TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*************
LÊ THỊ LAN ANH
LỄ HỘI LỒNG TỒNG
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA DÂN TỘC TÀY - NÙNG
MIỀN NÚI PHÍA BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đã
truyền đạt những kiến thức chuyên ngành, chỉ dạy tôi trong suốt quá trình
học tập tại trƣờng ĐHSP Hà Nội 2. Đặc biệt là TS. Nguyễn Thị Tính đã
định hƣớng đề tài và hƣớng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Với vốn kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn
nhiều hạn chế, khóa luận không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong
nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận
đƣợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện
Lê Thị Lan Anh
1.2.2. Phân loại lễ hội truyền thống ................................................................ 12
1.2.3. Đặc trƣng của lễ hội truyền thống ......................................................... 15
1.3. Lịch sử hình thành lễ hội Lồng tồng ........................................................ 18
1.4. Vài nét về lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam ........... 20
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 21
CHƢƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM LỄ HỘI LỒNG TỒNG ........................................ 23
CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC ................................ 23
2.1. Đối tƣợng thờ phụng ................................................................................ 23
2.2. Thời gian và không gian tổ chức lễ hội.................................................... 23
2.2.1. Thời gian tổ chức .................................................................................. 23
2.2.2. Không gian tổ chức ............................................................................... 24
2.3. Các hoạt động của lễ hội .......................................................................... 24
2.3.1. Công tác chuẩn bị .................................................................................. 24
2.3.2. Hoạt động nghi thức trong lễ hội .......................................................... 25
2.3.3. Hoạt động vui chơi, trò diễn trong lễ hội .............................................. 28
2.4. Tín ngƣỡng đặc trƣng của lễ hội .............................................................. 30
2.5. Những nét tƣơng đồng trong lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - ........... 34
Nùng và lễ hội Xuống đồng của ngƣời Kinh ở Duy Tiên - Hà Nam .............. 34
2.5.1. Tƣơng đồng về diễn biến lễ hội ............................................................ 34
2.5.2. Tƣơng đồng về ý nghĩa lễ hội ............................................................... 36
Tiểu kết chƣơng 2............................................................................................ 36
CHƢƠNG 3. VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI LỒNG TỒNG .................................. 38
TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÀY, NÙNG .................................... 38
3.1. Vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống vật chất và tinh thần .......... 38
3.1.1. Trong đời sống vật chất ......................................................................... 38
3.1.2. Trong văn hoá tinh thần ........................................................................ 39
3.2. Thực trạng và một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Lồng
tồng .................................................................................................................. 42
miền núi phía Bắc lại nô nức chờ đón những ngày hội rộn ràng của lễ hội
Lồng tồng (Lồng thồng, Lùng tùng…), hay còn gọi là Oóc tồng, nghĩa là
Xuống đồng (lồng là xuống, tồng là đồng). Do vậy, lễ hội Lồng tồng là lễ hội
Xuống đồng. Đây là lễ hội mang tính chất nghi lễ nông nghiệp cổ xƣa, mở
đầu cho một mùa sản xuất mới; trong lễ hội còn có lễ tạ Thành Hoàng, Thần
1
Nông, cầu cho mùa màng bội thu, gia súc phát triển, con ngƣời khỏe mạnh,
bản làng yên vui, mọi ngƣời, mọi nhà ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Lồng tồng là
một sinh hoạt văn hóa tín ngƣỡng dân gian mang bản sắc văn hóa tộc ngƣời
Tày, Nùng ở các bản làng địa phƣơng rất độc đáo. Sau một năm lao động vất
vả, lễ hội mở ra mang lại những giờ phút nghỉ ngơi, thanh thản, mọi ngƣời có
điều kiện gặp gỡ thăm hỏi, chúc tụng nhau; đồng thời cũng là dịp giao lƣu
tình cảm giữa các cô gái, chàng trai bằng những lời hát then sli, lƣợn. Lễ hội
Lồng tồng là một lễ hội dân gian giàu bản sắc và sinh động, mang nhiều ý
nghĩa trong ngày xuân và trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc.
Là một sinh viên của ngành Việt Nam học cùng với tình yêu văn hóa lễ
hội, phong tục tập quán của dân tộc Tày, Nùng; tôi đã chọn đề tài: “Lễ hội
Lồng tồng trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày - Nùng miền núi phía Bắc”
làm đề tài khóa luận để có thể hiểu thêm về con ngƣời, văn hóa và lễ hội của
họ.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu lễ hội không chỉ góp phần lý giải nhiều vấn đề khoa học về
những đặc điểm văn hoá tộc ngƣời Việt, về lịch sử và văn hoá làng xã, cũng
nhƣ về lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc ta mà còn góp phần tìm
hiểu những tác động xã hội của lễ hội, những mặt tích cực cũng nhƣ những
hạn chế qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Chính vì vậy nghiên cứu lễ hội
đã góp phần đắc lực cho hoạt động thực tiễn. Với những ý nghĩa khoa học và
Cho đến nay đề tài liên quan đến lễ hội Lồng tồng nói chung có một số
công trình nghiên cứu nhƣ: Phan Đăng Nhật với tác phẩm Lễ hội cổ truyền
[14]. Đáng lƣu ý có trang tác giả cho rằng: “Lễ hội là một pho lịch sử khổng
lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngƣỡng, văn hoá, nghệ thuật
và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc” và “Lễ hội còn là
3
bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của ngƣời Việt. Chúng
đã sống, đang sống và với đặc trƣng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và
thuyết phục mạnh mẽ nhất”.
Cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam, của Trần Quốc Vƣợng, Lê
Văn Hảo, Dƣơng Tất Từ [23; tr.167-tr.178] các tác giả đã viết về “Hội Lồng
Tồng: Những ngày hội xuân tiêu biểu của Việt Bắc” trong những trang này
khi viết về hội Lồng tồng các tác giả cũng đã trình bày về nguồn gốc của hội
qua một số truyền thuyết ở Lạng Sơn, ở Cao Bằng… và đề cập đến một số
nghi lễ và trò chơi trong ngày hội.
Các tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sỹ Giáo, Lâm Bá Nam
với cuốn Lễ hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam [4; tr.42], các tác giả đã
viết về Hội Xuống Đồng (Hội Lồng Tồng). Đây là lễ hội truyền thống của cƣ
dân nông nghiệp, một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc ở
vùng Việt Bắc.
Tác giả Lê Văn Kỳ trong Lễ hội nông nghiệp Việt Nam [8; tr.161tr.167], đã viết về Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc
Việt Nam và đã trình bày về thời gian, địa điểm mở hội, cách thức mở hội,
những nghi lễ và các trò chơi dân gian của lễ hội cũng đƣợc tác giả trình bày
khá cụ thể.
Tác giả Hoàng Văn Páo với Lễ hội Lồng Tồng của người Tày bản Chu
xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn [15], tác giả đã trình bày sâu sắc
về lễ hội Lồng tồng của ngƣời Tày ở xã Hƣng Đạo huyện Bình Gia.
Trong cuốn Lễ hội Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Khánh - Vũ Thuỵ An đã
dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc.
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc
- Mở rộng so sánh với lễ hội Xuống đồng của ngƣời Kinh ở Duy Tiên Hà Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp điền dã và tổng kết thực tiễn: thực hiện quan sát,tìm
hiểu,nghiên cứu trong quá trình điền dã thực tế.
- Phƣơng pháp liên ngành.
- Phƣơng pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
6. Đóng góp của khóa luận
Góp phần vào việc giới thiệu, giúp nâng cao hiểu biết về lễ hội Lồng
tồng của đồng bào dân tộc miền núi.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho việc học tập và nghiên cứu lễ hội Lồng tồng của các dân tộc miền
núi Việt Nam.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo. Khóa luận tốt nghiệp
đƣợc chia làm 3 chƣơng. Cụ thể đó là:
Chƣơng 1: Khái quát chung.
Chƣơng 2: Đặc điểm lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi
phía Bắc.
Chƣơng 3: Vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống các dân tộc Tày,
Nùng.
6
hoạch. Cƣ dân sống chủ yếu bằng nghề săn bắn và hái lƣợm thƣờng tổ chức
các lễ hội hoá trang, các động tác tƣợng trƣng cho pháp thuật săn bắn, các
hình tƣợng tƣợng trƣng cho việc săn bắn kết quả. Lễ hội còn là dịp để nhớ về
lịch sử, nhớ về cội nguồn của dân tộc, lễ hội đƣợc tổ chức có thể gắn với các
danh lam thắng cảnh, các truyền thuyết liên quan đến sự hình thành, phát triển
phồn vinh của vùng quê, ngƣời đi lễ hội vừa là để thay đổi không khí cuộc
sống là dịp gặp gỡ vui vẻ, là dịp tìm tòi sự may mắn qua nguyện ƣớc thắp
hƣơng ở nơi dự lễ.
Ngày lễ hội cũng chính là dịp để họ hàng và bè bạn gần xa tới thăm hỏi
chúc tụng nhau, mời nhau ăn uống. Mùa lễ hội là mùa vui của tất cả mọi
ngƣời dân trong bản từ cụ già đến em nhỏ đều háo hức lễ hội để họ có dịp
diện những bộ quần áo mới nhất đi chơi hội và đƣợc xem những trò vui, trò
diễn trong lễ hội. Trong lễ hội bao gồm hai phần chính là lễ và hội:
“Lễ” trƣớc hết đƣợc hiểu là nghi thức, là mở đầu cho hội làng. “Lễ là
những nghi thức nhằm đánh dấu kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào
đó” [18; tr.450]. Theo quan niệm của Khổng Tử (ngƣời sáng lập ra Nho giáo)
khi ông nói về lễ (bàn trong Lễ - Nhạc) thì lễ trƣớc hết là trật tự, nhạc là sự
hài hòa. Lễ mang ý nghĩa là mọi nghi thức ứng xử của con ngƣời với tự nhiên
và xã hội. Lễ vốn là phép ứng xử văn hoá, trong ứng xử xã hội, bao gồm ứng
xử giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng và ngƣợc lại, giữa các
thiết chế nhỏ trong cộng đồng lớn với nhau… Thƣờng đƣợc bắt đầu và phải
bắt đầu từ lễ, tức là từ nghi thức trƣớc khi đi vào một nội dung giữa hai quan
hệ hoặc các quan hệ trong xã hội. Từ những nghi thức mang tính xã giao đời
thƣờng là lễ, phép tắc để phân biệt trên, dƣới, sang, hèn, thân, sơ… dần dần
đƣợc “thiêng hóa” để trở thành những nghi lễ mang tính tôn giáo, về sau
chúng trở thành những nghi thức mở đầu cho lễ hội. Các nghi thức của lễ toát
lên sự cầu mong các vị thần linh đem đến cho họ mùa màng bội thu, cuộc
8
ngƣỡng, phần thế giới tâm linh sâu lắng của con ngƣời, là cơ sở để mọi ngƣời
vui hội. Còn hội là tập hợp các trò diễn có tính lễ thức, các cuộc vui chơi, giải
trí tại một địa điểm nhất định, thƣờng trong khuôn viên các công trình tôn
giáo hay ở sát chúng, có đông ngƣời tham gia, là đời sống văn hoá thƣờng
nhật và một phần đời của một cá nhân và cả cộng đồng nhân kỷ niệm một sự
kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội. Không khí vui vẻ, tƣng bừng
mang đậm màu sắc tôn giáo nguyên thuỷ của hội lại là biểu hiện cho sự thành
công của lễ. Hội làm cho lễ càng thêm trang trọng, uy nghiêm và thần bí hơn,
cấu thành lễ hội, không có lễ hội nào có thể thiếu một trong hai thành phần
đó.
1.2. Lễ hội truyền thống
1.2.1. Khái niệm lễ hội truyền thống
Với nền văn minh lúa nƣớc lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội cổ truyền
Việt Nam với nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo. Lễ hội là một
sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam là nền
văn hóa nông nghiệp. Vậy lễ hội truyền thống Việt Nam là lễ hội nông
nghiệp. Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngƣỡng phồn thực trong nông nghiệp của
dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mƣa thuận gió hòa vạn vật sinh sôi nảy nở.
Theo GS. Trần Quốc Vƣợng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm
những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là ghi thức
hay nghi lễ nông nghiệp nhƣ: lễ hội “Lồng tồng” của ngƣời Tày, Nùng; lễ tế
Thần Nông, lễ Hạ Điền (Xuống Đồng của ngƣời Mƣờng), lễ hội Thƣợng Điền
của ngƣời Việt - mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắt
cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hội chùa, hội đình…
Tất cả chúng đều đƣợc gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không
gian thôn dã với một thời gian thôn dã (mang tính chất chu kì). Chủ nhân của
những lễ hội này chủ yếu là nông dân, là thợ thủ công, địa chủ, quan lại, sống
10
1.2.2. Phân loại lễ hội truyền thống
1.2.2.1. Lễ hội gắn với tín ngưỡng cầu mùa
Theo Từ điển tiếng Việt thì tín ngƣỡng là tin theo một tôn giáo nào đó.
Nhƣ vậy, tín ngƣỡng chỉ là một niềm tin tôn giáo. Mỗi tín đồ của một tôn giáo
nào đó đều có niềm tin riêng của mình, khác với niềm tin của tôn giáo khác.
Lâu nay, có một số ngƣời hiểu không đúng về thuật ngữ này, thƣờng coi tín
ngƣỡng cũng là tôn giáo (tín ngƣỡng dân gian cũng là một tôn giáo sơ khai).
Tín ngƣỡng không có ý chỉ là một tôn giáo, mà chỉ là một niềm tin có tính
chất tôn giáo. Đại đa số nhân dân Việt Nam đều tin theo tôn giáo sơ khai mà
ngành dân tộc học gọi là đa thần giáo xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu
linh.
Cầu mùa là một tín ngƣỡng có từ lâu đời trong đời sống của nhiều dân
tộc trên đất nƣớc Việt Nam. Nó ra đời gắn liền với nền văn minh nông nghiệp
và đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cầu mùa ở mỗi dân tộc có một
cách thể hiện khác nhau nhƣng cùng giống nhau ở một mục đích cuối cùng đó
là cầu cho một năm mƣa thuận gió hòa, ngƣời ngƣời khỏe mạnh, mùa màng
thắng lợi, vạn vật tốt tƣơi, sinh sôi nảy nở… Đó là một nét đẹp văn hóa cần
đƣợc bảo tồn và phát huy.
Đây là loại lễ hội phổ biến ở tất cả các dân tộc. Tuy ở mỗi địa phƣơng
mỗi dân tộc có những nghi thức, nghi lễ khác nhau, nhƣng đều cùng chung
một nội dung là cầu mùa. Những nội dung đó đƣợc thể hiện một cách sinh
động ở các lễ thức sau:
Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp bao gồm lễ hội
tái hiện các sinh hoạt kinh tế tiền nông nghiệp nhƣ sắn bắn, hái lƣợm, lễ mở
cửa rừng, hồ đánh cá…và những lễ thức tái hiện hoạt động sản xuất nông
nghiệp nhƣ cây cối, hội tầm tang, trình nghề nông, thờ ông Điền…
12
những lễ hội liên quan đến việc tƣởng niệm công lao các vị danh nhân văn
hóa, anh hùng lịch sử, các vị Thành Hoàng và chƣ vị Thánh, chƣ vị Phật…
Loại lễ hội này đều thờ cúng, diễn tích liên quan đến các vị nhiên thần
và nhân dân đã có công khai sơn phá thạch, xây dựng, giữ gìn, bảo vệ làng
xóm, đất nƣớc và chƣ vị Thánh, Phật có công khai minh, khai mang, xây
dựng đền chùa, giúp dân giệt ác trừ tà, bảo vệ cái thiện… Điều đáng lƣu ý ở
đây là sự thờ cúng ở các dân tộc miền núi chủ yếu là các lực lƣợng nhiên
thần, còn ở đồng bằng thì chủ yếu lại thờ cúng các lực lƣợng nhân thần. Đó
là:
Các nghi thức thờ cúng các thần thổ địa, thần rừng, thần sông nƣớc (ở
miền núi), thờ thần cây đa, bến nƣớc nhƣ Sơn Thần, Giang Thần, Đông Hải
Đại Vƣơng (ở miền xuôi)…
Lễ rƣớc các vị danh nhân văn hóa, anh hùng lịch sử nhƣ Tản Viên Sơn
Thánh, chƣ vị Phật, chƣ vị Thánh, lễ hội thờ Trƣơng Hống, Trƣơng Hát, Hai
Bà Trƣng, Thánh Gióng, Vua Hùng, Bố Cái Đại Vƣơng, Đức Thánh Trần…
Diễn lại các tích liên quan đến các vị anh hùng có công với dân và
nƣớc: Thánh gióng các vị Thành Hoàng, hội Gía, hội đền vua Lê, hội vật Hồi
Quan, hội đấu kiếm Phù Lão…
Các nghi thức trên đã thể hiện rõ đạo lí “uống nƣớc nhớ nguồn” của
nhân dân ta. Từ đạo lý đó đã đƣợc khái quát hóa và thần Thánh hóa những
ngƣời đã có công với dân với nƣớc. Vì vậy, vị trí của ngƣời có công đối với
cộng đồng quốc gia, cộng đồng làng xã đã chiếm phần quan trọng trong tâm
linh của ngƣời dân Việt.
Một số lễ hội tƣởng nhớ ngƣời có công tiêu biểu nhƣ: Lễ hội Gò Đống
Đa là một lễ hội chiến thắng, đƣợc tổ chức hàng năm để tƣởng nhớ những
chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung – ngƣời anh hùng áo vải trong lịch
sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Nhiều trò chơi vui khỏe đƣợc tổ chức
14
ngƣời, các quan hệ làng nƣớc và của chính mình. Ở đây con ngƣời đƣợc sống
theo quy luật tự do hội hè.
Không gian lễ hội thực chất là sự đổi mới từ không gian thông thƣờng
thành một không gian con đƣờng làng với những lều quán quen thuộc, nhƣng
trong những ngày lễ hội, bỗng trở nên mới mẻ, tƣng bừng náo nức, trở nên
thiêng liêng và cao cả.
Ví dụ, lễ hội Yên Tử. Mỗi độ xuân sang, du khách thập phƣơng lại về
Yên Tử, thành tâm chiêm bái chốn Tổ Thiền Trúc Lâm, thăm Khu Di tích lịch
sử - thắng cảnh nổi tiếng vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Hằng năm, từ những
ngày đầu tháng Giêng, du khách thập phƣơng lại tấp nập về Hội xuân Yên Tử
lễ Phật, du xuân “cầu may vạn phúc”. Ngày 10 tháng Giêng, lễ khai mạc Hội
xuân truyền thống đƣợc tổ chức với nhiều hoạt động nhƣ: Lễ dâng hƣơng
cúng Phật, bái Tổ Trúc Lâm; văn nghệ diễn xƣớng tái hiện sự tích lịch sử, văn
hóa tâm linh, những huyền thoại về Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm tôn kính;
Lễ khai ấn “Dấu Thiêng Chùa Đồng” đầu năm rất quan trọng và các hoạt
động văn hóa dân gian, múa Rồng Lân, võ thuật cổ truyền, trò chơi dân
gian,..… tƣng bừng, nhộn nhịp.
Yên Tử gắn liền với diễn biến lịch sử huy hoàng của dân tộc Việt Nam
trong công cuộc chiến đấu và chiến thắng lẫy lừng quân xâm lƣợc phƣơng
Bắc, phƣơng Tây và xây dựng đất nƣớc. Yên Tử trở thành một trong những
biểu tƣợng rực rỡ của tinh thần độc lập tự chủ, tự cƣờng của dân tộc Việt
Nam. Hội Yên Tử là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hƣng thịnh của dân tộc, thể
hiện rõ nét tinh thần cộng đồng.
1.2.3.2. Tính cộng cảm
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con ngƣời giao lƣu, cộng cảm, trao
truyền những giá trị tốt đẹp. Khi làng mở hội, ngƣời đi dự hội đƣợc trải
nghiệm một không gian văn hóa vừa thân quen, vừa mới mẻ. Tình cảm đó sẽ
16
28
Gái trai chia làm hai phe để hát sli, lƣợn, là hai hình thức đối ca giao
duyên nam nữ, thể hiện tục cầu mùa, còn trò chơi kéo co giữa các cô gái
chàng trai Tày, Nùng vừa mang tính chất cầu mùa, cầu mƣa, cầu nƣớc nhƣ
một nghi lễ tín ngƣỡng nông nghiệp lâu đời. Đặc biệt các điệu hát Sli (Nùng),
Lƣợn (Tày) quen thuộc đƣợc biểu diễn một cách tự nhiên trong làng, ở khe
suối hay ở các cánh rừng. Là lễ hội quan trọng nhất của vùng Đông Bắc nên
mọi ngƣời đều mặc y phục sắc tộc đẹp nhất, các bà, các cô đƣợc tô điểm bằng
đồ trang sức quý nhất. Điệu múa tiêu biểu của hội Lồng tồng là múa sƣ tử.
Những điệu múa lễ hội khác của ngƣời Tày, Nùng là xòe chiêng, múa then.
Khi trời tối cũng là lúc không khí hội chuyển sang sự hấp dẫn khác. Lửa trại
đƣợc nhóm bùng lên. Những làn hát cọi vang lên. Câu ca “Gốc cọi ở mƣờng
trời, tổ cọi ở xứ tiên” từ miệng hoa của ngƣời con gái thƣờng đƣợc mở đầu
cho các làng hát cọi đối đáp nhau. Ngoài ra, hội còn tổ chức thi hát lƣợn, hát
sli, thu hút đông ngƣời tham gia.
Các hoạt động vui chơi khác nhƣ: Múa Sƣ tử, có múa chào Thần thánh,
múa vui hội, múa báo đông, múa trò vui của khỉ… Múa võ (oóc quyền), múa
gậy, múa côn, đoản đao, đinh ba chạc (Slamsla), múa đàn, múa quạt… Ném
còn, kéo co, đấu gậy, cờ tƣớng, chọi chim, bắn nỏ, cau quay, đánh yến, đánh
đáo, đánh bi, đánh khăng, đi cà kheo… đã mang lại không khí vui tƣơi, náo
nức cho lễ hội.
Trong các trò vui chơi của ngƣời Tày, Nùng, trò hát then, Sli, lƣợn thu
hút nhiều khách thập phƣơng hơn cả. Các trò này đƣợc kéo dài từ lúc bắt đầu
cho đến lúc kết thúc lễ hội, đƣợc đƣa vào nhà và khắp thôn bản đều hát; nội
dung hát chủ yếu là hát giao duyên, hát chúc tụng, hát mừng xuân mới, đặc
biệt các đôi trai gái thanh niên tìm hiểu nhau sau này trở thành vợ chồng...
Lễ hội Lồng tồng là một Lễ, Hội dân gian giàu bản sắc và sinh động
trong các dạng thức biểu hiện, tuy nhiên trƣớc nguy cơ đồng nhất về văn hóa
30
khi ném còn nghi lễ, mở đầu cuộc ném là nam giới, bên nhận còn là nữ giới.
Khi ném trúng phông còn, ông Mo còn tung hạt giống (có năng lƣợng thiêng,
có sự sinh sản mạnh) cho mọi ngƣời tranh cƣớp. Đó là trao truyền tính chất
thiêng của hành động nam nữ giao hợp sang hạt giống, nhằm chia thêm chất
thiêng cho thành viên cộng đồng.
Đặc biệt tính phồn thực còn thể hiện rõ nhất ở điệu múa kiếm và mộc ở
Văn Bàn. Khi tiếng trống “tùng” trong nhịp trống thì mọi ngƣời lại chọc thanh
kiếm vào mộc, khi đó ngƣời cầm mộc cũng ƣỡn nửa thân dƣới ra phía trƣớc.
Có một số ngƣời (kể cả dân bản) đều cho rằng đây là điệu múa kiếm mang
tính chất thƣợng võ. Nhƣng thực ra cốt lõi của điệu múa kiếm là diễn tả lại
hành động giao hợp. Kiếm là biểu tƣợng của dƣơng vật, còn mộc là biểu
tƣợng của âm vật. Én cũng là biểu tƣợng của nam tính (theo tín ngƣỡng cổ
của ngƣời Tày đăm). Do đó đánh én cũng là hành động giao hoà nam nữ.
Trƣớc đây, thời điểm tổ chức hội Lồng tồng vào khoảng tháng 3, tháng
4 Âm lịch, là thời điểm đón những cơn mƣa đầu mùa. Về sau do ăn Tết
Nguyên đán, hội mới mở vào tháng Giêng. Nƣớc là yếu tố quyết định của nền
nông nghiệp ruộng nƣớc, vì vậy dấu vết cầu mƣa phản ánh khá đậm nét trong
hội Lồng tồng.
Nƣớc để cúng trong ngày hội phải là nƣớc nguồn mang tính chất tinh
khiết chảy mãi không cạn. Nƣớc đƣợc ngƣời dân đánh chiêng rƣớc về, đặt
trên bản thờ ông Mo (thêm phần thiêng). Trong các thần linh về dự hội, bên
cạnh những thần núi (nam thần) còn có thần mỏ nƣớc (nữ thần) - biểu hiện
của âm dƣơng hoà hợp. Đặc biệt, ngay sau lễ cúng, ông Mo còn niệm chú
(nhằm tăng chất thiêng) rồi ngậm nƣớc phun 4 hƣớng. Đó là hành động mô
phỏng cầu mƣa, mong mƣa tƣới khắp trần gian. Ngay lúc đó, một hồi trống đổ
vang rền nhƣ sấm đổ hội, trống bịt da chiêng. Theo Giáo sƣ Tô Ngọc Thanh
(2007), các nhạc cụ thiêng là hiện thân của thần sông. Trong trò kéo co có