Mục Lục
1 .Đặt vấn đề .....................................................................................2
2.Nội dung..........................................................................................3
2.1 Lễ Hội...........................................................................................3
2.1.1Khái niệm....................................................................................3
2.1.2 Đặc trưng của lễ hội....................................................................5
2.2 Lễ hội chùa Hương ....................................................................10
2.2.1 Giới thiệu lễ hội chùa Hương ...................................................10
2.2.2 Ảnh hưởng của lễ hội đến đời sống của người dân...................14
3. Kết luận.........................................................................................23
Tài liệu tham khảo............................................................................24
1
1 .Đặt vấn đề
Hương Sơn là vùng quê yên bình và hiền hòa thuộc huyện Mĩ Đức, Thành
phố Hà Nội. địa danh quen thuộc với người dân Việt Nam và nước ngoài,
Hương Sơn là vùng di tích lịch sử - văn hóa – thắng cảnh nổi tiếng lâu đời,
được tôn danh là: “Nam thiên đệ nhất động” một di tích lịch sử quốc gia với
Hương Tích, Thiên Chù… Hương Sơn có lịch sử phát triển lâu đời và giàu
truyền thống văn hóa và cách mạng. Nơi đây chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử
quốc gia dân tộc, là cái nôi của nền Việt cổ với di chỉ văn hóa Hòa Bình. Các
giá trị của vùng đất truyền thống vùng đất Hương Sơn rạng nối tiếp và bồi
đắp trong thời kì đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để có
vùng quê trù phú, yên bình hôm nay là quá trình đấu tranh với thiên tai, địch
họa kiên cường bền bỉ của thế hệ nhân dân Hương Sơn. Trong dòng chảy lịch
sử ấy đã bồi tụ, hun đúc bản sắc văn hóa bản địa với giá trị truyền thống quý
báu.
Lễ hội là đối tượng quan trọng của nền văn hóa dân tộc, có ý nghĩa vô
chính đó đã tạo nên một nét văn hóa. “Lễ hội chùa Hương” còn khẳng định
không chỉ là lễ hội văn hóa lớn mà là một nơi tham quan về đất nước, con
người, nơi địa linh thắng cảnh sơn thủy hữu tình, từ những lý do đó, mà em
chọn đề tài “ Những đặc trưng của Lễ hội chùa Hương ở xã Hương Sơn,
huyện Mĩ , Đức, thành phố Hà Nội ”, làm đề tài tiểu luận của mình.
3
2.Nội
dung.
2.1 Lễ Hội.
2.1.1Khái niệm
Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt
Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội. Những năm
gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của
nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã
được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt
Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp trong phục hồi và phát
huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại, thì cũng không ít các
vấn đề nảy sinh khiến xã hội cần phải nhìn nhận lại và tìm cách khắc phục để
những mặt tinh hoa của lễ hội cổ truyền được đẩy mạnh và phát huy, khắc
phục dần các hạn chế, tiêu cực. Và bao giờ cũng thế, mọi hành động của con
người đều bắt đầu từ nhận thức, chỉ khi chúng ta có nhận thức đúng về lễ hội
cổ truyền thì việc phục hồi và phát huy nó trong đời sống xã hội đương đại
mới mang lại hiệu quả mong muốn.
Lễ hội là một trong những “hoạt động văn hoá cao”, “hoạt động văn hoá nổi
trội” trong đời sống con người. Hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng
là cộng đồng quốc gia dân tộc. Nói cách khác không có lễ hội nào lại không
thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính
là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội.Ba
đặc trưng trên nó quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức,
5
thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với
các loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival...
Lễ hội cũng như bất cứ một hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đều chịu sự
tác động bối cảnh kinh tế - xã hội đương thời và nó cũng phải tự thích ứng
biến đổi theo. Tuy nhiên, với loại hình lễ hội truyền thống thì ba đặc trưng
nêu trên là thuộc về bản chất, là yếu tố bất biến, là hằng số, chỉ có những biểu
hiện của ba đặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng
bối cảnh xã hội. Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với
việc phục hồi, bảo tồn và phát huy lễ hội trong xã hội hiện nay. Việc phục
dựng, làm mất đi các đặc trưng trên của lễ hội cổ truyền thực chất là làm
biến dạng và phá hoại các lễ hội đó.
Giá trị của lễ hội cổ truyền
Khi nước ta cũng như ở nhiều nước khác đã bước vào công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nhưng lễ hội cổ truyền vẫn tồn tại thậm chí còn bùng phát mạnh mẽ.
Phải chăng lễ hội cổ truyền vẫn thu hút và lôi cuốn con người xã hội hiện đại?
Nói cách khác, lễ hội cổ truyền vẫn đáp ứng nhu cầu của con người không chỉ
trong xã hội cổ truyền mà cả xã hội hiện đại. Có được điều đó là do lễ hội cổ
truyền hội tụ các giá trị sau:
Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng:
Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể
là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng
đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền
Hùng - quôc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ... chính lễ
sông, nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không
7
trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng... Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành
nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh
vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người
đào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc... ). Song, những người đó
bao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí
của người dân.
Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ có
thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa
bệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc... mà còn có thể giúp họ vượt qua những
khó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống.Chính tính "Thiêng" ấy đã
trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn,
cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến.
Tính cộng đồng
Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự
nguyện của một cộng đồng. Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn.
Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả
nước.
Tính địa phương
Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định. Bởi thế lễ
hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó. Tính địa phương của lễ hội chính
là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp
ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung
lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa. Phong cách đó thể hiện ở lời văn
tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng...
Tính cung đình
nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong Lễ hội, chính nhân vật này tạo ra
cảm hứng xuyên suốt cuộc Lễ hội, là động lực của Lễ hội. Đó là các Thần linh,
đối tượng thờ cúng của các Lễ hội.
Nghệ thuật tạo hình và trang trí
Nghệ thuật tạo hình và trang trí tồn tại trong Lễ hội như một yếu tố tất yếu.
Cờ hội với năm sắc ngũ hành - năm màu tương ứng với năm yếu tố cơ bản
của vũ trụ theo quan niệm triết học cổ sơ, đặt cạnh nhau rất tương phản, gây
sự chú ý. Các loại kiệu sơn son thếp vàng lộng lẫy, chạm trổ tinh vi. Tượng gỗ
với cách tạo hình dân gian và truyền thống. Và, trong ngày hội làng, các đội
tế với cách ăn mặc đặc biệt, đã gây ấn tượng đối với người dự hội. Thực ra,
trang phục của đội tế, từ chủ tế đến các thành viên của đội, là sự mô phỏng
sắc phục của quan lại khi lâm triều. Đó cũng là yếu tố tâm lý hấp dẫn đối với
những người trong đội tế. Dường như trong trang phục đó, họ cảm thấy một
vinh dự đặc biệt dành cho họ và họ được đứng ở một vị trí khác hẳn ngày
thường. ở các Đền phủ, nghệ thuật trang trí đặc biệt được coi trọng.
Nghệ thuật âm nhạc, ca hát và múa
Trong lễ hội có diễn ca, trống chiêng và múa. Có thể suy đoán, các điệu múa
cờ, múa chiêng, múa trống.Âm nhạc, ca hát và múa không chỉ xuất hiện ở
phần hội. Ngay ở phần lễ, các loại nghệ thuật biểu diễn này đã có mặt như
một yếu tố không thể thiếu được, và ở một số lễ hội, các loại hình nghệ thuật
này đã chiếm vai trò chủ đạo. Chẳng hạn, ở huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, có
một loại sinh hoạt ca hát đã trở thành ngày hội làng. Đó là hội Dô, với loại
hát Dô độc đáo. Với các quy định chặt chẽ về lề lối sinh hoạt, hát Dô là một
hình thức hát thờ, hát nghi lễ được tổ chức khá quy củ với các làn điệu, bài
bản phong phú. Loại hình hát nghi lễ còn khá phổ biến trên khắp địa bàn
vùng đồng bằng Bắc Bộ.
10
cây gậy trúc, bước chân đi dẻo dai chẳng kém thanh niên. Tiếng “Nam mô”
râm ran suốt mọi nẻo đường.
Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện
Mỹ Đức, Hà Nội. Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo
dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Vào dịp lễ hàng triệu phật tử cùng du khách
khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất
Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời
nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn hòa quyện với thiên nhiên ở
một vùng rừng núi còn in dấu Phật.
Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng hai âm lịch. Ngày này
vốn là ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) của địa phương. Đến nay nghi lễ
"mở cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới - mở cửa chùa.
Lễ hội chùa Hưng trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội
một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không
khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn.
Xã Hương Sơn là xã sở tại trực tiếp quản lý các tuyến du lịch. Trước khi vào
chùa, du khách phải nghỉ lại ở các làng quanh bến Đục, bến Yến. Vì thế đi hội
chùa Hương du khách dễ có dịp hòa mình vào không khí của hội làng truyền
thống.
12
Ở trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và
thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi
mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn, hai vị tăng ni múa rất
dẻo và đẹp mắt qua những động tác ít thấy ở mọi nơi. Từ ngày mở hội cho
đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh
núi rừng còn in dấu phật thoại và văn hoá tín ngưỡng tâm linh của ngươi
việt xưa, hội Chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn – huyện Mỹ
Đức, thành phố Hà Nội.
Ngày mồng 6 tháng giêng là ngày khai hội, lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần
tháng 3 âm lịch. Ngày này vốn là ngày mở của rừng của người dân địa
phương, sau này trở thành ngay khai hội Chùa Hương (mở của rừng hàm
chứa ý nghĩa mở cửa chùa).
15
Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng, không chỉ cảnh đẹp mà còn là một
nét đẹp văn hoá tín ngưỡng đạo phật của người Việt Nam ta. Không giống
với bất cứ chùa nào, Chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa hang động,
gắn liền với núi rừng với một kiến trúc kết hợp hài hoà vừa thiên nhiên vừa
nhân tạo. Tạo hoá đã khéo bày đặt ở vùng này một sự hài hoà giữa núi non
song nước, và con người đã thổi hồn vào những đièu kỳ diệu đó, làm cho
chúng thêm sinh động và nhiều màu sắc, chính điều đó đã tạo nên một nét
văn hoá của dân tộc, đó là nét văn hoá tin ngững đạo phật. Có lẽ đã trải qua
nhiều thế kỷ, nó đã in đậm trong tâm thức của mỗi con người Việt Nam
chúng ta khi đến với Chùa Hương. Để rồi những tao nhân mặc khách, các nhà
thơ nhà văn và cả các vị Vua chúa thời xưa và ngày nay cũng phải thám phục
trước vẻ đẹp của nơi đất phật này. Vào năm canh Dần 1770 khi Chúa Tĩnh Đô
Vương Trịnh Sâm. vãn cảnh Chùa Hương đã đề khắc năm chữ lên cửa Động
Hương Tích ( Nam Thiên Đệ Nhất Động ) " Động đẹp nhất trời nam” và con
nhiều những bài thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây của các thi nhân như, Chu
Mạnh Trinh, Cao Ba Quát, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, bà chúa thơ nôm Hồ Xuân
Hương....
Giờ đây, Chùa Hương không chỉ còn là giá trị của riêng một vùng niềm mà là
16
đã đoàn kết được sức dân. Những người con quê hương đi xa có dịp về làng
công đức và mở mày mở mặt khoe với họ hàng làng xóm về sự “ăn nên làm
ra” của mình.
Với khách thập phương: đầu xuân đến lễ hội, cầu một năm mới vạn sự như ý
tốt đẹp, bình an đến với gia đình và bản thân là một sinh hoạt văn hóa truyền
thống lâu đời của người Việt Nam. Đến lễ hội, bên cạnh sự tín ngưỡng, du
khách còn cảm nhận không khí mùa xuân đang tràn ngập khắp nơi và để
thanh tịnh lòng mình. Người đến lễ hội hướng tâm cầu nguyện cho bản thân,
gia đình được bình an may mắn trong năm mới; người chưa có gia thất thì
cầu tình duyên; người khó khăn đường con cái thì cầu tự; người buôn bán
làm ăn thì cầu tài cầu lộc... Với học trò, chuẩn bị bước vào các đợt khoa cử
quan trọng trong suốt quá trình học tập rèn luyện bậc học phổ thông thì lễ
chùa dịp đầu xuân năm mới là để bày tỏ một lòng hướng nguyện quyết tâm
theo nghiệp đèn sách, học tập nên người, cầu được đỗ đạt, đăng khoa… trong
thời gian qua, Lễ hội Chùa Hương vẫn duy trì những nét đẹp truyền thống
vốn có cả về không gian và thời gian, vừa đảm bảo yếu tố tâm linh, tín
ngưỡng cũng như đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn, ở thuận tiện, tạo sức hút ngày
càng cao đối với du khách.
Lễ hội chùa Hương đã đáp ứng một cách hiện thực, hiệu quả đời sống văn
hóa tinh thần của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạt
động hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng, miền, dân tộc,
tri ân công đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, các bậc tiền bối đã
có công dựng nước và giữ nước, đấu tranh giải phóng dân tộc. Qua sinh hoạt
lễ hội nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hóa.
Điều đáng ghi nhận là du lịch lễ hội chùa Hương ngày càng có nhiều tiến bộ,
công tác tổ chức, điều hành lễ hội và các hoạt động của lễ hội cũng được thực
hiện bài bản hơn, quy củ hơn. Du khách đến với lễ hội rất đông và số lượng
18
“giọt dầu” là để thể hiện cái tâm, góp phần cùng cơ sở tôn giáo duy trì hoạt
động và để tôn tạo đền, chùa đẹp hơn chứ không phải để “dâng” lên Phật, lên
Thánh. Thế nhưng nhiều người hiện nay lại cho rằng càng rải nhiều tiền thì
càng được Phật, thánh thần chứng giám. Quan niệm đó hoàn toàn sai lầm.
Đáng buồn nhất là khi chứng kiến cảnh trên tay những pho tượng Phật bị
cài, cắm quá nhiều tiền lẻ mà người đi lễ hội nhét vào, còn người đi lễ thì “vô
tư” bước trên những đồng tiền rải bị vương vãi.
Nạn bán hàng tràn lan, lấn át di tích đang có nguy cơ trở thành trào lưu
khiến du khách đi dự lễ hội có cảm giác như đi chợ chứ không phải đi lễ hội.
Hàng hóa, trò chơi bày tràn lan vào cả các điểm của di tích, cảnh chen lấn
bán mua rất lộn xộn… Những vụ việc, tai nạn do chen lấn, xô đẩy, mất an toàn
vệ sinh thực phẩm...; rồi vấn nạn trộm cắp, cờ bạc, mê tín dị đoan, chèo kéo,
“chặt chém” khách... gây bức xúc cho du khách, mặc dù đã được cảnh báo,
chấn chỉnh, song vẫn tái diễn ở khá nhiều lễ hội. Nạn cờ bạc trá hình dưới
hình thức “vui chơi có thưởng” thì hầu như tất cả các lễ hội đều vẫn còn.
Bằng hình thức “vui chơi có thưởng”, đã có những người tổ chức cờ bạc trá
hình bằng các trò “cua cá”. Ngay cả các trò chơi dân gian như thi Chọi gà,
đấu vật cũng được cá cược hơn thua. Những dịch vụ ăn theo lễ hội vẫn còn:
nạn khấn thuê, đổi tiền lẻ, hoặc các dịch vụ gửi xe, ăn uống “chặt chém” kèm
theo cả một hệ thống “cò trọn gói” từ sắm lễ, khấn thuê, ăn ngủ, đi lại kiêm
luôn cả… hướng dẫn viên “tự phong” của một số đông vẫn còn diễn ra. Có
người còn lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh để trục lợi như tạo thêm các không
gian thực hành lễ (đặt thêm bàn, chỗ thờ cúng, tổ chức các dịch vụ, quảng bá
đồn thổi những giá trị vừa sai lệch về mặt vật chất, vừa sai lệch về mặt tinh
thần). Người ta tự xây thêm những nơi thờ tự để người dân đến đặt lễ nhiều,
thu tiền công đức nhiều, họ tự làm các dịch vụ.
20
Hiện nay, các hình thức tuyên truyền ở lễ hội còn đơn điệu, chưa hấp dẫn du
khách, chưa giúp họ hiểu về các giá trị lịch sử văn hóa của di tích, về thần
phả, thần tích công trạng của nhân vật thờ tự và ý nghĩa của lễ hội. Để bảo vệ
các giá trị lễ hội, những người có chuyên môn cần xuống cộng đồng trao đổi
để giúp họ nhận ra giá trị lễ hội của địa phương mình, kèm theo giá trị đó thì
ai là người thực hành, vai trò của họ như thế nào và để thực hành tốt phải
làm gì. Để rồi không làm sai lệch lễ hội, không tạo nên những hiện tượng
buôn thần, bán thánh, hoặc thái quá trong câu chuyện thực hành tiến lễ tâm
linh. Muốn làm được điều đó, cần tăng cường sử dụng các phương tiện
truyền thông, góp phần nâng cao nhận thức và để họ nhận ra giá trị của lễ
hội, từ đó thấy được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy
những giá trị vốn có của lễ hội.
Đầu xuân năm mới đến lễ hội, cầu một năm mới vạn sự như ý tốt đẹp, bình an
đến với gia đình và bản thân là một sinh hoạt văn hóa truyền thống lâu đời
của người Việt Nam. Để lễ hội nghiêm trang phần lễ và vui tươi phần hội,
đọng lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách, không chỉ cố gắng của các
nhà quản lý, ban tổ chức lễ hội và chính quyền địa phương mà còn cần ở ý
thức tự giác của tất cả chúng ta.
Đồng thời, huyện sẽ chủ động phối hợp với Sở Du lịch để tăng cường sự kết
nối với các cụm, vùng, điểm, tuyến du lịch trên địa bàn trong thành phố. Khai
thác tối đa cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng, nhất là trục tâm linh Bái
Ðính - Chùa Hương - Ba Vì - Hồ Tây. Ðồng thời, liên kết chặt chẽ giữa nhà
quản lý, nhà doanh nghiệp, chính quyền địa phương và người dân để xây
dựng các tua du lịch chuyên nghiệp phục vụ du khách trong và ngoài nước...
Kết nối quần thế thắng cảnh Chùa Hương với các điểm du lịch khác trên địa
bàn Thành phố, từng bước xây dựng Mỹ Đức thành điểm đến hấp dẫn trong
bản đồ du lịch của Thành phố.
22
3.Kết luận
Danh thắng chùa Hương từ xa xưa đã nức tiếng thiên hạ, nơi đây được
mệnh danh là “kỳ sơn tú thủy” của Việt Nam. Những ai đã đến thăm chùa
Hương cũng đều bị cuốn hút bởi vẻ đẹp diễm lệ của phong cảnh và đắm
chìm trong không gian thanh tịnh, thoát tục của bầu không khí Phật Giáo,
chùa Hương là một quần thể hài hòa bao gồm các danh lam thắng cảnh,
di tích lịch sử đền chùa, miếu mạo và các hang động tuyệt đẹp, đan xen ẩn
mình trong núi non, cỏ cây hoa lá. Đặc biệt nhắc đến chùa Hương là
người ta nhắc đến lễ hội truyền thống mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân
gian – đạo Phật với nền văn hoá nông nghiệp. Hàng năm cứ mỗi độ xuân
về, khi những nụ mai Hương Sơn nở rộ là lúc lễ hội chùa Hương bắt đầu.
Đây cũng là thời điểm các phật tử và du khách thập phương lại nô nức tụ
họp về trảy hội, đi lễ, dâng nén hương thành tâm lên Đức Phật, vãn cảnh
chùa và phong cảnh thiên nhiên. Hội chùa Hương được mở từ ngày mùng
sáu tháng giêng đến hết tháng ba âm lịch trên địa bàn xã Hương Sơn,
huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Đây là lễ hội cấp quốc gia và được coi là
một trong những lễ hội lớn nhất nước. Trong những năm qua, chùa
24
Hương đã được nhận sự quan tâm, hỗ trợ từ các ban ngành từ Trung
Ương đến địa phương, góp phần làm cho thắng cảnh Hương Sơn càng
thêm hấp dẫn. Theo thống kê, số lượng khách du lịch đến hành hương
tham gia lễ hội chùa Hương ngày một tăng, doanh thu từ du lịch đã đóng
góp một phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách
địa phương.Bởi vậy cần phải giữ gìn và bảo tồn giá trị văn hóa để phát
triển lễ hội chùa Hương .
Tài liệu tham khảo .
1. Đặc điểm của lễ hội ở Việt Nam - Nét đẹp văn hóa Việt Nam bloggernetdepvanhoaviet.blogspot.com/2015/07/ac-iem-cua-le-hoi-oviet-am.html