Luận án tiến sĩ lễ hội phủ dầy trong đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay - Pdf 42

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN DUY HÙNG

LỄ HỘI PHỦ DẦY TRONG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN DUY HÙNG

LỄ HỘI PHỦ DẦY TRONG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62 31 06 40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. PHẠM DUY ĐỨC
2. PGS.TS. PHẠM TRỌNG TOÀN

HÀ NỘI - 2017



28

Chương 2: TỔNG QUAN CHUNG VỀ LỄ HỘI PHỦ DẦY

35

2.1. Tục thờ Mẫu và thờ Mẫu Tứ phủ ở Việt Nam

35

2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển của lễ hội Phủ Dầy

38

2.3. Giá trị đặc thù của lễ hội Phủ Dầy

48

2.4. Vai trò của lễ hội Phủ Dầy

56

Chương 3: TÁC ĐỘNG - ẢNH HƯỞNG QUA LẠI GIỮA LỄ HỘI PHỦ DẦY
VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

62

3.1. Tác động tới đời sống văn hóa cộng đồng

62


139

KẾT LUẬN

147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

152

PHỤ LỤC

162


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Số liệu phân loại thành phần cư dân cộng đồng địa phương ở
lễ hội Phủ Dầy

64

Bảng 3.2: Số liệu đánh giá tác động tích cực của lễ hội Phủ Dầy tới
đời sống văn hóa cộng đồng địa phương


88

Bảng 3.9: Số liệu đánh giá mức độ tác động tiêu cực của lễ hội tới
đời sống văn hóa cộng đồng cư dân thập phương

89

Bảng 3.10: Số liệu đánh giá mức độ tác động của giá trị lễ hội Phủ Dầy
đối với đời sống cộng đồng thập phương

91

Bảng 3.11: Số liệu đánh giá mức độ quan trọng của vai trò lễ hội Phủ Dầy
đối với đời sống cộng đồng thập phương

93


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lễ hội dân gian truyền thống và lễ hội Phủ Dầy (Vụ Bản, Nam Định) là
một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hoá dân tộc nói chung và văn hóa tín
ngưỡng - tâm linh người Việt nói riêng. Là một đền/phủ thờ của nữ thần/thần
Mẫu trong tâm thức văn hóa Việt cổ truyền, Phủ Dầy là hiện thân của sự tích
hợp, kế thừa và phát triển của tục thờ nữ thần mang yếu tố nội sinh mà phát triển
thành tín ngưỡng thờ thần Mẫu. Từ đây, tín ngưỡng thờ thần Mẫu tiếp tục hỗn
dung với các tôn giáo ngoại lai (mang yếu tố ngoại sinh như Đạo, Phật, Nho), để
nâng cấp trở thành hệ thống thờ Mẫu Tam - Tứ phủ trong đời sống tâm linh Việt

sống văn hóa cộng đồng là không thể thiếu trong thế giới tâm linh Việt truyền
thống. Rồi chỉ ra được những vấn đề đặt ra cho lễ hội Phủ Dầy trong bối cảnh
đời sống xã hội hiện nay. Từ đó, cũng rút ra được những bài học trong công tác
bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Phủ Dầy hiện nay và trong tương lai.
Lễ hội Phủ Dầy với các thành tố của nó như: cúng tế, hát văn, hầu đồng…
đang có những biến đổi phức tạp về nội dung cũng như hình thức và đặc biệt là
nhận thức của con người. Điều đó, đã dẫn đến nguy cơ làm mất đi những giá trị
đặc thù của lễ hội truyền thống nói chung, làm phương hại tới bản sắc văn hóa
dân tộc. Hoạt động của lễ hội Phủ Dầy đã thu hút một khối lượng không nhỏ
người dân tham gia. Đồng thời, lễ hội này cũng thu hút sự quan tâm, tìm hiểu
của các nhà nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam và trên thế giới. Hiện tượng lên
đồng lại một lần nữa được nghiên cứu và phân tích ở nhiều phương diện, trong
đó có nhiều ý kiến có giá trị cả về mặt học thuật cũng như tính thời đại. Nhiều tài
liệu về Đạo Mẫu đã được xuất bản, không ít các cuộc hội thảo ở trong nước và
quốc tế được tổ chức như: Hội thảo quốc tế về hầu đồng nói riêng và Shaman
giáo nói chung (tổ chức tại Nam Định, do Viện Nghiên cứu Văn hoá chủ trì năm
2004). Hội thảo có sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong nước cũng như
quốc tế, những nghiên cứu đã một lần nữa làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề của tín
ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam nói chung và nghi lễ lên đồng nói riêng. Hiện nay,
tín ngưỡng hầu đồng đã xây dựng hồ sơ và được công nhận là di sản văn hoá phi
vật thể của nhân loại. Điều đó cho thấy tín ngưỡng thờ Mẫu là một hiện tượng
văn hoá độc đáo, nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt nói
riêng và người dân Việt Nam nói chung. Trong diễn trình phát triển, đạo Mẫu
(bao gồm cả lễ hội) đã và đang có xu hướng loại bỏ dần những phức tạp của
chính nó để trở thành một dạng của diễn xướng dân gian tổng hợp mang màu sắc


3
văn hoá, nghệ thuật nhiều hơn là ma thuật, nghi lễ. Tuy nhiên, một số nơi vẫn
còn những hiện tượng lạm dụng tín ngưỡng thờ Mẫu (trong đó có lễ hội Phủ


4
Trong đó, để làm rõ các thành phần trong đối tượng nghiên cứu đó, NCS
tập trung khảo sát: phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu…, bao gồm các
thành phần:
- Người tham gia vào hoạt động lễ hội (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) như:
người dân địa phương (người dân địa phương không làm nghề dịch vụ và người
dân địa phương làm nghề dịch vụ) và du khách hành hương tới lễ hội Phủ Dầy.
- Nghi lễ lên đồng với tất cả những thành tố liên quan (trang phục, đạo cụ,
âm nhạc, nghệ thuật trình diễn...) và những thành viên là chủ thể, khách thể của
lễ hội Phủ Dầy: Thanh đồng, cung văn, hầu dâng, con nhang đệ tử, thủ nhang các
đền phủ…
2.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và vai trò của lễ hội Phủ Dầy đối
với đời sống văn hóa cộng đồng, luận án sẽ đi sâu vào đánh giá thực trạng tác
động của lễ hội Phủ Dầy đối với đời sống văn hóa cộng đồng. Từ đó nhằm chỉ ra
những vấn đề đang đặt ra cho lễ hội Phủ Dầy và phương hướng bảo tồn, phát huy
giá trị văn hóa của lễ hội này đối với đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay.
2.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích đánh giá những thành tựu nghiên cứu về tác động của lễ hội
Phủ Dầy đối với đời sống văn hóa cộng đồng.
- Xác định một số vấn đề lý luận/lý thuyết về giá trị của lễ hội thờ Mẫu Tứ
phủ nói chung và lễ hội Phủ Dầy nói riêng đối với đời sống văn hóa cộng đồng.
- Khảo sát đánh giá sự tương tác giữa lễ hội Phủ Dầy với đời sống văn hóa
cộng đồng hiện nay.
- Chỉ ra những vấn đề đang đặt ra và đưa ra khuyến nghị nhằm bảo tồn,
phát huy những giá trị của lễ hội Phủ Dầy trong đời sống văn hóa cộng đồng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được luận án, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

cứu để tiến hành khảo sát, thu thập số liệu dưới dạng định tính. Trên cơ sở đó,
đánh giá mức độ tác động của lễ hội Phủ Dầy đổi với đời sống văn hóa cộng
đồng. Phương pháp điều tra xã hội học được tiến hành từng bước cơ bản từ: xây
dựng bảng hỏi trên cơ sở đề cương nghiên cứu chi tiết của luận án, đến việc
thành lập nhóm điều tra, tập huấn và tiến hành xác định mẫu để phỏng vấn. Các
thành viên trong nhóm điều tra trực tiếp phỏng vấn và điền vào bảng hỏi đối với
cộng đồng cư dân tại địa bàn nghiên cứu là khu vực Phủ Dầy, Vụ Bản, Nam


6
Định. Riêng đối với các mẫu phỏng vấn sâu, NCS trực tiếp phỏng vấn trên cơ sở
đặt câu hỏi liên quan đến nội dung cần nghiên cứu. Quá trình phỏng vấn sâu
được tiến hành tại các phủ và không gian của Phủ Dầy. Số phiếu thu thập sau
phỏng vấn được xử lý trên hệ thống SPSS để rút ra số liệu và tính phần trăm tác
động và mức độ ảnh hưởng, tương tác qua lại giữa lễ hội với cộng đồng cư dân.
- Ngoài ra, NCS còn sử dụng phương pháp chuyên gia để đưa ra những
đánh giá khách quan nhất về tác động, ảnh hưởng của lễ hội Phủ Dầy đối với đời
sống văn hóa cộng đồng. Phương pháp này, NCS đã tận dụng ý kiến của các nhà
nghiên cứu/chuyên gia về lĩnh vực văn hóa tâm linh (cụ thể là các nhà nghiên
cứu thờ Mẫu Tứ phủ như: Ngô Đức Thịnh, Trần Lâm Biền, Bùi Hoài Sơn…) để
làm sáng tỏ hoặc định hướng trong quá trình lý giải và hoàn thiện luận án.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện luận án, chúng tôi đặt ra những câu hỏi nghiên cứu sau:
Sự tương tác qua lại giữa lễ hội Phủ Dầy đời sống văn hóa cộng đồng hiện
nay đã diễn ra như thế nào?
Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi đặt ra những câu hỏi cụ thể sau:
Các giá trị của lễ hội Phủ Dầy đã tác động đến đời sống văn hóa cộng
đồng cư dân địa phương như thế nào? Và ngược lại, cộng đồng cư dân địa
phương đã có tác động gì tới lễ hội Phủ Dầy?
Các giá trị của lễ hội Phủ Dầy đã tác động đến đời sống văn hóa cộng

6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
- Thông qua phân tích, đánh giá những biến đổi trong lễ hội Phủ Dầy, luận
án nhận diện mối quan hệ tương tác giữa lễ hội này với đời sống văn hoá của cư
dân vùng đồng bằng/châu thổ Bắc bộ hiện nay.
- Trên cơ sở chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của lễ hội Phủ Dầy,
luận án đề xuất, kiến nghị nhằm phát huy giá trị của lễ hội này trong đời sống
văn hoá của vùng đồng bằng Bắc bộ hiện nay.
- Luận án sẽ trở thành một tài liệu tham khảo cho các học giả trong và
ngoài nước về một hoạt động văn hóa tâm linh đặc thù của người Việt ở đồng
bằng/châu thổ Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Đặc biệt, là các học giả
nghiên cứu về lễ hội nói chung và lễ hội Phủ Dầy nói riêng.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã
công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm 4 chương, 13 tiết.


8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LỄ HỘI PHỦ DẦY VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

1.1.1. Những công trình đề cập đến vấn đề lý luận chung về lễ hội
Đó là những bài báo khoa học, những cuốn sách chuyên khảo có tính chất
lý luận/lý thuyết tạo nền tảng nhận thức, quan điểm cho những nghiên cứu lễ hội
cụ thể của các học giả tiền bối là vô cùng quan trọng đối với người làm nghiên
cứu nói chung. Các nghiên cứu có tính chất lý luận này, là tiền đề cho tác giả
tiếp nhận và vận dụng để thực hiện luận án của mình. Trong đó, bài viết Mấy

cộng đồng hiện nay trong mối quan hệ đa chiều của xã hội. Từ đó, thông qua
nghiên cứu trường hợp Lễ hội Phủ Dầy ở Nam Định để đánh giá những ảnh
hưởng, tác động của hoạt động tín ngưỡng - lễ hội này tới đời sống cá nhân,
cộng đồng và ngược lại [76]. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, những
dư tồn của các hình thái kinh tế, quan niệm về “quà tặng” không mất đi, đặc
biệt là việc “tặng quà cho thần linh” vẫn còn tồn tại và còn trở nên phát triển.
Chính vì vậy, NCS mong muốn vận dụng được quan niệm/lý thuyết này của
Mauss để làm sáng tỏ mối tương tác - ảnh hưởng qua lại giữa lễ hội Phủ Dầy
với đời sống văn hóa cộng đồng.
Ngoài ra, không thể bỏ qua cuốn Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo
ở Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn [133], mặc dù nội dung cuốn sách đề cập chủ
yếu đến vấn đề tôn giáo nói chung và tôn giáo ở Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên,
phần cơ sở lý luận (chương 1, 2, 3) của cuốn sách đã cung cấp nền tảng lý thuyết
quan trọng để tác giả luận án có thể kế thừa, triển khai và thực hiện diễn giải các
vấn đề một cách hiệu quả nhất. Trong đó, lễ hội cổ truyền nói chung và lễ hội
thờ Mẫu Tứ phủ nói riêng luôn được coi là một phần quan trọng của đời sống
văn hóa tâm linh (gồm cả tôn giáo và tín ngưỡng). Mục đích của cuốn sách là
nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề tôn giáo ở Việt Nam,
nghiên cứu vai trò và đặc điểm của tôn giáo ở Việt Nam trong đời sống hiện nay.
Đặc biệt là đời sống văn hóa khi đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa. Tuy nhiên, mục
đích của cuốn sách tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lý luận của tôn giáo và


10
tôn giáo ở Việt Nam, nên hầu như không đề cập đến các loại hình tín ngưỡng,
trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu.
Bên cạnh đó, cuốn Các hình thức tôn giáo sơ khai của A. Tôcarep [124]
được coi là một trong những tài liệu quan trọng về mặt lý luận đối với tác giả
trong quá trình thực hiện luận án. Cuốn sách không chỉ đề cập đến những hình

trong mối quan hệ, tương tác với mọi phương diện của đời sống xã hội. Công
trình nghiên cứu này của Nguyễn Chí Bền đã giúp cho NCS có được cái nhìn
bao quát hơn về lễ hội cổ truyền ở Việt Nam trên cả phương diện lý thuyết lẫn
thực tiễn. NCS coi đây là công trình vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính tổng
kết cao được rút ra từ thực tế của lễ hội trên khắp các vùng miền ở Việt Nam.
Đặc biệt là, trên cơ sở lý thuyết, tác giả đã chỉ ra được kết cấu/cấu trúc và thành
tố cơ bản của một lễ hội cổ truyền ở Việt Nam nói chung và ở châu thổ Bắc Bộ
nói riêng.
Những công trình có tính chất lý luận chung về tôn giáo tín ngưỡng đã
được xuất bản khá nhiều. Tuy nhiên, những công trình/tác phẩm đề cập đến
những vấn đề lý luận chung về tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam chưa có nhiều.
Những công trình nghiên cứu kể trên là những cuốn sách, bài báo khoa học tiêu
biểu liên quan trực tiếp đến công việc thực hiện luận án, trong đó, bài viết của
Ngô Đức Thịnh về nhận thức mới về lễ hội như một hiện tượng tổng thể đã giúp
tác giả luận án có cách tiếp cận đa chiều, nhiều góc độ. Cùng với quan điểm của
M. Mauss, tác giả có thể xây dựng khung lý thuyết trong quá trình thực hiện
nghiên cứu, đánh giá tác động qua lại giữa lễ hội thờ Mẫu đối với mọi mặt của
đời sống cộng đồng. Đối với công trình của Đặng Nghiêm Vạn, phần lý luận
thiên nặng về lý thuyết tôn giáo học và từ đó soi chiếu đến đời sống tôn giáo ở
Việt Nam, mà chưa đề cập đến các vấn đề tín ngưỡng nói chung (trong đó có tín
ngưỡng thờ Mẫu). Mặc dù vậy, công trình của Đặng Nghiêm Vạn cũng cung cấp
cho tác giả luận án hệ thống lý luận cơ bản về tôn giáo ở Việt Nam nói riêng,
làm tiền đề lý luận cho việc thực hiện luận án. Công trình của A. Tôcarep là hệ
thống lý luận/lý thuyết về tôn giáo tín ngưỡng nói chung. Đây chính là tiền đề
quan trọng cho các nhà nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng nói chung và cá nhân
tác giả luận án nghiên cứu về lễ hội thờ Mẫu nói riêng. Những công trình của các
tác giả tiêu biểu kể trên cũng đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp, nhiều hoặc ít liên
quan tới đề tài của luận án. Tác giả luận án đã tiếp thu, vận dụng trong quá trình
thực hiện nghiên cứu của mình.


chưa đề cập đến lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ, đặc biệt là trường hợp lễ hội Phủ Dầy.
Thứ hai, nhóm tác giả Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo và Dương Tất Từ
đã cho xuất bản cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam [138]. Cuốn sách đề cập


13
đến những phong tục truyền thống của người Việt, trong đó có tục thờ nữ Thần
và tín ngưỡng thờ Mẫu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá và những tác động
tới đời sống của cộng đồng lại chưa được nhóm tác giả đề cập đến. Nhưng,
những quan điểm, thông tin, kiến thức về các tục thờ nói chung và tục thờ Mẫu ở
Việt Nam sẽ được tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện luận án.
Thứ ba, cuốn Các nữ thần ở Việt Nam của Mai Thị Ngọc Chúc, Đỗ Thị
Hảo [17]. Đây là một công trình nghiên cứu tổng hợp về các nữ thần ở Việt
Nam, về nguồn gốc, quá trình hình thành, sự thiêng hóa cũng như vai trò và tầm
ảnh hưởng của những thần nữ này đối với đời sống tâm linh của cộng đồng
người Việt nói riêng và người Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, trong cuốn sách
này, tác giả Đỗ Thị Hảo cũng chưa đề cập đến lễ hội thờ Mẫu Tứ phủ, trong đó
có Phủ Dầy ở Nam Định.
Thứ tư, cuốn Thần Người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường [129]. Nội
dung cuốn sách đã dựng lên diện mạo của các thần linh đất Việt, trong đó các nữ
thần, Mẫu… được thể hiện sinh động dưới góc nhìn độc đáo, sắc sảo. Tạ Chí Đại
Trường đã cho thấy sự hình thành, phát triển và những va đập, chìm nổi của các
thần linh Việt trong diễn trình lịch sử dân tộc. Ông cũng chỉ ra mối quan hệ
chằng chéo, tiếp nhận, ảnh hưởng lẫn nhau của các vị thần trong bối cảnh giao
thoa giữa các vùng miền, các tôn giáo và tôn giáo với tín ngưỡng… Đây là một
trong những cuốn sách đặc biệt xuất sắc của học giả Tạ Chí Đại Trường khi
nghiên cứu sang vấn đề văn hóa tâm linh với tư cách là một nhà sử học. Ông
cũng chỉ ra những ảnh hưởng, tiếp nhận, hòa trộn tâm linh giữa các vùng miền
trên lãnh thổ Việt Nam của hệ thống nữ thần linh đất Việt, trong đó có Mẫu Liễu
Hạnh - Vị thánh Mẫu được coi là một trong “Tứ bất tử” của người Việt.

các đặc trưng địa phương
+ Quan trọng hơn, với mỗi vùng như vậy, cuốn sách tập trung nghiên cứu
các vị Thánh Mẫu tiêu biểu, như Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở Bắc Bộ, Thiên Ya Na
- Pô Inư Nagar ở Trung Bộ và Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Thiên Hậu ở Nam Bộ. Hệ
thống trình bày này giúp chúng tôi vừa thể hiện được tính thống nhất lại vừa thể
hiện được tính đa dạng của Đạo Mẫu Việt Nam.
Thứ ba, nếu như các phiên bản trước chủ yếu mới đi vào xây dựng và
trình bày tính hệ thống của Đạo Mẫu, cho người đọc có ý niệm chung, giống như
cái khung của ngôi nhà, thì phiên bản này, một mặt tiếp tục xây dựng cái khung
chung ấy, nhưng quan trọng hơn là nghiên cứu Đạo Mẫu từ khía cạnh xã hội và
con người, từ cộng đồng tới cá nhân, tức là muốn phả vào cái bộ khung có phần


15
khô cứng ấy hơi thở, sức sống, làm cho nó có phần sinh động hơn. Nghiên cứu
các chiều kích khác nhau của môi trường xã hội, lịch sử và văn hóa với hiện
tượng Đạo Mẫu theo lý thuyết xã hội tổng thể của M. Mauss.
Thứ tư, cuốn sách này đi sâu vào nghiên cứu Đạo Mẫu chứ không nghiên
cứu tục Lên đồng, tuy nhiên, đây là hiện tượng vừa đồng nhất và vừa khác biệt.
Do vậy, tác giả cuốn sách luôn đặt chúng trong mối quan hệ chung riêng, tổng
thể và bộ phận.
Thứ năm, lần xuất bản năm 2010 này, ngoài 100 bài Hát văn đã công bố
trong lần xuất bản trước (năm 1996, tập 2), cuốn sách đã được tác giả bổ sung
đáng kể những những tư liệu thành văn liên quan tới các vị Thánh Mẫu, nhất là
Mẫu Liễu Hạnh. Đây là phần tài liệu vô cùng quý giá đối với những người
nghiên cứu nói chung và tác giả luận án nói riêng.
Cuốn Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt
Nam và châu Á của Ngô Đức Thịnh [114]. Đây là một cuốn sách tập hợp nhiều
bài viết của các tác giả khác nhau liên quan đến vấn đề của Đạo Mẫu và các
sinh hoạt tâm linh liên quan. Mặc dù, là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả

Cuốn Văn hóa thờ nữ thần - Mẫu ở Việt Nam và châu Á, bản sắc và giá trị
của Ngô Đức Thịnh [119]. Cuốn sách là tập hợp các bài viết của các học giả
trong và ngoài nước được trình bày trong Hội thảo cùng tên do Trung tâm
nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Nam Định, Hội Folklore châu Á tổ chức. Từ cuốn sách này, tục thờ các
nữ thần, thần Mẫu Việt Nam được đặt trong mối liên hệ, so sánh đối chiếu với
tín ngưỡng này với các nước trong khu vực châu Á. Trong đó, hệ thống thờ nữ
thần, thờ Mẫu ở Việt Nam được dựng lên khá sinh động, từ những trường hợp
được thờ cúng phổ biến như Mẫu Tam/Tứ phủ, Mẫu Liễu Hạnh... đến các trường
hợp đơn lẻ có tính chất địa phương. Bên cạnh đó, hiện tượng lên/hầu đồng cũng
được các tác giả quan tâm đề cập khá chi tiết. Đây là một tập hợp những bài viết
của nhiều tác giả về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và lễ hội Phủ Dầy ở Nam
Định nói riêng.
Ngoài các công trình của Ngô Đức Thịnh, có bài viết Tục thờ Mẫu và
những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh [51]. Công
trình đã khái lược lại được và chỉ ra nguồn gốc, những điều kiện hình thành tâm
thức coi trọng người phụ nữ trong văn hóa Việt Nam, để từ đó định hình và phát
triển các tục thờ Nữ thần. Bên cạnh việc bài báo chỉ ra được hệ thống thần Mẫu
cơ bản ở Việt Nam, Đinh Gia Khánh cũng nhấn mạnh đến tục thờ Mẫu Liễu


17
Hạnh trong tương quan với hệ tục thờ Mẫu nói chung của người Việt. Ông cho
rằng, Mẫu Liễu Hạnh đã xuất hiện trong đạo Tam phủ như là một sự bổ sung tất
yếu cho đạo Tam phủ để đáp ứng tình cảm của nhân dân. Vì khác với các Mẫu
khác (Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Mẫu Thoải), Mẫu Liễu Hạnh có nguồn gốc
xuất thân trong đời sống thực, gần gụi với con người. Đinh Gia Khánh cũng chỉ
ra, Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào thế kỷ XVI, thay vì ban phúc, bà đi trừng phạt
những kẻ ác, chống lại sự độc đoán của triều đình. Với sự xuất hiện của Mẫu
Liễu Hạnh, thì đạo Tam phủ đã phát triển, trở thành đạo Tứ phủ.

đã đề cập, thì không thể không nhắc đến cuốn kỷ yếu hội thảo Quốc Mẫu Tây
Thiên Vĩnh Phúc trong Đạo Mẫu ở Việt Nam [84]. Đây là một tập hợp những
tham luận của các nhà khoa học trong nước về hiện tượng thờ Mẫu nói chung ở
Vĩnh Phúc, quá trình hình thành, phát triển và sự phụng thờ Quốc Mẫu Tây
Thiên. Khẳng định vai trò của Mẫu Tây Thiên ở Vĩnh Phúc trong hệ thống tín
ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Trong đó, quá trình hình thành, phát triển của Mẫu
Tây thiên được nhìn nhận trong sự tương tác với các loại hình tín ngưỡng, tôn
giáo khác ở Vĩnh Phúc nói riêng và Việt Nam nói riêng. Đặc biệt bài viết Di tích
và lễ hội Tây Thiên - tiềm năng và triển vọng của tác giả Lê Hồng Lý [73], bài
viết đề cập đến trong mối tương quan với tiềm năng kinh tế và phát triển du lịch.
Tham luận của Lê Hồng Lý ngoài việc đề cập đến hệ thống cảnh quan di tích của
không gian lễ hội Tây Thiên, ông còn đề cập đến quá trình phục hưng của tín
ngưỡng - lễ hội Tây Thiên gắn với thập phương khách hành hương. Những con
số về số lượng khách đến Tây Thiên trong các năm của thập niên 90 (thế kỷ XX)
đã chỉ ra tiềm năng phát triển của loại hình tín ngưỡng - lễ hội này. Qua đó, ông
khẳng định, lễ hội Tây Thiên là một Yên Tử, một chùa Hương của Vĩnh Phúc; lễ
hội Tây Thiên là một hoạt động du lịch sinh thái tâm linh đầy hấp dẫn; đi hội
Tây Thiên là sự khám phá về văn hóa tộc người ở Vĩnh Phúc; lễ hội Tây Thiên là
một tiềm năng kinh tế lớn của Vĩnh Phúc. Trên cơ sở đó, Lê Hồng Lý cũng đưa
ra các giải pháp cho việc quản lý cũng như góp phần quy hoạch, phát triển khu di
tích tín ngưỡng - lễ hội thờ Mẫu Tây Thiên ở Vĩnh Phúc.
+ Các công trình nghiên cứu về lễ hội Phủ Dầy
Các công trình nghiên cứu về lễ hội Phủ Dầy cũng có một khối lượng
khiêm tốn, phần lớn là những bài viết trên các tạp chí khoa học, hoặc nằm trong
những cuốn sách tổng hợp của nhiều tác giả. Đôi khi, lễ hội Phủ Dầy chỉ được
cấu trúc thành một chương hoặc một phần trong các cuốn sách chuyên khảo liên


19
quan đến đạo Mẫu hoặc tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Mặc dù vậy, cũng có


20
Cùng thời gian với bài viết của Trần Lâm Biền, còn có cuốn sách chuyên
khảo của Vũ Ngọc Khánh, Phạm Văn Ty về Vân Cát thần nữ [53]. Cuốn sách là
một tập hợp những sưu tầm và nghiên cứu về Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Mặc dù
dung lượng/số trang của cuốn sách không nhiều, nhưng đã nêu được những sự
tích tiêu biểu, giá trị đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và Mẫu Liễu
Hạnh ở Phủ Dầy nói riêng. Đặc biệt, cuốn sách còn tích hợp những sưu tầm về sự
tích của Mẫu Liễu Hạnh được diễn nôm qua các thời kỳ/giai đoạn lịch sử. Thông
qua những văn bản khác nhau về thần tích Mẫu Liễu Hạnh, cho thấy sự đa dạng
này quá trình sáng tạo, tích hợp những giá trị bản địa với các giá trị ngoại lai.
Được nhào nặn qua thời gian mà thành một hệ thống như vậy. Mặc dù tác phẩm
này của Vũ Ngọc Khánh và Phạm Văn Ty chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, đánh giá sơ
bộ những tích truyện về Mẫu Liễu Hạnh, nhưng đây là một công trình khảo cứu có
nhiều giá trị về tư liệu đối với tác giả thực hiện đề tài của luận án.
Sau bài viết của Trần Lâm Biền và cuốn sách chuyên khảo Vũ Ngọc
Khánh, năm 1991, nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung đã ra cuốn Tam tòa Thánh
Mẫu [68]. Nội dung cuốn sách đề cập đến hệ thống thờ Mẫu nói chung và hiện
tượng thờ Mẫu Liễu Hạnh nói riêng. Trong đó, hiện tượng thờ Mẫu Liễu Hạnh
được Đặng Văn Lung nhìn nhận, đánh giá trên cơ sở đối chiếu, so sánh với
những nữ thần khác của các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam. Ông cũng đưa ra
những lý giải/giải mã những giá trị biểu tượng vốn có, nay đã bị khuất lấp trong
đời sống xã hội. Có thể nói, cuốn sách đã trình bày một số quan điểm khá độc
đáo về hiện tượng thờ Mẫu Liễu Hạnh. Tuy nhiên, cuốn sách đi sâu vào trình bày
quan điểm của tác giả là chủ yếu, mà không đề cập đến lễ hội Phủ Dầy. Mặc dù
vậy, đây là một cuốn sách chuyên khảo quan trọng đối với tác giả thực hiện đề
tài luận án này. Năm 2004, nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung đã cho xuất bản bộ
sách Văn hóa thánh Mẫu gồm 3 quyển [70]. Trong đó, quyển 3 của bộ sách này
đề chính là tái bản lại cuốn in năm 1991, có sửa chữa và bổ sung.
Thanh Hà trong cuốn Âm nhạc hát Văn [31] đã giới thiệu một số đặc điểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status