Dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người dao tuyển ở việt nam (tt) - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÀN THỊ QUỲNH GIAO

DÂN CA NGHI LỄ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62 22 01 25

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI – năm 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế

Phản biện 1: ..................................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................................

Phản biện 2: ..................................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................................

Phản biện 3: .................................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại
.....................................................................................................................................................................................................

trạng vốn có.
Người Dao Tuyển ở Việt Nam cư trú trên những địa bàn có điều kiện
sinh tồn khác nhau. Vì thế, ở mỗi địa phương người Dao Tuyển lại có những
sắc thái văn hóa riêng, điều đó đã tạo nên tính đa dạng, phong phú trong nguồn
mạch văn hóa Dao nói chung. Việc sử dụng dân ca trong thực hành nghi lễ vừa
thể hiện tính thống nhất trong đời sống tinh thần tộc người, vừa biểu hiện nét
khác biệt của người Dao Tuyển so với các nhóm Dao khác. Luận án nghiên
cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam nhằm góp phần chỉ ra
những nét đặc thù và phổ quát của loại hình nghệ thuật này.
Bản thân nghiên cứu sinh là một người mang dòng máu và tâm thức văn
hóa của người Dao, sinh tồn trong môi trường văn hóa ấy nên có vốn hiểu biết
nhất định về đời sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc mình. Khi
tiến hành khảo sát, nghiên cứu về dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển, nghiên
cứu sinh có điều kiện tiếp cận thực tế, sưu tầm, tìm hiểu các nghi lễ trong đời
sống văn hóa của tộc người. Do đó, trong đề tài nghiên cứu của luận án, nghiên
cứu sinh hy vọng sẽ trình bày được những hiểu biết của mình về dân ca nghi lễ
của người Dao Tuyển từ góc nhìn khoa học của một người trong cuộc. Đồng
thời nghiên cứu sinh cũng mong muốn thông qua luận án góp một phần vào
việc giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Dao
Tuyển ở Việt Nam.
1


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các nội dung phản ánh, phương thức phản
ánh của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển trong đời sống văn hóa tộc người (đời
sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần) thông qua việc phân tích,
diễn giải các văn bản dân ca nghi lễ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

người Dao Tuyển (Song ngữ: Việt – Dao) xuất bản năm 2011; Đám cưới người
Dao Tuyển xuất bản năm 2011; Những bài ca giáo lý xuất bản năm 2012. Mặt
khác, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, điền dã sưu tầm, đối chiếu các bài dân ca
nghi lễ của người Dao Tuyển đã được xuất bản các bài dân ca nghi lễ trong
thực tiễn sinh hoạt, thực hành nghi lễ của họ từ quá khứ tới hiện tại. Việc khảo
sát, đối chiếu dân ca trong thực tiễn sinh hoạt thực hành nghi lễ của người Dao
Tuyển được chúng tôi tiến hành trên các địa bàn có sự sinh tồn của người Dao
2


Tuyển ở nước ta như Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang ... Trong đó tập trung
chủ yếu trên địa bàn tỉnh Lào Cai – địa phương có số lượng người Dao Tuyển
sống tập trung đông nhất ở các huyện Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát, Mường
Khương, Bắc Hà và thành phố Lào Cai – nơi văn hóa truyền thống của người
Dao Tuyển còn được lưu giữ khá nguyên vẹn. Tại địa bàn tỉnh Lào Cai, với
điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng núi cao, nhất là đối với các huyện vùng
sâu, vùng xa, biên giới là nơi cư trú lâu đời của người Dao Tuyển thì sự tác
động của các yếu tố văn hóa ngoại lai đến đời sống kinh tế, văn hóa của cộng
đồng Dao Tuyển chậm hơn các khu vực khác. Do vậy, các phong tục, tập quán,
tín ngưỡng nơi đây ít bị biến đổi so với các địa phương khác có người Dao
Tuyển cư trú.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra điền dã, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi
thực địa ra các địa phương như tỉnh Sơn La, Yên Bái… đó là những tỉnh có
người Dao Tuyển sinh sống với số lượng ít hơn và mật độ phân bố thưa thớt
hơn ở Lào Cai để có một cái nhìn toàn diện hơn về sự ảnh hưởng của dân ca
nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Ngoài phương pháp luận chung của nghiên cứu khoa học xã hội nhân
văn, thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định việc triển khai trên

Thứ hai: Từ các cuộc điều tra điền dã, chúng tôi có sự so sánh, đối chiếu
giữa các văn bản hóa của dân nghi lễ với các văn bản dân ca nghi lễ được thực
hành trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển hiện nay. Điều này, giúp
chúng ta hiểu sâu hơn về đặc điểm, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cũng như
quy luật sản sinh, diễn biến, lưu truyền của dân ca nghi lễ đặt trong bối cảnh
văn hoá tộc người.
Thứ ba: Bằng việc tiến hành khảo sát, giải mã dân ca trong đời sống văn
hóa của người Dao Tuyển, bước đầu chúng tôi hệ thống dân ca nghi lễ theo các
loại hình nghi lễ như sau: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong nghi lễ
đám cưới, dân ca trong nghi lễ tang ma. Khi tiến hành nghiên cứu từng tiểu loại
dân ca nghi lễ ấy, chúng tôi sẽ chỉ ra chức năng và ý nghĩa nội dung và giá trị
nghệ thuật của các tiểu loại dân ca nghi lễ ấy.
Thứ tư: Đề tài cũng góp phần thực hiện chủ trương chính sách bảo tồn,
phát huy các di sản văn hóa truyền thống của các tộc người Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn,
cũng sẽ là tài liệu giúp cho các nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa
người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung, có hướng tiếp cận mới với
thể loại dân ca này cũng như có cách đánh giá, nhìn nhận mới về các giá trị của
dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển nói riêng và các
dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc nói chung.
7. Cơ cấu của luận án:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận án gồm có 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ
sở lý luận và đối tượng nghiên cứu; Chương 2: Diễn trình diễn xướng dân ca
nghi lễ của người Dao Tuyển; Chương 3: Sự phản ánh thế giới tâm linh và đời
sống con người trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển; Chương 4: Các
yếu tố nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

việc sưu tầm và nghiên cứu về người Dao được tiến hành khá sớm (từ năm
1778), song đến nay nhiều công trình vẫn chỉ tồn tại dưới dạng tư liệu, chưa
được công bố trên các tạp chí chuyên ngành; Về số lượng, các ấn phẩm về
người Dao, được in ấn xuất bản từ năm 1963 cho đến năm 2012 bao gồm 20 bộ
sách với rất nhiều tác phẩm thuộc các thể loại như truyện cổ, thơ ca dân gian,
tục ngữ, câu đố... Trong đó, đáng chú ý là những bài dân ca của dân tộc Dao đã
được các tác giả nói trên sưu tầm và giới thiệu. Đây chính là nguồn tư liệu
phong phú phục vụ cho việc tham khảo và sử dụng trong quá trình khảo sát,
nghiên cứu của chúng tôi.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về người Dao Tuyển và dân ca nghi lễ Dao
Tuyển
Đến nay, những công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Dao Tuyển
hầu như vắng bóng ngoại trừ cuốn Nhà ở truyền thống của người Dao Tuyển ở
Lào Cai của tác giả Chảo Văn Lâm xuất bản năm 2015, đi sâu mô tả cấu trúc,
quy trình, chức năng và sinh hoạt văn hóa trong ngôi nhà của người Dao Tuyển
Lào Cai. Riêng về dân ca của người Dao Tuyển, cho đến nay, Trần Hữu Sơn là
tác giả có nhiều công trình nghiên cứu và sưu tầm: Đầu tiên là cuốn Lễ cưới
người Dao Tuyển (2001), cuốn thứ hai là cuốn Thơ ca dân gian người Dao
Tuyển (2005), cuốn sách này được tác giả tái bản, bổ sung thêm phần chữ Nôm
Dao năm 2011, xuất bản dưới tên Thơ ca dân gian người Dao Tuyển (Song
ngữ: Việt- Dao), cuốn thứ ba là Đám cưới người Dao Tuyển (2011), cuốn thứ
tư là Những bài ca giáo lý.
Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi cũng dành sự chú ý cho những
công trình chưa được xuất bản nghiên cứu về văn hóa và dân ca của người Dao
Tuyển. Cụ thể: Năm 1997, Sở văn hóa tỉnh Lào Cai đã sưu tầm được gần 40
bài hát hội đầu xuân của người Dao Tuyển, đây là những bài hát trao duyên dịp
đầu xuân của trai gái người Dao Tuyển nhưng đến nay tập bài hát này vẫn chỉ
5



sinh quan của tộc người. Khi những lời ca trong các nghi lễ cất lên cũng là lúc
tâm tư, tình cảm của họ hướng về thế giới siêu nhiên, hướng về thế giới tổ tiên
để khẩn nguyện, cầu xin sự che chở của thần linh để họ có cuộc sống an lành,
hạnh phúc nơi trần gian. Vì vậy, khi tìm hiểu dân ca nghi lễ không thể tách rời
chúng ra khỏi các nghi lễ và bối cảnh diễn xướng của nó. Trên quan điểm ấy,
luận án coi dân ca nghi lễ như một sự kiện xã hội tổng thể và đặt nó trong bối
cảnh văn hóa tộc người. Để khai mở được những lớp lang ẩn chứa sâu trong
dân ca nghi lễ, chúng tôi sử dụng lý thuyết bối cảnh diễn xướng folklore làm cơ
sở nghiên cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển.
1.3. Khái quát về người Dao Tuyển và dân ca nghi lễ người Dao Tuyển ở
Việt Nam
1.3.1. Khái quát về người Dao Tuyển
Dao Tuyển là tên gọi của một bộ phận người Dao thuộc nhóm Dao Làn
Tiẻn, đây là tên gọi mang tính địa phương của bộ phận người Dao này ở Lào
6


Cai. Ở Lai Châu người Dao Tuyển được gọi là Dao đầu bằng; ở Hà Giang
người Dao Tuyển được gọi là Dao áo dài; ở Tuyên Quang tên Dao Chàm được
dùng chỉ tới nhóm Dao Tuyển. Theo ý kiến thống nhất của các nhà dân tộc học
thì người Dao Tuyển có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc, di cư sang Việt
Nam qua nhiều con đường khác nhau trong một khoảng thời gian dài. Quá
trình thiên di của người Dao Tuyển vào Việt Nam bằng hai tuyến đường chính
là đường biển và đường bộ.
Theo thống kê của Trần Hữu Sơn người Dao Tuyển cư trú rải rác chủ yếu
ở bốn tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang và Lai Châu, với khoảng 45.000
người, thì ở địa bàn Tỉnh Lào Cai có tới 31.325 người, chiếm gần 70%. Như
vậy, xét theo mức độ tập trung dân cư thì người Dao Tuyển sinh sống chủ yếu
ở Lào Cai tại các huyện: Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát, Cam Đường, Bắc Hà
và Mường Khương. Dù sinh sống ở các vùng miền khác nhau nhưng người

nhưng nếu gọi mãi mà hồn với xác không nhập vào với nhau, cái chết sẽ xảy ra
7


với con người. Người Dao Tuyển quan niệm: “Sinh, tử, nhân hồn tầm lưỡng
cực/ Ngũ vận tuần hoàn với luân xe” (Có nghĩa là: “Sinh ra là người ở thế giới
cực dương/ Chết đi là hồn ở thế giới cực âm/ Con người như bánh xe quay
vòng qua năm vận”) nên họ có những nghi lễ (làm ma) cho người chết rất khác
biệt so với các dân tộc khác.
1.3.2. Khái quát về dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Trong đề tài nghiên cứu của luận án, chúng tôi tập trung đi sâu vào
nghiên cứu ba loại dân ca tiêu biểu trong nghi lễ vòng đời là dân ca nghi lễ cấp
sắc, dân ca nghi lễ đám cưới và dân ca nghi lễ tang ma. Bởi đây là ba nghi lễ
lớn trong vòng đời của một người Dao Tuyển, còn nghi lễ đặt tên mặc dù được
coi là nghi lễ đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của một con người nhưng nó chỉ là
một nghi lễ nhỏ, không có sự tham góp của cả cộng đồng, chủ thể diễn xướng
chỉ là cha đứa trẻ, hoặc ông nội. Nghi lễ này không mời thầy cúng và chỉ sử
dụng duy nhất một bài dân ca nghi lễ đó là bài La jủng kẻng (Bài hát đặt tên).
Dân ca của người Dao Tuyển cũng giống như dân ca của các nhóm Dao
khác nó được hình thành từ thơ và ca, bởi thơ và ca gắn liền với nhau. Các bài
dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển chiếm một vị trí đáng kể, có 83/ 90 bài
dân ca được sử dụng trong nghi lễ cấp sắc và tang ma, còn 07 bài dân ca đó là
các bài: Hiến hương, Hiến hoa, Hiến đèn, Hiến trà, Hiến cơm, Hát dâng trống,
Hát dâng thanh la được sử dụng chung cho phần hát dâng hiến của 2 nghi lễ.
Nghi lễ đám cưới ngoài 43 bài dân ca được sử dụng trong các nghi lễ chính thì
còn có tới 58 bài dân ca được ông mối hát đơn xin ma tổ tiên phù hộ cho việc
xin dâu thành công, hát xin nghỉ trạm, hát xin được vào làng… Bên cạnh đó
một số truyện thơ của dân tộc như: Trường ca Bàn Hộ, Truyện Bàn Vương, Inh
tòi dung (Hát Anh Đài), Ly hương ca, Cửu giang ca... cũng được người Dao
Tuyển sử dụng trong các nghi lễ vòng đời. Các bài ca ấy người Dao Tuyển gọi

2.1. Dân ca trong nghi lễ cấp sắc
Chúng tôi thiết lập bảng biểu theo diễn trình các nghi lễ sử dụng dân ca
trong bối cảnh buổi lễ cấp sắc của người Dao Tuyển như sau:
Bảng 1: Diễn trình nghi lễ cấp sắc của người Dao Tuyển
Bối cảnh diễn xướng
Bài ca
Sáng ngày thứ nhất: Mở chay đàn Thầy cúng chính hát bài Mời thầy Công
mời Công Tào, Thánh Sư
Tào, Thánh Sư.
Buổi trưa ngày thứ nhất: Lễ mời Thầy cúng chính và hai thầy cúng phụ
các thần Bàn Vương, Ngọc Hoàng hát bài Mời thần:…
về giúp các Thánh, Sư bảo vệ
người cấp sắc
Buổi chiều ngày thứ nhất: Dâng Các thầy hát bài Mời sư thầy.
lễ mời các thầy của các thầy cúng
về giúp sức
Tại cửa lầu nơi ngự của thần Đế Sau khi mời các sư thầy các thầy cúng
Mẫu
sẽ hát bài Mời Thần Đế mẫu.
Tại cửa nơi địa ngục, cửa Lạnh, Các thầy hát xin mở các cửa để người
cửa Huyền môn (đây là các cửa cấp sắc đi qua, các thầy hát bài Ngọc nữ
tượng trưng)
hát xin qua cửa.
Đêm thứ nhất: Trước bàn thờ các Hát bài Ngọc nữ lên đèn, lên hương,
thầy làm lễ khai quang cho người Ngọc nữ về đàn, Tạ ơn Pháp sư, Tạ ơn
cấp sắc
Ngọc Hoàng..
Lễ Đồng tử giáng sinh tại Mai Sơn Các thầy hát bài Ngọc nữ lên đèn.
Buổi trưa ngày thứ hai : Lễ cấp Thầy cúng chính hát bài Trao ấn tín.
ấn tín

Các thầy hát các bài ca dâng hiến: Hiến
hoa, Hiến cơm, Hiến rau, Hát dâng
bảng, Hát tiễn thần…
Dựa vào bảng mô tả diễn trình dân ca nghi lễ cấp sắc đã nêu ở trên chúng
tôi phân ra thành hai chặng đoạn sử dụng các bài dân ca trong nghi lễ cấp sắc,
đó là: Các bài dân ca trước khi thực hành nghi lễ cấp sắc và các bài dân ca
trong khi thực hành nghi lễ cấp sắc.
2.2. Dân ca trong nghi lễ đám cưới
Diễn trình nghi lễ cưới xin của người Dao Tuyển được tiến hành theo các
nghi thức cụ thể, chúng tôi lập bảng biểu các nghi thức có sử dụng các bài dân
ca như sau:
Bảng 2: Diễn trình nghi lễ cưới hỏi của người Dao Tuyển
Bối cảnh diễn xướng
Các bài dân ca
Lễ so tuổi
Không có bài dân ca mang tính chất cố
định nào được diễn xướng, chỉ có
những câu ca đối đáp tự do
Lễ dạm ngõ
Ông mối hát bài hát cố định: So duyên,
sau đó hai bên hát những bài hát giao
duyên tự do
Lễ ăn hỏi
Ông mối và ông cậu cô dâu hát đối đáp
về các lễ vật thách cưới như: Thách lợn,
rượu, gạo, gà… Các bài hát này thường
là những lời hát tự do có thể do hai bên
tự ứng tác hoặc cũng có thể là dựa vào
những lời hát cố định có sẵn để ứng tác.
Lễ cưới, gồm các nghi thức sau: Hát đối đáp 15 bài dân ca về các nội

trai
gái tự ứng tác hát để chào tạm biệt
nhau.
Nhìn vào bảng mô tả diễn trình nghi lễ nêu trên chúng ta có thể thấy bối
cảnh diễn xướng được gắn liền với các lời ca trong từng nghi lễ và trong từng
không gian thời gian.
2.3. Dân ca trong nghi lễ tang ma
Chúng tôi xin trình bày diễn trình các nghi lễ có sử dụng dân ca trong
nghi lễ tang ma trong bối cảnh diễn xướng qua bảng biểu về các nghi lễ ấy như
sau:
Bảng 3: Diễn trình nghi lễ tang ma của người Dao Tuyển
Bối cảnh diễn xướng
Bài ca
Nghi lễ làm ma tươi
được diễn xướng trong Thầy cúng hát bài: Nhập quan ca.
các bối cảnh sau: Lễ
nhập quan
Lễ khởi trống
Thầy cúng hát bài: Khởi trống.
Lễ báo ân
Thầy cúng hát bài: Báo ân.
Lễ hưởng thực
Thầy cúng hát bài: Mời cơm, mời rượu, mời trà.
Nghi thức đưa ma
Thầy cúng hát bài: Thập diện ca, ra đồng ca.
Lễ hạ huyệt
Thầy cúng hát bài: Thập biệt ca
Nghi lễ làm ma khô,
được diễn xướng trong Thầy cúng hát bài: Tiễn hồn
các bối cảnh sau: Lễ cải

dạng và thống nhất trong văn hóa tộc người Dao Tuyển.
Chương 3
SỰ PHẢN ÁNH THẾ GIỚI TÂM LINH VÀ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
TRONG DÂN CA
NGHI LỄ CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN
Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển chứa đựng những nét văn hóa
truyền thống của cộng đồng, ở đó phong tục tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo
được “phát lộ” trong tiến trình thực hành nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma.
Trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển còn phản ánh cả những tư tưởng,
tình cảm, thế giới quan, vũ trụ quan, những quy tắc ứng xử giữa các thành viên
trong gia đình, dòng tộc và trong cộng đồng, những yếu tố văn hóa tinh thần
vừa cụ thể vừa trừu tượng được lồng kết qua những lời ca nghi lễ của người
Dao Tuyển.
3.1. Dân ca nghi lễ phản ánh thế giới quan của người Dao Tuyển
Khái niệm thế giới quan chúng ta có thể hiểu như sau: “Thế giới quan bao
gồm những hiểu biết rộng lớn nhất về sự vận hành của thế giới, con người có
khuynh hướng xem xét những gì họ đã biết và dựa trên hiểu biết này mà tìm ra
những manh mối giúp họ hiểu được phần nào những điều họ còn băn khoăn,
ngỡ ngàng”. Qua dân ca nghi lễ chúng ta chỉ ra sự vận hành của thế giới ảnh
hưởng như thế nào đến những quan niện, tín ngưỡng, tâm lý… của người Dao
Tuyển.
12


Đối với người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng, Đạo giáo
được coi là một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tín ngưỡng của họ.
Đạo giáo cũng ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về vũ trụ của họ. Người Dao
Tuyển quan niệm vũ trụ có ba tầng, bốn thế giới được phân bố theo một trục
dọc: tầng cao nhất là Ngọc Hoàng, các vị thần thánh và tổ tiên, tầng thứ hai là
thế giới của con người đang sống, phía dưới đáy các con sông là tầng thứ ba

Không gian thiêng ấy không chỉ bó hẹp ở Mai Sơn mà nó còn trải dài ra
tận cửa biển, ở không gian đó người Dao Tuyển đã lưu giữ lại ký ức vượt biển
trong quá trình di cư của tộc người. Cũng từ không gian thiêng nơi cửa biển ấy,
chúng ta thấy thấp thoáng hiện ra thời gian lịch sử của tộc người Dao Tuyển.
Trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển, thời gian lịch sử được nhìn từ phía
hiện thực phản ánh, là sự đồng hiện của ba mảng lớn: lịch sử tộc người, quá
trình di cư và quá trình định cư tại vùng đất mới. Thời gian lịch sử thể hiện
trong dân ca nghi lễ là thời gian quá khứ xác định, thông qua những lời ca
13


người nghe nhận biết được những mốc lịch sử cụ thể của tộc người như: vào
triều đại nhà Tùy, Đường, Tống… người Dao nói chung trong đó có người Dao
Tuyển di chuyển từ “phương Bắc” sang phía Đông Tây; Rồi đến đời Minh,
Thanh… họ bắt đầu di cư đến Giao Chỉ... Như vậy, thời gian lịch sử trong dân
ca nghi lễ của người Dao Tuyển chính là thời gian diễn xướng vì thời gian lịch
sử và thời gian diễn xướng hòa vào làm một và không thể phân biệt rạch ròi.
Dân ca nghi lễ được chủ thể diễn xướng và người tham dự nghi lễ hát lên như
chính mình là người đang sống trong giai đoạn lịch sử đó.
3.2. Dân ca nghi lễ phản ánh vũ trụ quan của người Dao Tuyển
Vũ trụ quan trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển bao gồm mọi thứ
đang tồn tại, đã tồn tại và sẽ tồn tại. Ở vũ trụ ấy con người mơ ước “thông
quan” với thế giới thần linh qua những làn điệu dân ca nghi lễ của dân tộc
mình. Trong ba loại dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển mà luận án tập trung
nghiên cứu thì dân ca trong nghi lễ tang ma bộc lộ rõ nét nhất quan niện về vũ
trụ quan dân gian của tộc người. Chính vì vậy, mà trong phần nghiên cứu về vũ
trụ quan trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển chúng tôi tập trung nghiên
cứu trong loại dân ca nghi lễ tang ma để thấy được rõ, quan niệm về vũ trụ của
tộc người Dao Tuyển.
Dân ca trong nghi lễ tang ma có các bài: 1/ Bài Nhập quan ca là bài hát để

ngục Minh ty để linh hồn không phải “ưu sầu” trên quãng đường tối tăm, mờ
mịt đó; ở cửa “Ngũ quan điện vương đế” linh hồn xin ra khỏi ngục tối để được
lên trời, tránh gặp các loài vật, thú dỡ ngăn cản; ở cửa “Diên la đế” linh hồn xin
Diêm la đế cho được tái sinh ở đời sau; ở cửa “Minh Vương Đô Thị đế” linh
hồn mong được con cháu báo hiếu để có cuộc sống “Phúc đầy cửu dương”,
“Vui vẻ ngao du đất không đêm”; ở cửa “Minh Ty Bình Đẳng đế” linh hồn
mong muốn nhanh được “Thác sinh đời sau được phong lưu”; ở cửa “Thái Sơn
Điện Vương đế” linh hồn mong khi được “hoàn dương” ở “Kiếp sau linh hồn
được trường thọ”; ở cửa “Kiều Hà điện ngọc đế” linh hồn mong muốn được
các ma dẫn qua “Cầu vàng cầu bạc” để không bị “sẩy chân rơi Nại Hà”; ở cửa
thứ 10 cũng là cửa của “ đế vương” qua được cửa này linh hồn sẽ được thác ở
kiếp sau và lên thẳng “thiên đường nơi tiên cảnh”.
Trong quan niệm của người Dao Tuyển, người chết là “mắt nhắm rồi”,
“Dung nhan khép lại”, tắt thở khi đó con cháu mời thầy cúng về để giao tiếp với
hồn, bởi hồn là cái mà người thường không nhìn, sờ, nắm, bắt được, hồn không
chết như thân xác nó chỉ chuyển từ không gian sống cùng con cháu vào không gian
“… chiếc quan tài nhỏ xinh”, đến không gian mộ. Người Dao Tuyển cho rằng con
người có “ba hồn, chín vía” nên hồn thứ nhất sẽ nằm trong không gian mộ, hồn
thứ hai sẽ được con cháu đón từ không gian mộ về không gian linh vị “Điện biệt
tam hồn ở linh vị”, hồn thứ hai sẽ ở nhà cùng con cháu, hồn thứ ba sẽ “luân
chuyển linh hồn” và “Lên đến Dương Châu, án gia tiên”. Theo như thầy cúng Lý
Vần Sẩu, Bản Lầu, Mường Khương, Lào Cai thì hồn gắn chặt với xác ở không
gian mộ gọi là “hòn thỉn thuung” (hồn xác), còn hồn ở không gian nhà và không tổ
tiên Dương Châu được gọi là “hòn” (linh hồn), phần “hòn” sẽ có một hành trình
đầy gian nan vất vả từ linh vị xuống âm phủ.
3.2. Dân ca nghi lễ phản ánh triết lý nhân sinh quan của người Dao Tuyển
Triết lý nhân sinh quan là quan niệm về cuộc sống của con người. Nhân
sinh quan phản ánh sự tồn tại trong xã hội của con người. Nội dung biểu hiện
của nó chính là những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người
trong mỗi chế độ xã hội cụ thể.

khác gì những vị khách đặc biệt của gia đình, của làng bản được mời về để
chứng kiến các nghi lễ, cũng như chứng kiến niềm vui, sự bình an cho gia đình,
cho bản làng. Họ mong muốn các khách mời đặc biệt “Thánh thần” cùng các
“tân khách” sẽ vui vẻ, no say khi về tham dự các nghi lễ lớn trong vòng đời của
họ.
Tiểu kết chương 3
Thế giới tâm linh và đời sống con người trong dân ca nghi lễ của người
Dao Tuyển thể hiện ở quan niệm của tộc người về thế giới quan, vũ trụ quan,
bởi trong ý niệm của họ thế giới của thần linh, thế giới của người sống, thế giới
của người chết, nằm trên một trục dọc thẳng đứng. Song ở mỗi thế giới cuộc
sống của thần linh, con người, hồn xác là hoàn toàn khác biệt.
Phân tích sự phản ánh thế giới và đời sống con người trong dân ca nghi
lễ của người Dao Tuyển, chúng ta thấy rõ hơn sự nhìn nhận của họ về thế giới
vũ trụ, thế giới tâm linh và những quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo của tộc
người, cách ứng xử với đời sống, kinh tế, chính trị trong sinh hoạt hàng ngày,
cách ứng xử với thế giới thần linh, ứng xử với linh hồn người chết. Qua dân ca
nghi lễ còn thấy được ý nghĩa giáo dục đạo đức, giáo dục lối sống và khát vọng
hạnh phúc của tộc người… Tất cả những điều đó đã được dân ca nghi lễ đề cập
đến và được đặt trong mối liên hệ mật thiết giữa thế giới của người sống, thế
giới phàm tục và thế giới linh thiêng, thế giới của ma lành. Những thế giới này
đã tồn tại bất biến trong dân ca nghi lễ bao đời nay của người Dao Tuyển.
Chương 4
CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT TRONG DÂN CA NGHI LỄ NGƯỜI
DAO TUYỂN
Đi vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người Dao
Tuyển, chúng tôi chọn lọc nghiên cứu một số phương diện nghệ thuật như:
nghệ thuật diễn xướng, dấu ấn văn hóa tộc người trong ngôn ngữ, thể thơ trong
dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển… với mục đích làm hơn giá trị nghệ thuật
16


Mỗi nghi lễ đều có những bài dân ca tương ứng, chính vì vậy thầy cúng
chính phải là người am hiểu các nghi thức trong lễ cấp sắc, tang ma biết cúng,
thuộc các bài dân ca trong nghi lễ. Khi thực hiện các nghi lễ này chủ thể diễn
xướng phải sử dụng các bài dân ca sao cho phù hợp với bối cảnh diễn xướng,
các bài dân ca trong nghi lễ cấp sắc, tang ma là những bài hát theo môtíp có
sẵn. Trong nghi lễ cấp sắc, thầy cúng chính là chủ thể diễn xướng trong các
nghi lễ. Mở đầu nghi lễ cấp sắc thầy cúng chính hát bài mời Công tào, tiếp đến
chủ thể diễn xướng thường hát các bài Hiến hương, Hiến hoa, Hiến cơm, Dâng
muối… để làm lễ cúng Bà Mụ, nhờ có Bà Mụ che chở, nâng đỡ mà đứa trẻ
được sinh ra khỏe mạnh, không ốm đau, bệnh tật. Trong nghi lễ tang ma người
diễn xướng cũng là thầy cúng chính, hai thầy cúng phụ chỉ đóng vai trò hát,
múa phụ trợ cho thầy cúng chính. Người Dao Tuyển quan niệm con người có
hai phần hồn và xác, khi hồn không về với xác thì cái chết sẽ xảy ra. Khi trong
gia đình có người chết, họ phải mời được một thầy cúng giỏi, thuộc các bài hát
trong nghi lễ tang ma đến thực hiện các nghi lễ làm ma tươi, ma khô đồng thời
17


hát phụ họa với tiếng khóc than của con cháu để đưa người chết về cõi Tiên.
Như vậy, trong từng bối cảnh diễn xướng chủ thể diễn xướng sẽ có những bài
dân ca nghi lễ phù hợp, từ đó chúng ta thấy được vai trò then chốt chủ thể diễn
xướng trong từng bối cảnh cụ thể.
Đám cưới của người Dao Tuyển được tiến hành qua nhiều bước với
những nghi lễ bắt buộc như: Lễ so tuổi, lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới. Để thực
hiện các nghi lễ này nhà trai phải nhờ một ông mối đồng thời là chủ thể diễn
xướng chính để thực hành các nghi lễ cưới xin cũng như hát đối đáp với nhà
gái trong các nghi lễ ấy. Vì thế, ông mối phải là người hiểu biết tập quán cưới
xin, thuộc nhiều bài hát, có khả năng ứng tác, khéo léo trong cư xử. Để được
mời làm ông mối, thì người đàn ông đó phải đạt được những tiêu chuẩn như
sau: nhất thiết phải có vợ đầy đủ, đông con, có đủ con trai, con gái, gia đình

Như chúng ta đã biết giữa ngôn ngữ với nền văn hoá của một tộc người
chắc chắn nó phải có một mối quan hệ qua lại nhất định. Bởi ngôn ngữ trực
18


tiếp “phản ánh cách tri giác và tư duy thế giới của cộng đồng dân tộc, mà văn
hoá dân tộc không thể không liên quan đến cách tri giác và tư duy ấy”. Qua đó
chúng ta thấy, giữa văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết và qua lại
với nhau, điều đó là tiền đề cho chúng tôi khám phá ra những nét đặc sắc của
văn hoá tộc người Dao Tuyển thông qua ngôn ngữ của họ. Có thể thấy, ngôn
ngữ và văn hoá của tộc người Dao Tuyển luôn có một mối quan hệ nhất định,
đó chính là “cách nghĩ”, “ cách tư duy” của riêng người Dao Tuyển mà ở các
dân tộc khác không có. Trong bài nghiên cứu “Thử đề xuất phương pháp xác
định mức độ gần gũi về tư duy ngôn ngữ giữa các dân tộc” đăng trên tạp chí
ngôn ngữ, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Tồn đã cho rằng trong số các kiểu tư
duy khác nhau cùng tồn tại ở con người hiện đại, mỗi dân tộc sẽ có thiên hướng
nổi trội hay “ưa thích” một kiểu nào đó. Theo chúng tôi, chính điều này là sự
biểu hiện đặc trưng mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ở một tộc người.
Để làm rõ những nét đặc trưng văn hoá của người Dao Tuyển thông qua
ngôn ngữ, chúng tôi tập trung tìm hiểu hai vấn đề sau: ngôn ngữ của người Dao
Tuyển phản ánh rõ nét nền văn minh nông nghiệp lúa nước - cách thức chia cắt
thế giới khách quan; ngôn ngữ người Dao Tuyển thể hiện văn hóa – tâm lý tộc
người qua cách tri nhận về không gian.
Ngôn ngữ được sử dụng trong dân ca nghi lễ người Dao Tuyển là một
trong những phương tiện chính để lưu truyền văn hóa tộc người. Thông qua
phương thức truyền khẩu các bài dân ca nghi lễ, vai trò của ngôn ngữ trong
việc trong việc duy trì, nuôi dưỡng, trao truyền văn hóa của tộc người được
thực hiện một cách có hiệu quả. Muốn được cấp sắc người thụ lễ phải học
thuộc được các bài kinh giáo lý, muốn rước được dâu các ông mối phải hát
được các bài hát đối đáp trong các nghi lễ, muốn đưa được hồn người chết về

luật, có những bài dân ca chỉ sử dụng duy nhất một vần (gọi là độc vận), nhưng
cũng có khi dùng nhiều vần trong một bài (gọi là liên vận). Vần bằng và vần
trắc có khi được dùng kết hợp cả hai nhưng cũng có lúc nó được dùng riêng
từng loại một. Các bài dân ca nghi lễ trong chu kỳ vòng đời của người Dao Tuyển,
vần được sử dụng nhiều nhất là vần chân (chữ cuối của hai câu chẵn kế tiếp vần
với nhau). Song bên cạnh đó chúng ta cũng bắt gặp lối gieo vần lưng trong dân
ca nghi lễ của người Dao Tuyển. Cách gieo vần này thường là tiếng cuối của
câu thứ nhất gieo vần với tiếng thứ tư của câu kế tiếp. Có thể thấy các bài dân
ca nghi lễ theo thể thơ cổ phong bẩy chữ là những bài tuân thủ đúng niêm luật
chặt chẽ trong từng câu. Các từ thứ nhất, thứ ba, thứ năm có thể viết tự do
không tuân thủ theo luật bằng, trắc (nhất, tam, ngũ bất luận), nhưng các từ thứ
hai, thứ tư, thứ sáu phải được viết theo đúng luật bằng, trắc (có nghĩa tiếng thứ
hai là trắc thì tiếng thứ tư là bằng, tiếng thứ sáu lại là trắc và ngược lại). Vì thế,
đây là thể thơ truyền thống của người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói
chung, chúng được sử dụng rỗng rãi trong các thể loại dân ca.
Tiểu kết chương 4
Về mặt nghệ thuật, dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển là loại hình nghệ
thuật mang tính nguyên hợp, đó là sự kết hợp nhiều hành động, hành vi khác
nhau trong thời gian và không gian diễn xướng nhất định. Khác với tác phẩm
văn học viết dùng kể đọc, dân ca nghi lễ là những bài ca dùng để hát, để cúng
trong môi trường thực hành nghi lễ. Để biểu hiện những bài ca này người thầy
cúng đồng thời vừa hát vừa kết hợp với âm nhạc, vũ đạo, đó là loại âm nhạc và
vũ đạo thiêng.
Sự phản ánh văn hóa tộc người trong các bài dân ca nghi lễ của người
Dao Tuyển được biểu hiện rất cụ thể. Qua hệ thống ngôn từ dân ca nghi lễ
những đặc trưng văn hóa tộc người được bộc lộ một cách sinh động, đó là trạng
thái tâm lí, tình cảm con người, hình ảnh của đời sống sinh hoạt… Bên cạnh
đó, các thể thơ trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển cũng là phương tiện
nghệ thuật truyền thống truyền tải mọi mơ ước, khát vọng của cộng đồng.


với nhiều tiểu loại tương ứng với nhiều hình thức sinh hoạt khác nhau như: dân
ca trong lễ đặt tên, dân ca trong lễ cấp sắc, dân ca trong nghi lễ đám cưới,dân
ca trong nghi lễ tang ma… Mỗi tiểu loại lại có chức năng riêng, gắn bó đời
sống hiện thực, thỏa mãn nhu cầu tâm linh chính đáng được đặt ra trong cuộc
sống của cộng đồng cư dân.
3. Người Dao Tuyển là tộc người sống tương đối biệt lập với các tộc
người khác nên dân ca nghi lễ ít có sự pha trộn, cho đến nay các bài dân ca ấy
21


vẫn giữ được tương đối toàn vẹn về ca từ, giai điệu. Các bài hát dân ca nghi lễ
của người Dao Tuyển giúp chúng ta hiểu được cuộc sống thực cũng như thế
giới tâm linh của họ. Duy trì hát dân ca trong các nghi lễ tạo nên một sức sống
mới về giữ gìn văn hóa truyền thống của tộc người Dao Tuyển, bởi chính các
bài dân ca nghi lễ giúp họ gìn giữ được một cách trọn vẹn các nghi lễ mà cha
ông truyền lại. Đặc biệt, việc nghiên cứu các bài dân ca nghi lễ giúp chúng ta
có cái nhìn toàn diện hơn về những giá trị độc đáo được bảo lưu trong văn hóa
cổ truyền của tộc người. Những bài dân ca nghi lễ chính là mạch nguồn dẫn
chúng ta bước chân vào thế giới tâm linh vô cùng phức tạp và cũng đầy bí ẩn
của tộc người Dao Tuyển. Qua dân ca nghi lễ, những trạng thái tâm lý của con
người cũng được bộc lộ rõ nét, chức năng thực hành của nó trong nghi lễ thông
qua ngôn ngữ riêng (ca từ trong các bài dân ca nghi lễ) của tộc người.
4. Qua việc tìm hiểu các bài dân ca nghi lễ trong lễ cấp sắc, đám cưới,
tang ma giúp chúng ta hiểu thêm về chủ thể, không gian, thời gian... được thể
hiện qua nghệ thuật diễn xướng dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển. Trong
các bài dân ca nghi lễ ấy, các nghệ sĩ dân gian (thầy cúng) đã vận dụng thành
công thể thơ cổ phong truyền thống của người Dao để tạo nên những câu ca có
vần, nhịp, hài hòa về thanh điệu. Đặc biệt là sự kết hợp thành công giữa âm
điệu bài hát với các nhạc cụ truyền thống của dân tộc như kèn pí lè, chiêng
nhỏ, trống… Trong quá trình sáng tác người nghệ sĩ không chỉ chú ý tới ngôn

nghi lễ cấp sắc và tang ma, thầy cúng chính có nhiệm vụ thông ngôn giữa thế
giới người sống với thế giới thần linh để dẫn dắt người được cấp sắc, linh hồn
người chết đến được Mai Sơn, trở thành đệ tử của Đạo giáo.
7. Tinh thần thực tiễn và tính thế tục hóa trong dân ca nghi lễ của người
Dao Tuyển cho thấy sự vận động mạnh mẽ, đa chiều, vừa phức tạp, vừa thú vị
giữa các giá trị truyền thống và hiện đại. Tuy nhiên, qui luật tất yếu của đời
sống văn hóa và quyền lực tinh thần của dân tộc luôn thôi thúc sự tồn tại của
những nghi lễ tín ngưỡng để đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, đời sống văn
hóa của cộng đồng. Được soi sáng bởi lý thuyết nghiên cứu văn hóa và những
kiến giải xoay quanh các nghi thức trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển,
chúng tôi qua đề tài luận án Dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người
Dao Tuyển ở Việt Nam muốn khẳng định một ý thức giữ gìn và sự trường tồn
của các nghi thức trong những bài dân ca nghi lễ, trong đó trầm tích nhiều giá
trị văn hóa và văn học dân gian đặc sắc.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status