cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai cơ sở chủ yếu là cơ
sở đạo đức và cơ sở pháp luật. Cơ sở đạo đức của quyền con người là giá trị xã hội
cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội,
tự do... Cơ sở pháp lý xác định những quyền cơ bản này thông qua việc thể chế hóa
chúng bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Qua các quan
điểm về quyền con người vừa nêu ta có thể chỉ ra một số đặc tính của quyền con
18