VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẠNH HÙNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẠNH HÙNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Phát triển bền vững
Mã số
: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
không tránh khỏi có nhiều hạn chế, thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự
góp ý của quý thầy, cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN ............ 7
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững .................................................. 7
1.2. Phát triển bền vững về môi trường trong hoạt động khai thác than tại
Việt Nam.................................................................................................. 14
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững môi trường trong hoạt
động khai thác khoáng sản ....................................................................... 20
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN Ở TỈNH QUẢNG NINH ............ 28
2.1. Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Quảng
Ninh ......................................................................................................... 28
2.2. Hiện trạng khai thác than tại Quảng Ninh ......................................... 30
2.3. Hiện trạng hoạt động khai thác than gắn với phát triển bền vững về
môi trường tại tỉnh Quảng Ninh ............................................................... 32
2.4. Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh trên
quan điểm phát triển bền vững về môi trường ......................................... 55
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN .................................................. 63
3.1. Đề xuất quan điểm, định hướng phát triển bền vững môi trường trong
hoạt động khai thác than .......................................................................... 63
Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững về năng lượng
ICME
Hội đồng Kim loại và Môi trường quốc tế
PTBV
Phát triển bền vững
TKV
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
UBND
Ủy ban nhân dân
UNEP
Chương trình môi trường Liên Hợp quốc
UN CSD
Hội đồng phát triển bền vững của Liên Hợp quốc
Hình 2.1.
So sánh GRDP bình quân đầu người giai đoạn
30
2011-1015 tại tỉnh Quảng Ninh
Hình 2.2.
Diễn biến hàm lượng BOD5 trong nước suối Lộ
41
Phong
Hình ảnh 2.3
Suối Lộ Phong đổ ra bãi bồi ven Vịnh Hạ Long
41
Hình ảnh 2.4
Con suối mang theo than bùn đổ ra Cửa Lục
42
Hình 2.5
Diễn biến hàm lượng TSS trong nước sông Mông
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững về môi
19
trường theo bộ ISED
Bảng 1.2
Đề xuất các chỉ tiêu PTBV môi trường trong hoạt
20
động khai thác than
Bảng 2.1. Thống kê nước thải ngành than
39
Bảng 2.2. Bảng tổng khối lượng đất đá đổ thải của các mỏ
46
than lộ thiên
Bảng 2.3. Hiện trạng môi trường ở một số mỏ than tiêu biểu
48
Bảng 2.4. Đánh giá PTBV về môi trường trong hoạt động khai
Lấy bối cảnh từ thực tiễn khai thác khoáng sản than tại tỉnh Quảng
Ninh với một số vấn đề nổi cộm hiện nay như:
- Công tác khai thác khoáng sản than đôi khi còn chưa thực hiên tốt
công tác đảm bảo an toàn lao động, BVMT; việc thực hiện trách nhiệm xã
hội của các doanh nghiệp đối với người dân địa phương còn nhiều hạn chế;
điều kiện làm việc trong quá trình khai thác, chế biến khoáng sản rất nặng
nhọc, độc hại và nguy hiểm đã gây nhiều tác hại đến sức khỏe của người lao
động và nhiều vấn đề xã hội nảy sinh;
- Quá trình khai thác than đã gây ô nhiễm đến một số vùng của tỉnh
Quảng Ninh đến mức báo động, đến nay phần lớn các diện tích này vẫn còn
bị để hoang hoá chưa được cải tạo, phục hồi ;
1
- Đặc biệt, kết thúc các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản,
hầu hết diện tích các khu mỏ và khu chế biến đã không được cải tạo và phục
hồi môi trường, điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, gây
mất an toàn và bức xúc cho cộng đồng xung quanh.
Tại Việt Nam, PTBV đã được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo trong
quá trình hoạch định chính sách phát triển KT - XH và được khẳng định
trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, XII trong đó
Nghị quyết Đại hội XII đã chỉ rõ: “Phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu
quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu,
phát triển kinh tế tri thức. Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lượng cuộc
sống của nhân dân. Phát triển KT - XH phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải
thiện môi trường. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau
trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế-xã hội”. Trong
động khai thác khoáng sản, Tổng cục Môi trường (trước đây là Cục Bảo vệ
môi trường), cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã triển khai nhiều giải pháp, nhiệm vụ để tăng cường
quản lý bảo vệ môi trường, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong
hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu cho công tác
khai thác khoáng sản gắn với PTBV, như sau:
- Nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường lưu vực
sông Cầu do các hoạt động khai thác khoáng sản” thực hiện năm 2007. Nội
dung của nhiệm vụ này là đưa ra hiện trạng ô nhiễm môi trường của một số
khu vực khai thác khoáng sản tác động đến đến lưu vực sông Cầu. Trên cơ sở
đó, nhiệm vụ đã đưa ra một số giải pháp và những định hướng chung để kiểm
soát tình hình ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra
trên lưu vực sông Cầu.
- Nhiệm vụ: “Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện ký quỹ cải tạo, phục
hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản và xây dựng thông tư
hướng dẫn lập, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi
trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác
khoáng sản” thực hiện năm 2009. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này đã rà soát
3
đánh giá tình hình thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường của một số
tổ chức, cá nhân trên địa bàn một số tỉnh trên phạm vi toàn quốc, từ đó trình
Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT
ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Quy định về lập, phê duyệt, kiểm tra, xác
nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi
trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.
- Nhiệm vụ “Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý,
khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường” thực hiện năm 2012. Kết
quả thực hiện nhiệm vụ này đã rà soát văn bản quy phạm pháp luật tại một số
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nhận diện các vấn đề môi trường trong hoạt động khai
thác than trong bối cảnh PTBV;
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu PTBV môi trường trong hoạt
động khai thác than tại Việt Nam; phần thực trạng, luận văn sẽ nghiên cứu
các vấn đề PTBV môi trường liên quan tới hoạt động khai thác than ở tỉnh
Quảng Ninh;
- Về số liệu: Nghiên cứu trong 05 năm gần đây, giai đoạn 2011-2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng làm phương
pháp luận chung. Trên cơ sở kết hợp nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm
thực tiễn, nghiên cứu điều tra thực tiễn, từ đó khái quát hóa, nêu lên những đề
xuất, kiến nghị các mục tiêu, giải pháp hướng đến phát triển bền vững môi
trường trong hoạt động khai thác than.
Nội dung nghiên cứu được giải quyết theo trình tự sau đây: nghiên cứu
lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về PTBV; phân tích thống kê đặc điểm và
thực trạng hoạt động khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh trên quan điểm phát
triển bền vững; trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp phát triển bền vững môi
trường trong hoạt động khai thác than ở Việt Nam.
Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập,
phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu. Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn,
5
phương pháp phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình
phân tích, đánh giá.
- Phương pháp tổng hợp, thống kê: Phương pháp này được sử dụng
trong quá trình thực hiện nghiên cứu nhằm thu thập, tổng hợp thông tin, tài
CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững
1.1.1. Khái niệm phát triển bền vững
Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng Thế
giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “Phát triển bền
vững” được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện
tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai
sau”. Định nghĩa này được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và
được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về PTBV vì nó mang tính khái quát
hoá cao về mối quan hệ giữa các thế hệ về thoả mãn các nhu cầu về đời sống
vật chất, tinh thần, từ đó tạo ra PTBV, vì suy cho cùng, bản chất của PTBV tức
là sự tồn tại bền vững của loài người trên trái đất không phân biệt quốc gia, dân
tộc và trình độ kinh tế, xã hội, ở đây sự tồn tại của loài người luôn gắn với sự
tồn tại của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên mà con người cần phải có.
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó
là: “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá
trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế
hệ tương lai”. Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc
giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai,
thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảo toàn tài nguyên,
nâng cao chất lượng môi trường. Tuy vậy, định nghĩa này vẫn chưa đề cập
được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của PTBV và chưa đề cập
đến các nhóm nhân tố cụ thể mà quá trình PTBV phải đáp ứng cùng một lúc,
đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế, nhóm nhân tố tác động thay đổi
7
Hình 1.1. Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn
Nguồn: Lê Danh Vĩnh (2012), Chính sách thương mại nhằm phát triển
bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, Nhà xuất bản Bộ Công Thương, Hà Nội [18]
Hình 1.2. Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác
Nguồn: Lê Danh Vĩnh (2012), Chính sách thương mại nhằm phát triển
bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, Nhà xuất bản Bộ Công Thương, Hà Nội [18]
Hình 1.1 và hình 1.2 được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về
PTBV thời gian gần đây, chúng có điểm giống nhau và được gọi chung là mô
hình “ba trụ cột” do đều được xây dựng dựa trên ba trụ cột của PTBV là: tăng
trưởng kinh tế, công bằng xã hội và BVMT. Tuy nhiên giữa hai mô hình này
cũng có những điểm khác biệt nhất định: trong khi mô hình PTBV kiểu ba
vòng tròn nhấn mạnh đến việc để PTBV nhất thiết phải đảm bảo cả ba mục
9
tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường thì mô hình tam giác lại nhấn mạnh vào sự
ràng buộc, chi phối và tác động thuận nghịch giữa ba thành tố: mục tiêu kinh
tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường để PTBV. Bên cạnh đó, một số ý
kiến cho rằng hai mô hình này chưa tính toán một cách đầy đủ, rõ ràng đến
yếu tố “chất lượng cuộc sống của con người”.
Hình 1.3. Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác
Nguồn: Lê Danh Vĩnh (2012), Chính sách thương mại nhằm phát triển
bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, Nhà xuất bản Bộ Công Thương, Hà Nội [18]
vận hành hiệu quả và sự tham gia của mọi lực lượng xã hội, đặc biệt là phụ
nữ, thanh niên, người dân địa phương.
5. Duy trì, gìn giữ hòa bình, đảm bảo kiểm soát tác động của chiến tranh,
xung đột, áp bức bóc lột để hạn chế tác động xấu đến tài nguyên môi trường.
6. Xóa nghèo, giảm chênh lệch mức sống là một mục tiêu cần và đặc
biệt cấp bách của PTBV.
7. Sử dụng các công cụ quản lí, luật pháp, kinh tế để bảo vệ môi
trường, đảm bảo công bằng xã hội và PTBV.
8. Mặc dù cần đáp ứng các nguyên tắc trên, trong Tuyên bố Rio vẫn
khẳng định “Các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau,
vì sự đóng góp khác nhau vào những vấn đề môi trường toàn cầu. Các nước
phát triển công nhận trách nhiệm của mình trong nỗ lực quốc tế về bảo vệ môi
trường, do những áp lực mà xã hội của họ gây ra cho môi trường toàn cầu và
do những công nghệ và nguồn tài chính mà họ chi phối, điều khiển”.
9. Đặc biệt, Tuyên bố Rio cam kết “Hợp tác đa quốc gia để phát huy
một hệ thống kinh tế thế giới thoáng, giúp đỡ dẫn đến sự PTBV ở tất cả các
11
nước. Chính sách thương mại, với những mục đích môi trường, không nên trở
thành phương tiện phân biệt đối xử độc đoán, vô lý, hoặc ngăn cản trá hình
đối với thương mại quốc tế”
1.0 Những nguyên tắc chủ đạo của Rio 1992 là kim chỉ nam cho các
nước đang phát triển nhất là các nước như nước ta định hướng trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội hiện tại và tương lai.
1.1.3. Các tiêu chí phát triển bền vững
Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc (viết tắt UN CSD) công bố vào
năm 2001 danh mục 58 chỉ tiêu PTBV nhằm hỗ trợ các nước trong việc đo
lường bước tiến triển hướng tới PTBV. Các chỉ tiêu này bao gồm 15 chủ đề
HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội,
hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã
hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới;
mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh
lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.
Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người
(HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân
đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về
văn hóa, văn minh.
Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội
luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng
cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện
sống chấp nhận được. Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung
chính: Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào
đô thị; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa; Ba là,
nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm là, bình
đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Sáu là, tăng cường sự tham
gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định.
Phát triển bền vững về môi trường: quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn
mới,... đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi
trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố
tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm.
Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh
13
quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường
xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.
14
bảo và duy trì môi trường sống lành mạnh, an toàn cho con người của thế hệ
hiện tại cũng như con người của thế hệ tương lai;
- PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước.
BVMT là một yêu cầu tất yếu của phát triển mà các khía cạnh phát triển
khác (kinh tế, văn hóa, xã hội...) cần được kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa;
- PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và các cấp quản lý.
BVMT không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp
mà phải trở thành nhận thức, ý thức trách nhiệm và hành động của cả hệ
thống chính trị và của từng người dân;
- Cơ hội bình đẳng cho mọi người trong tiếp cận, tham gia, đóng góp
và hưởng lợi trong quá trình phát triển. Đây là điều kiện tất yếu cần phải tạo
ra để thực hiện quan điểm BVMT là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và
của từng người dân;
- Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho PTBV đất nước.
Khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong phát
triển KT-XH gắn với yêu cầu BVMT.
Về mục tiêu, Chiến lược xác định mục tiêu tổng quát là "Tăng trưởng
bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ TN&MT,
giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia" với mục tiêu cụ thể về môi trường
là "Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường.
Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên,
đặc biệt là tài nguyên không tái tạo. Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô
nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và
phát triển rừng, bảo tồn ĐDSH. Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động
thích ứng có hiệu quả với BĐKH, nhất là nước biển dâng".
Về chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV, Chiến lược xác định 30 chỉ tiêu,
vực quan trọng (lưu vực sông) [15].
Ngày 05 tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 1216/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó nêu rõ: Bảo vệ môi trường là yêu
cầu sống còn của nhân loại; Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu
thành không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược
phát triển bền vững; bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền
vững nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ được tiềm
năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau; đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu
tư cho phát triển bền vững.
16
1.2.2. Các ưu tiên và giải pháp thực hiện phát triển bền vững về
môi trường
Chiến lược đã xác định 9 định hướng ưu tiên PTBV về TN&MT, gồm:
Chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; BVMT nước
và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm,
bền vững tài nguyên khoáng sản; BVMT biển, ven biển, hải đảo và phát triển
tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễm không khí và tiếng
ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp; quản lý có hiệu quả chất thải rắn và
chất thải nguy hại; bảo tồn và phát triển ĐDSH; giảm thiểu tác động và ứng
phó vói BĐKH, phòng chống thiên tai [2].
Các định hướng này thực chất là sự cụ thể hóa cho giai đoạn 10 năm tới
các nội dung định hướng ưu tiên PTBV về TN&MT đã được xác định trong
"Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị
sự 21 của Việt Nam)" có tính đến những điều chỉnh Chiến lược phát triển đất
nước trong bối cảnh phát triển mới ở trong nước và quốc tế, đặc biệt là tái cấu
trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng nhiều
hơn vào chất lượng tăng trưởng, phát triển, coi PTBV là yêu cầu xuyên suốt