Dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển ở Việt Nam - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÀN THỊ QUỲNH GIAO

DÂN CA NGHI LỄ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62 22 01 25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế

HÀ NỘI, 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ..................................................... 8
1.1. Tình hình nghiên cứu .............................................................................. 8
1.2. Cơ sở lý luận ......................................................................................... 18
1.3. Khái quát về người Dao Tuyển và dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
ở Việt Nam ................................................................................................... 27
Chương 2: DIỄN TRÌNH DIỄN XƯỚNG DÂN CA NGHI LỄ CỦA
NGƯỜI DAO TUYỂN .................................................................................. 39
2.1. Dân ca trong nghi lễ cấp sắc ................................................................. 40
2.2. Dân ca trong nghi lễ đám cưới .............................................................. 50

của tộc người này.
1.2. Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển chứa đựng trong nó văn hóa
truyền thống của tộc người. Ở đó thế giới tâm linh (thế giới quan, vũ trụ quan)
và triết lý nhân sinh quan được phản ánh rõ nét. Từ những bài dân ca nghi lễ
được thực hành trong đời sống văn hóa ta thấy được đặc tính văn hóa cũng
như những tâm tư, tình cảm của cộng đồng cư dân người Dao Tuyển.
1.3. Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển có vai trò quan trọng trong
thực hành nghi lễ vòng đời đồng thời cũng phản ánh được đời sốngvật chất,
đời sống tinh thần của đồng bào. Tuy nhiên cho đến nay, nó vẫn chưa được
nghiên cứu chuyên sâu đúng với tiềm năng và thực trạng vốn có. Do vậy, tìm
hiểu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam trong đời sống văn hóa
chúng ta sẽ có một cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về thể loại dân ca nghi lễ
của tộc người này.
1.4. Người Dao Tuyển ở Việt Nam cư trú trên những địa bàn có điều
kiện sinh tồn khác nhau. Vì thế, ở mỗi địa phương người Dao Tuyển lại có
những sắc thái văn hóa riêng, điều đó đã tạo nên tính đa dạng, phong phú
trong nguồn mạch văn hóa Dao nói chung. Việc sử dụng dân ca trong thực

1


hành nghi lễ vừa thể hiện tính thống nhất trong đời sống tinh thần tộc người,
vừa biểu hiện nét khác biệt của người Dao Tuyển so với các nhóm Dao khác.
Luận án nghiên cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam nhằm
góp phần chỉ ra những nét đặc thù và phổ quát của loại hình nghệ thuật này.
1.5. Bản thân nghiên cứu sinh là một người mang dòng máu và tâm thức
văn hóa của người Dao, sinh tồn trong môi trường văn hóa ấy nên có vốn hiểu
biết nhất định về đời sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc mình.
Khi tiến hành khảo sát, nghiên cứu về dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển,
nghiên cứu sinh có điều kiện tiếp cận thực tế, sưu tầm, tìm hiểu các nghi lễ

Luận án tập trung nghiên cứu nội dung phản ánh và phương thức phản
của dân ca nghi lễ với tư cách là một thành tố quan trọng trong mối quan hệ
giữa bối cảnh diễn xướng với các lễ thức tín ngưỡng dân gian. Bên cạnh đó,
luận án cũng xem xét dân ca nghi lễ như một hiện tượng văn hóa dân gian
mang tính nguyên hợp đồng thời dựa vào những đặc trưng văn hóa tộc người
để có cơ sở lý giải ý nghĩa cơ bản của một số hình ảnh nghệ thuật thẩm mĩ.
Để từ đó làm nổi bật lên mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa văn hóa với dân
ca nghi lễ người Dao Tuyển.
Trong luận án, ở một mức độ cho phép chúng tôi sẽ cố gắng so sánh dân
ca nghi lễ của người Dao Tuyển với dân ca nghi lễ của một số ngành Dao
khác để tìm ra sự tương đồng và nét văn hóa đặc trưng của dân ca nghi lễ dân
tộc Dao nói chung, nhằm làm rõ tính chuyên biệt và phổ quát của các loại
hình dân ca nghi lễ người Dao Tuyển.
Luận án, đặt dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao
Tuyển, với mong muốn làm rõ nội dung và nghệ thuật phản ánh của nó, để từ
đó góp phần khẳng định vai trò, vị trí, giá trị của loại hình dân ca này trong
cộng đồng người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung ở Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những bài dân ca trong nghi lễ vòng
đời của người Dao Tuyển, cụ thể là: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong
nghi lễ đám cưới và dân ca trong nghi lễ tang ma qua các công trình sưu tầm,
nghiên cứu đã được xuất bản.

3


3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi một mặt căn cứ vào các thư tịch, văn bản dân ca nghi lễ đã
được tuyển chọn và giới thiệu, cụ thể: Lễ cưới người Dao Tuyển, xuất bản


Đặt dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng folklore: Chúng tôi
không nghiên cứu dân ca nghi lễ như là một thành tố tồn tại độc lập mà đặt
trong bối cảnh diễn xướng của tộc người để tìm hiểu dân ca nghi lễ trong mối
quan hệ với các thành tố văn hóa khác. Đồng thời đặt dân ca nghi lễ của
người Dao Tuyển trong bối cảnh diễn xướng để có những luận giải về đời
sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần thông qua nội dung phản
ánh và phương thức phản ánh.
Vận dụng linh hoạt lý thuyết tính nguyên hợp ở phương diện chức năng
của folklore: Cụ thể là trong luận án chúng tôi đặc biệt chú ý đến chức năng
thực hành – sinh hoạt của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người
Dao Tuyển. Song do đặc thù của loại hình dân ca nghi lễ và cũng do sự quy
định của mã ngành nghiên cứu nên trong luận án chúng tôi chỉ đi sâu nghiên
cứu tính chất thực hành – sinh hoạt của dân ca nghi lễ biểu hiện trực tiếp
thông qua chủ thể diễn xướng, không gian, thời gian diễn xướng, ngôn ngữ,
thể thơ trong các nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án này, chúng tôi chủ yếu áp dụng một
số phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích ngữ văn: Phương pháp này được chúng tôi
tiến hành thường xuyên và là phương pháp chủ đạo của luận án nhằm phát
hiện ra đặc điểm cơ bản của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển. Đồng thời, tìm
hiểu sâu hơn giá trị về nội dung và nghệ thuật của dân ca nghi lễ.
Phương pháp so sánh lịch sử và so sánh loại hình: Các phương pháp
này được chúng tôi sử dụng nhằm so sánh đối chiếu dân ca nghi lễ các ngành
Dao từ truyền thống đến hiện đại, trên cơ sở phân tích, tổng hợp nhằm tìm ra
nét văn hóa đặc trưng của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Dân ca nghi lễ của người Dao
Tuyển ẩn chứa những giá trị tinh thần quý báu của dân tộc, như: Tín ngưỡng,
tôn giáo, tâm hồn, tình cảm, nghệ thuật… các giá trị ấy tồn tại trong tính

bối cảnh văn hoá tộc người.
Thứ ba: Bằng việc tiến hành khảo sát, giải mã dân ca trong đời sống
văn hóa của người Dao Tuyển, bước đầu chúng tôi hệ thống dân ca nghi lễ
theo các loại hình nghi lễ như sau: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong
nghi lễ đám cưới, dân ca trong nghi lễ tang ma. Khi tiến hành nghiên cứu,

6


chúng tôi sẽ chỉ ra chức năng, ý nghĩa nội dung và giá trị nghệ thuật của từng
tiểu loại dân ca nghi lễ ấy.
Thứ tư: Đề tài cũng góp phần thực hiện chủ trương chính sách bảo tồn,
phát huy các di sản văn hóa truyền thống của các tộc người Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn.
Luận án cũng sẽ là tài liệu giúp cho các nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu
văn hóa người Dao Tuyển và người Dao nói chung, có hướng tiếp cận mới
với thể loại dân ca này cũng như có cách đánh giá, nhìn nhận mới về các giá
trị của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển nói riêng
và các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc nói chung.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và đối tượng
nghiên cứu
Chương 2: Diễn trình diễn xướng dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Chương 3: Sự phản ánh thế giới tâm linh và đời sống con người trong
dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Chương 4: Các yếu tố nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người
Dao Tuyển

Nam bước đầu đã có ý thức đề cập đến nguồn gốc, phong tục, tập quán của
tộc người này một cách tương đối có hệ thống. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ
thế kỷ XVIII, người Dao ở Việt Nam đã được quan tâm tìm hiểu, ghi chép.

8


Nhưng do nguồn tư liệu còn bị hạn chế nên hầu hết các công trình nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu sơ lược về tên gọi, một vài nét đặc sắc
về phong tục, tập quán, trang phục của người Dao. Nhưng đó là nguồn tư liệu
đáng tin cậy để tìm hiểu về nguồn gốc, quá trình di cư, địa bàn cư trú của
người Dao ở Việt Nam.
Thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam, một số cha cố và sĩ quan Pháp đã có
những tìm hiểu, ghi chép về người Dao nhằm hiểu hơn về tộc người này.
Những nghiên cứu ấy đã được công bố trên tạp chí Viễn Đông Bác Cổ
(BEFEO). Chúng ta có thể kể đến một vài bài viết đáng chú ý thời kỳ này
như: Một cuộc công cán ở vùng người Mán từ tháng 10 năm 1901 đến cuối
tháng giêng năm 1902 [5]; Mán Chàm hoặc Lam Diên (1906), Mán Tiểu Bản
hay Đeo Tiền (1907), Mán Đại Bản hoặc Sừng (1908), Giản chí về người
Mán Cao Lan [6], những bài viết này của tác giả A. Bonifacy chỉ dừng lại ở
việc miêu tả về nhà cửa, trang phục, kinh tế, tổ chức xã hội, tôn giáo, tín
ngưỡng và văn học dân gian... của nhóm Dao Lam Điền, Dao Đeo Tiền, Mán
Cao Lan. Trong những bài viết này mặc dù A. Bonifacy có giới thiệu qua về
thể loại văn học dân gian của các nhóm Dao nhưng không thấy đề cập đến
thể loại dân ca nghi lễ. Song các bài viết thời kỳ Pháp thuộc là một nguồn tư
liệu quý, có giá trị tham khảo cho luận án của chúng tôi.
Từ sau năm 1945: Tình hình nghiên cứu về người Dao và dân ca Dao có
sự khởi sắc hơn giai đoạn trước đó, song có thể thấy ở tất cả các hướng
nghiên cứu chưa có công trình nghiên cứu sâu nào về dân ca nghi lễ của
người Dao. Song ở giai đoạn này các nhà nghiên cứu trong nước đã quan tâm

thức kinh tế, sinh hoạt vật chất và sinh hoạt xã hội; một số tục lệ chủ yếu; tôn
giáo, tín ngưỡng. Năm 2010, tác giả Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn cho xuất bản
cuốn Người Dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam [131], đề cập đến nguồn
gốc và quá trình hình thành dân tộc Dao ở Việt Nam; các nhóm Dao; văn hóa
dân tộc Dao; quá trình đấu tranh bảo vệ tổ quốc và phát triển tộc người.
* Ở hướng nghiên cứu thứ hai: Các nhà nghiên cứu đã công bố những
công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa dân tộc Dao, các công trình đó
đã khái quát được văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của người Dao từ truyền
thống đến hiện đại, có thể kể đến: Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà
Giang (1999) [36] của tác giả Phạm Quang Hoan và Hùng Đình Quý, cuốn
sách đã đề cập một cách tương đối đầy đủ các lĩnh vực đời sống, kinh tế, văn

10


hóa, xã hội của người Dao. Năm 2011, tác giả Nguyễn Khắc Tụng xuất bản
cuốn Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam [135]. Trong cuốn
sách này các tác giả đã miêu tả sâu các công đoạn làm ra một bộ trang phục
truyền thống của 7 nhóm người Dao ở Việt Nam. Từ việc giải mã các hoa văn
trên trang phục của người Dao, các tác giả đã chỉ ra những đặc tính văn hóa
riêng của từng nhóm Dao. Cùng nghiên cứu về vấn đề trang phục của người
Dao, năm 2013 tác giả Phan Thị Phượng xuất bản cuốn Trang phục và nghệ
thuật trang trí trên trang phục của người Dao Đỏ ở Lào Cai [85] trong cuốn
sách đó tác giả đã phân tích được vai trò của người phụ nữ trong việc sử dụng
nguyên liệu, kỹ thuật tạo hoa văn trên vải thổ cẩm để làm ra bộ trang phục của
người Dao Đỏ. Ở phương diện văn hóa tinh thần, đã có một số công trình đi
sâu vào nghiên cứu các phong tục, tập quán của người Dao, cụ thể: trong cuốn
Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ H’Mông – Dao ở Việt
Nam (2002) [54] tác giả Nguyễn Đức Lợi đã giới thiệu tới người đọc những
tập tục trong chu kỳ đời người thuộc nhóm ngôn ngữ H’Mông – Dao. Qua đó,

Truyện cổ Dao [111], giới thiệu đến bạn đọc 72 truyện cổ, cuốn sách bao gồm
các câu chuyện thần thoại về nguồn gốc ra đời của tộc người; các truyện cổ
tích lý giải vì sao người Dao ở nhà đất, không ở nhà sàn; nguồn gốc chữ viết
và tục cúng trời của người Dao có từ đâu?… Tác giả Doãn Thanh đã cung cấp
những tư liệu quý đồng thời gợi mở cho việc khảo sát và tìm hiểu truyện cổ
của người Dao. Hơn 20 năm sau, tác giả Trần Hữu Sơn cho ra mắt cuốn Tục
ngữ, câu đố của dân tộc Dao (1999) [100], đây là cuốn sách được tác giả dày
công sưu tầm và dịch thuật, cuốn sách chia làm 2 phần: phần tục ngữ đã giới
thiệu tới người đọc 396 câu tục ngữ về mùa vụ, thời tiết, quan hệ gia đình…
trong dân gian; phần câu đố tác giả sưu tầm được 186 câu đố dân gian, các
câu đố đó được bắt nguồn từ nhu cầu giải trí, thi tài, thử tài suy đoán của
người Dao. Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn cho xuất bản cuốn Câu đố - Tục
ngữ - Dân ca dân tộc Dao (2007) [132]. Cuốn sách này được hai tác giả sưu
tầm và diễn giải một cách cẩn trọng bốn thể loại văn học dân gian, đó là: các
câu đố dân gian được phân chia theo các chủ đề thiên nhiên, thực vật, động
vật, dụng cụ lao động sinh hoạt, ngâm – vịnh đố, hát đối đáp đố giải trong hôn
lễ; những câu thành ngữ châm ngôn bao gồm một số thành ngữ đời thường,
một số thành ngữ biến hóa thành tục ngữ, thành ngữ rút ra từ sách dần biến
thành câu cửa miệng, thành ngữ tham gia kết cấu bài ca…; các câu tục ngữ, ở

12


thể loại này tác giả đã trình bày định nghĩa, nội dung, hình thức cấu trúc, ảnh
hưởng qua lại giữa tục ngữ Dao và Kinh, Tày. Ngoài ra hai tác giả còn phân
loại tục ngữ theo các chủ đề như tục ngữ về thiên nhiên, môi trường, con
người, gia đình, dòng họ, lao động sản xuất, mua bán, tình yêu, hôn nhân, tín
ngưỡng, ứng xử xã hội, chống thói hư tật xấu; các khúc ca ngâm được hai tác
giả sắp xếp theo các chủ đề như tình và cảnh, cộng đồng xã hội, tình yêu, hôn
nhân, hôn lễ, hát ru. Năm 2010, tác giả Trần Trí Dõi, Triệu Phúc Xuân, Triệu

ghi chép lại những câu ca, ca ngợi Bàn Hộ người được coi là ông tổ của người
Dao, người đã có công đưa người Dao đến với vùng đất mới. Những câu ca
trong cuốn sách ngoài việc ngợi ca vị thần Bàn Hộ, người đã che chở cho
cuộc sống, là điểm tựa tâm linh của người Dao chúng ta còn thấy xuất hiện
những câu ca nói về thế giới tâm linh cũng như triết lý nhân sinh quan của
người Dao. Cho đến nay, các bài dân ca trong cuốn sách này vẫn được người
Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng sử dụng trong các nghi lễ cấp
sắc, tang ma và trong hát Páo dung đầu xuân. Đến năm 1990, Triệu Hữu Lý
tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn Dân ca Dao [58]. Đây là công trình giới
thiệu khá đầy đủ diện mạo dân ca Dao với 5 nhóm phân loại: Hát đối; Bài ca
can chi; Tình thơ gửi; Những bài hát đám cưới; Lời răn lưu truyền. Công
trình này đã được tác giả dày công sưu tầm và dịch thuật một cách công phu,
cho nên đã đảm bảo được tính khoa học, truyền tải được nội dung của dân ca
Dao từ tiếng Dao sang tiếng Việt/ Kinh song vẫn giữ được nhạc điệu và nhịp
điệu của lời ca. Có thể nói, cuốn sách này của ông đã trở thành nguồn tư liệu
quí giá, phục vụ cho việc bảo tồn và nghiên cứu văn học dân gian của người
Dao. Trong cuốn Dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam – tập 2 (1997) [129],
tác giả Hoàng Văn Trụ cũng tuyển chọn, giới thiệu đến bạn đọc một số bài
dân ca trong nghi lễ cấp sắc của người Dao Tiền. Mặc dù số lượng bài dân ca
trong nghi lễ cấp sắc được giới thiệu rất hạn chế (03 bài), nhưng đây cũng là
tư liệu quý để chúng tôi đối sánh trong luận án. Có thể khẳng định, các công
trình sưu tầm, giới thiệu về thể loại dân ca đã giới thiệu tới bạn đọc được một
số làn điệu dân ca giao duyên, dân ca đám cưới, dân ca nghi lễ cấp sắc, các
bài hát răn dạy của dân tộc Dao. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công
trình nghiên cứu chuyên sâu nào về dân ca nghi lễ cũng như dân ca giao
duyên của dân tộc Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng.

14




15


những nghi lễ ấy. Cuốn thứ hai là cuốn Thơ ca dân gian người Dao Tuyển
(2005) [102], cuốn sách được tác giả biên soạn thành hai phần, một phần giới
thiệu các loại hình thơ ca dân gian và những chuyên luận nghiên cứu về lịch
sử nghiên cứu thơ ca dân gian của người Dao ở Việt Nam và Trung Quốc, ở
phần thứ hai tác giả giới thiệu một số bài dân ca được người Dao Tuyển sử
dụng trong một số nghi lễ vòng đời như lễ đặt tên, cấp sắc, cưới xin, tang ma.
Đây là công trình đã để lại dấu ấn sâu đậm trong việc sưu tầm và tìm hiểu dân
ca của người Dao Tuyển. Cuốn sách này được tác giả tái bản, bổ sung thêm
phần chữ Nôm Dao năm 2011, xuất bản dưới tên Thơ ca dân gian người Dao
Tuyển (Song ngữ: Việt- Dao) [103]. Khi tái bản, tác giả đã chia cuốn sách
thành bốn phần: Phần thứ nhất là nghiên cứu về người Dao Tuyển, quá trình
nghiên cứu, sưu tầm và các loại hình thơ ca dân gian của người Dao Tuyển;
phần thứ hai giới thiệu những bài thơ ca dân gian người Dao Tuyển bằng
tiếng Việt; phần thứ ba giới thiệu những bài thơ ca dân gian người Dao Tuyển
phiên âm ra chữ Dao; phần thứ tư giới thiệu những bài thơ ca dân gian người
Dao Tuyển bằng chữ Nôm Dao. Sau đó, tác giả Trần Hữu Sơn xuất bản cuốn
Đám cưới người Dao Tuyển (2011) [104]. Cuốn sách đã giúp người đọc có
cách tiếp cận hoàn toàn mới về nghi lễ cưới hỏi của người Dao Tuyển: từ nghi
thức, âm nhạc, ngôn từ đến nghệ thuật trang trí trong một đám cưới ... Bên
cạnh đó cuốn sách còn giới thiệu toàn bộ 43 bài hát theo trình tự một lễ cưới
của người Dao Tuyển ở Hà Giang và Lào Cai. Đến năm 2009, Trần Hữu Sơn
công bố cuốn Những bài ca giáo lý [105], đây là một tài liệu đã được sưu tầm,
dịch thuật một cách bài bản. Những bài ca giáo lý trong cuốn sách này thực
chất là những bài cúng (những bài dân ca nghi lễ) được sử dụng trong nghi lễ
cấp sắc của người Dao Tuyển. Các bài ca này được hát lên trong nghi lễ cúng
Tam Nguyên và Tam Thanh cũng như răn dạy người được cấp sắc phải sống

khảo chuyên biệt chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa dân ca nghi lễ với đời sống
văn hóa của người Dao Tuyển.
3. Những thể loại văn học dân gian khác của người Dao Tuyển như: tục
ngữ, câu đố, truyện cổ tích, truyện cười chưa được sưu tầm và biên soạn thành
công trình riêng. Từ những công trình đã được xuất bản và những công trình
chưa được xuất bản, luận án vừa kế thừa thành tựu vừa mở ra một vấn đề mới
với hướng tiếp cận riêng, đó là đặt dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng

17


foklore để thấy được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong đời sống văn
hóa tộc người.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái niệm
Ở đây chúng tôi xin làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung
luận án như: dân ca, dân ca nghi lễ, đời sống văn hóa, văn hóa tộc người…
nhằm phục vụ tốt hơn cho việc tìm hiểu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển.
Khái niệm dân ca: Về thuật ngữ dân ca, ca dao, bộ sách Từ điển thuật
ngữ văn học đã chỉ ra rằng: Theo nghĩa gốc của từ nguyên thì ca là bài hát có
khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn
bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc
điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca [31, tr.31].
Về mặt thuật ngữ thì như vậy, còn để có một khái niệm chuẩn về dân ca
thì quả thật không đơn giản. Người Anh gọi dân ca là folk song (tạm dịch là
bài hát dân gian), người Đức gọi dân ca là volkslied (tạm dịch là: bài ca của
nhân dân), người Pháp gọi dân ca là chanson populaire (tạm dịch là: bài ca
được hát trong dân gian). Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra một
số khái niệm khác nhau về dân ca. Tuy nhiên, chúng tôi thấy có hai khái niệm
sau phản ánh đầy đủ hơn cả: khái niệm thứ nhất của nhà nghiên cứu Phan

những nghi lễ ấy đều không còn nguyên vẹn….”[126, tr.148]. Nhà nghiên cứu
Trần Thị An định nghĩa dân ca nghi lễ như sau: “Dân ca nghi lễ là các lời hát
của người thực hiện các hành vi nghi lễ trong các hoạt động nghi lễ như đám
cưới, đám tang, đám cầu cúng, chúc tụng – những lời hát này đã trở thành một
bộ phận hữu cơ của các nghi lễ đó” [75, Tr.20].
Từ các định nghĩa trên, chúng tôi hiểu dân ca nghi lễ của người Dao
Tuyển là những bài dân ca mà ở đó cộng đồng cư dân gửi gắm niềm tin tâm
linh của mình vào thế lực siêu nhiên để khẩn nguyện, cầu phúc, cầu yên,
tránh được bệnh tật, mất mùa… Các bài ca ấy được diễn xướng trong suốt
quá trình thực hiện nghi lễ và nó trở thành một bộ phận cơ hữu của những
nghi lễ đó. Qua khảo sát trong thư tịch của người Dao Tuyển và căn cứ vào
các định nghĩa nêu trên chúng tôi nhận thấy các bài dân ca được diễn xướng
trong các nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma của người Dao Tuyển có đầy đủ
các yếu tố trên, cho nên trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi dùng thuật ngữ
“dân ca nghi lễ” để chỉ cả ba loại dân ca nghi lễ này.

19


Khái niệm về đời sống văn hóa: là thuật ngữ được sử dụng khá phổ
biến ở Việt Nam từ những năm 80, có nhiều định nghĩa khác nhau tuy nhiên
chúng tôi quan tâm đến ba định nghĩa sau: thứ nhất theo tác giả Trần Độ thì
“phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng, không bó hẹp tính văn hóa vào
một số lĩnh vực đời sống văn hóa nào đó mà coi đời sống văn hóa là một khái
niệm rộng rãi, bao quát mọi mặt của đời sống xã hội: sản xuất, trao đổi, tiêu
dùng, nhận thức, sáng tạo” [23, tr.24]. Thứ hai là định nghĩa của GS.TS
Hoàng Vinh, ông cho rằng “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã
hội, mà đời sống xã hội là một phức thể của những hoạt động sống của con
người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó”. Trong đó
“Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể,

văn hóa dân gian. Nói tới văn hóa tộc người là nói tới một phạm vi rất rộng,
đụng chạm tới toàn bộ các lĩnh vực của đời sống dân tộc, tuy nhiên với mỗi
nền văn hóa bao giờ cũng chứa những sắc thái, bản sắc riêng. Mà sắc thái và
bản sắc thường là cái tàng ẩn, thậm chí rất trừu tượng. Bản sắc văn hóa là
tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc văn hóa của mỗi dân
tộc được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, giúp cho văn
hóa dân tộc giữ được tính duy nhất và thống nhất, phân biệt văn hóa của dân
tộc đó với các dân tộc khác [37]. Những khái niệm này được chúng tôi áp
dụng khi nghiên cứu về sự biến đổi của nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma.
Việc thống nhất cách hiểu về các khái niệm trên là cơ sở giúp khai mở
những vấn đề nội tại trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển. Trong đó,
mỗi khái niệm sẽ được ứng dụng trong từng trường hợp cụ thể nhằm định
hình những vấn đề nghiên cứu một cách khoa học và khách quan.
1.2.2. Cơ sở lý luận
Đối với người Dao Tuyển dân ca nghi lễ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
bởi ở đó phản ánh đầy đủ về thế giới tâm linh và đời sống của con người. Khi
những lời ca nghi lễ cất lên cũng là lúc tâm tư, tình cảm của họ hướng về thế
giới siêu nhiên, hướng về thế giới tổ tiên để khẩn nguyện, cầu xin sự che chở
của thần linh ban cho họ cuộc sống an lành, hạnh phúc nơi trần gian. Vì vậy,
khi tìm hiểu dân ca nghi lễ không thể tách rời chúng ra khỏi các nghi lễ và bối
cảnh diễn xướng của nó. Trên quan điểm ấy, luận án coi dân ca nghi lễ như
một sự kiện xã hội tổng thể và đặt nó trong bối cảnh văn hóa tộc người. Để
khai mở được những lớp lang ẩn chứa sâu trong dân ca nghi lễ, chúng tôi sử

21


dụng lý thuyết bối cảnh diễn xướng folklore làm cơ sở nghiên cứu dân ca nghi
lễ của người Dao Tuyển.
Dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng folklore: Như chúng tôi đã


người Dao Tuyển, nó được “dệt” nên bởi ca từ và bối cảnh của một cuộc diễn
xướng. Mà bối cảnh diễn xướng ấy nó bao gồm: người nghe, người thực hành
nghi lễ, chủ thể diễn xướng, những nền tảng kiến thức xã hội và văn hóa của
người nghe lẫn người diễn xướng đan xen, hòa quyện với nhau tạo nên sự hấp
dẫn riêng cho dân ca nghi lễ. Trong một nghĩa rộng hơn, thì tất cả những gì đi
cùng với văn bản, trong đó có “diễn xướng” được coi là “bối cảnh”. Thuật
ngữ “diễn xướng” (performance) được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa
học xã hội bởi tính phổ biến và cách tiếp cận khoa học của thuật ngữ này [38].
Thuật ngữ này được “dùng để chuyển tải ý nghĩa kép của hành động mang
tính nghệ thuật – một việc làm có tính folklore, và một sự kiện có tính nghệ
thuật, thính giả và bối cảnh. Cả hai cái đó đều là cơ bản đối với việc phát triển
cách tiếp cận diễn xướng” [118, tr.744].
Nghiên cứu các văn bản folklore từ nghệ thuật diễn xướng được áp
dụng rộng rãi từ những năm 70 của thế kỷ XX với nhiều công trình nghiên
cứu về folklore có giá trị như: Tiến tới những viễn cảnh mới về ngành folklore
(Toward new perspectives in Folklore); Khám phá về dân tộc học lời nói
(Explorations in the Ethnography of Speaking); Folklore: diễn xướng và giao
tiếp (Folklore: performance and communication) [39, tr.92]. Qua những công
trình nghiên cứu đó chúng ta có thể thấy, ban đầu các nhà nghiên cứu folklore
mới chỉ tiếp cận văn bản văn học dân gian theo kiểu dân tộc học ngôn ngữ
(ethnolinguistic model), sau đó họ tiếp cận văn bản theo xu hướng văn học,
trường phái ngôn ngữ học Praha … nhưng chỉ đến khi các văn bản văn học
dân gian được tiếp cận theo lý thuyết bối cảnh diễn xướng thì nó mới mang
đến cho giới nghiên cứu folklore một cái nhìn mới mẻ, toàn diện và sống
động hơn về các nội dung phản ánh trong văn bản văn học dân gian.
Nhà nghiên cứu Richard Bauman trong công trình nghiên cứu Nghệ
thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng đã nhấn mạnh: “Về
cơ bản, sự diễn xướng với tư cách một phương thức thông tin bằng miệng bao
gồm cả giả thiết về trách nhiệm trước thính giả về một sự thể hiện năng lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status