Tiểu luận Triết học Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần và văn hóa của người Việt - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
FG

Tiểu luận triết học

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
CỦA PHẬT GIÁO
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

Giáo viên hướng dẫn : Tiến só Bùi Văn Mưa
Học viên thực hiện : Lý Kim Cương
Lớp
: Cao học đêm 1 – Khóa 19

Năm 2010

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

LễỉI Mễ ẹAU

N

gay t bui bỡnh minh t ch ca dõn tc, o Pht ó

3 ofluận
126.triết học
Tiểu

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

MUÏC LUÏC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO ................................. 1
1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo ...................................... 1
2. Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo ............................................................. 2
2.1

Thế giới quan Phật giáo ............................................................................ 2

2.2

Nhận thức luận Phật giáo .......................................................................... 7

2.3

Nhân sinh quan Phật giáo ......................................................................... 9

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT ..........................................................................17
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam........................17
2. Một số đặc điểm của Phật giáo Việt Nam .....................................................18
2.1

Tính tổng hợp ..........................................................................................18

Tiểu

CHƯƠNG 1:

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO

1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo
Đạo Phật mang tên người sáng lập Buddha. Buddha vốn là một thái tử tên Tất
Đạt Đa (Siddhatha), con trai vua nước Trịnh Phạn phía Bắc Ấn Độ (nay là nước
Nepal). Vào năm 29 tuổi, Ngài nhận thức rằng tiện nghi vật chất và an ninh trong
thế gian không bảo đảm hạnh phúc; vì thế, Ngài đi tìm học các lời dạy, tôn giáo và
triết học thời đó, để tìm kiếm chìa khóa đưa đến hạnh phúc. Sau sáu năm học tập và
hành thiền, Ngài tìm ra con đường "Trung Đạo" và giác ngộ. Sau khi chứng đắc,
Ngài dùng quảng đời còn lại tại thế gian để truyền giảng các nguyên lý trong đạo
Phật – gọi là Pháp, hay Chân lý, cho đến khi Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi.

(Nguồn: />Footer Page
of 126. triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư4 tưởng

Trang 1


Header Page
5 ofluận
126.triết học
Tiểu


phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta. Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là
thường trụ, bất biến. Với ngũ quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên tĩnh,
là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng.
Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức:

Footer Page
of 126. triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư5 tưởng

Trang 2


Header Page
6 ofluận
126.triết học
Tiểu

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

a) Một là Sátna (Kshana) vô thường: là sự chuyển biến rất nhanh, trong
một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một
sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt.
b) Hai là Nhất kỳ vô thường: là sự chuyển biến trong từng giai đoạn. Sự
vô thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi,
thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai. Nhất kỳ vô
thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một
trạng thái mới. Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành – Trụ – Hoại –
Không.
Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành, hoại,
không. Các sinh vật đều tuân theo luật: Sinh, trụ, di, diệt.

7 ofluận
126.triết học
Tiểu

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

chuyển từng phút, từng giờ, từng Satna.
Một câu hỏi được đặt ra là cái ta ở giây phút nào là cái ta chân thực, cái ta bất
biến? Cái ta mà Phật nói trong thuyết vô ngã gồm có hai phần: Cái ta sinh lý tức
thân và cái ta tâm lý tức tâm.
Theo kinh Trung Quốc Ahàm, cái ta sinh lý chỉ là kết hợp của bốn yếu tố của
bốn đại là: địa, thủy, hỏa, phong. Những thứ đó không phải là ta, ta không phải là
những thứ đó, những thứ đó không thuộc về ta.
Còn cái ta tâm lý gồm: thụ, tưởng, hành, thức. Bốn ấm này cùng với sắc ấm
che lấp trí tuệ làm cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực cái ta Phật tính, cái
chân ngã của chúng ta. Cái chân lý gồm những nhận thức, cảm giác, suy tưởng, là
sự kết hợp của thất tỉnh: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, nỗ, dục.
Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnh cửu,
tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác. Sự tin có một linh hồn dẫn
đến sự cúng tế linh hồn là hành động của sự mê tín.
Đối với những người bị hà hiếp, bị bóc lột thì sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn
đến tư tưởng tiêu cực, chán đời phó mặc cho số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở
kiếp sau. Quan niệm có một linh hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh
ra những tình cảm, những tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ
dựa vào sức mạnh phi nghĩa để làm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi là
thường còn, bất biến.
Căn cứ trên hai thuyết vô thường và vô ngã Phật đã xây dựng cho đệ tử một
phương thức sống, một triết lý sống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống
của mình, hay nói một cách khác một cuộc sống một người vì mọi người, mọi
người vì một người.

¾ Nhân duyên tan rã thì sự vật là “không”.
Người thế gian không tu dưỡng tưởng lầm sự vật, vạn pháp là thực có, là vĩnh
viễn nên bám giữ vào các pháp vào sự vật (sinh mệnh, danh vọng, tiền tài...).
Nhưng thực ra các pháp là vô thường, là chuyển biến và khi tan rã thì người thế
gian thương tiếc, đau khổ.
Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hòa hợp,
sự vật là hư giả, là giả hợp không có tính tồn tại. Như vậy con người làm chủ đời
mình, làm chủ vận mệnh của mình.
Cuộc sống của con người có tươi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ là đều
do nhân duyên mà con người tạo ra. Với nhận thức như vậy, con người tìm được
một phương thức sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi
người, sống an lạc, tự tại, giải thoát.
2.1.4

Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả

Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả là một trong những thuyết cơ
bản của giáo lý Phật. Sự vật sinh ra là có nhân, nguyên nhân. Cái nguyên nhân một
mình cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả được.
Người ta nói rằng: Trồng đậu được đậu
Trồng dưa được dưa.
Nhưng Phật nhấn mạnh: Quả có thể khác nhân sinh ra nó. Quả có thể hơn
nhân nếu gặp đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu. Nhân gặp
đủ duyên thì sẽ biến thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại có thể biến thành
nhân rồi để sinh ra quả khác.

Footer Page
of 126. triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư8 tưởng


duyên đã có từ trước. Như vậy một hiện tượng có liên quan đến tất cả các hiện
tượng trong vũ trụ.
Tóm lại thế giới quan Phật giáo là thế giới quan nhân duyên. Tất cả sự vật có
danh có tướng, có thể nhận thức được, ý niệm được. Cảm giác được hay dùng ngôn
ngữ luận bàn, được đều được Phật gọi là pháp. Các pháp đều thuộc một giới gọi là
Pháp giới. Bản tính của pháp giới là các pháp duyên khởi ra nhau. Tính ấy là tính
của pháp giới nên gọi là pháp giới tính. Do pháp giới tính là bản tính của các pháp
nên gọi là chân, vì vậy pháp giới tính còn gọi là chân như tính.
Giác ngộ được chân như tính thì gọi là tự giác, nhưng thế thì chưa nhận thức
đầy đủ, sâu sắc về pháp giới tính vì vậy các nhà tu hành giác ngộ được bản lai tự
Footer Page
of 126. triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư9 tưởng

Trang 6


Header Page
10 luận
of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

tính còn phải vận dụng pháp giới tính vào nhiều trường hợp khác để thấy được cái
dụng to lớn của pháp giới tính.
2.2 Nhận thức luận Phật giáo
2.2.1



Trang 7


Header Page
11 luận
of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

các hiện tượng tâm lý.
Hiểu như vậy thì thấy rõ không phải tâm sinh vật hay vật sinh tâm. Những
hiện tượng sinh lý vật lý và những hiện tượng tâm lý ấy chỉ tương sinh tương thành.
2.2.2

Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức

Sự nhận thức phát triển theo hai con đường tư trào là hướng nội và hướng
ngoại. Phật giáo thường quan tâm đến tư trào hướng nội tức là mỗi người tự chiêm
nghiệm suy nghĩ của bản thân. Có hai phương pháp để nhận thức là :
¾ Tiệm ngộ: là sự giác ngộ, nhận thức một các dần dần, có tính chất là “trí
hữu sư”.
¾ Đốn ngộ: là sự giác ngộ bộc phát, bùng nổ có tính chất là “trí vô sư”.
Với hai phương pháp ấy sự nhận thức Phật giáo được chia làm hai giai đoạn:
¾ Giai đoạn một là từ tùy giác đến thể nhập. Nhận thức bắt đầu từ cảm giác
và phụ thuộc vào cảm giác đưa lại. Kết quả là con người biết được cái tiếp xúc giữa
thế giới khách quan và giác quan của con người và từ sự tiếp xúc này tạo nên yếu
tố “thọ” trong ngũ uẩn. Theo nhà Phật nói chữ thọ ở đây là sự tiếp xúc của sáu căn

− Giới: gồm có những phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt
hàng ngày của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng về thiện.
− Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung tư
tưởng suy nghĩ để làm mọi việc yên lành.
− Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉ nghĩ
đến làm việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh.
¾ Tam huệ là văn, tu, tư.
− Văn: là nghe pháp Phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bản tính thanh
tịnh, sáng suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp.
− Tư: là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộ
bản lai tư tính của mình.
− Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tụ
tập gột rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một pháp
giới tính.
Các phương pháp trên đã phá tan các kiến chấp sai lầm chấp ngã, chấp pháp
để đi đến trung đạo và nhận rõ trung đạo là chẳng có, chẳng không. Với nhận thức
như thế, người tu hành sẽ được sống trong sự giải thoát, sinh tử luân hồi sẽ không
còn nữa.
2.3 Nhân sinh quan Phật giáo
Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật
duyên khởi,... chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của đạo Phật về vấn đề
nhân sinh quan. Ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:
¾ Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ? Và vấn đề giải thoát trong đạo
Phật là gì?
¾ Con người là gì? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu? Vị trí của con người
trong đạo Phật.
¾ Quan niệm của Phật về các vấn đề: bình đẳng, tự do, dân chủ...
Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế
vì đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên.
Footer Page

quan, không ru người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm
cho người ta sợ hãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộc sống. Phật chỉ cho
chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta
đi đến giải thoát.
Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thường dịch là khổ là chưa thật hết nghĩa
nên mới dẫn đến những hiểu lầm trên.
Trong phép tướng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ.
Như vậy không phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ. Đối với cảnh nghịch sinh ra
khổ thụ nhưng đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thú. Các cảnh có thể làm cho
người ta vui hoặc khổ hoặc không vui, không khổ. Đạo phật không phủ nhận những
cảm giác vui (lạc thú) của cuộc đời mà còn phân tích ra nhiều hình thức vui. Nhưng
những cái vui ấy, cũng như những cái khổ ấy đều bao gồm trong danh từ Dukkha,
vì những cái vui, cũng như những cái khổ ấy đều là vô thường hư giả.
Dù người tu hành chứng được những trạng thái thiền định cao siêu thì những
lạc thú siêu thoát ấy vẫn là Dukkha vì những người tu hành ấy chưa thoát khỏi tam
giới vô thường, hư giả.
Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cái
Dukkha ấy chứ không phải là tránh khổ, tìm vui như thế gian thường hiểu, thường
lầm.
Theo cách phân tích khác, Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
Footer Page
of 126.triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư13tưởng

Trang 10


Header Page
14 luận
of 126.

ngay trong mỗi chúng ta. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể tóm lại như sau:
1. Tham: là tham lam.
2. Sân: là giận dữ.
3. Si: là si mê, mờ ám.
4. Mạn: là tự nâng cao mình lên, hạ người khác xuống.
5. Nghi: là nghi ngờ, không có lòng tin.
6. Thân kiến: tưởng thân thể là thực có là trường tồn.
Footer Page
of 126.triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư14tưởng

Trang 11


Header Page
15 luận
of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

7. Biên kiến: sự hiểu biết một mặt như chấp đoạn, chấp thưởng.
8. Tà kiến: sự hiểu biết không đúng, là chấp theo lối tà, không chân chính,
trái với sự thật, trái với quy luật nhân quả.
9. Kiến thử: chấp nhặt hiểu biết sai trái của riêng mình là đúng.
10. Giới cấm thủ: tu hành không chính đạo.
Ba nguyên nhân chính (tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồn gốc
của mọi sự khổ. Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh được thể hiện
trong công thức sau:


Trang 12


Header Page
16 luận
of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

chưa nhắc tới quan hệ giai cấp, bóc lột trong xã hội. Luận điểm này thể hiện rõ từ
trào hướng nội trong nhận thức luận Phật giáo.
c)

Diệt đế

Diệt đế là tích quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà đạo đế mang lại.
Diệt đế là trừ diệt sự khổ để đi đến chỗ an lạc là chỗ kết nghiệp đã hết không
còn luân hồi sinh tử nữa.
Có tịnh nghiệp tất sinh tịnh quả. Ấy là khi diệt đế vọng niệm không còn khởi
lên, tâm hồn luôn an trụ trong cảnh vắng lặng là do cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường – Lạc – Ngã – Tịnh.
Thường là thường còn, không biến đổi.
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn.
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một nơi
nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự tu

Header Page
17 luận
of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

4. Ngũ cân:

5

5. Ngũ lực:

5

6. Bát chính đạo: 8
7. Thất giác :

7

Trong 37 đạo phẩm, bát chính đạo là quan trọng nhất. Nó là con đường giúp
người ta thoát khỏi phiền não, đau khổ đi tới cảnh giới Niết Bàn tự tại, an lạc. Bát
chính đạo gồm có:
1. Chính ngữ: tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái.
2. Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người.
3. Chính mệnh: sống bằng nghề nghiệp chân chính.
4. Chính tịnh tiến : tiến tới trên con đường đạo, không đi vào các đường tà.
5. Chính niệm: tâm trí luôn luôn nghĩ đến đạo lý vô ngã, diệt trừ những kiến
chấp mê lầm, đoạt trừ những tư tưởng, hành động bất chính.

of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

tố chính: yếu tố sinh lý (sắc) và yếu tố tinh thần (thụ, tưởng, hành, thức).
Yếu tố tinh thần chỉ phát huy tác dụng khi nó được gắn với một thân thể. Sắc
thân chỉ tồn tại trong một thời gian rồi bị huỷ diệt.
Như vậy, con người chỉ là một giả hợp sinh lý tuân theo quy luật: sinh, tục, dị,
diệt. Con người là do nhân duyên hòa hợp, không có một đấng tối thượng siêu
nhiên tạo ra con người cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra. Khi
nhân duyên hòa hợp thì con người sinh, khi nhân duyên tan rã thì con người chết.
Song chết chưa phải là hết, linh hồn cũng không bất tử chuyển từ kiếp này sang
kiếp khác. Con người ở kiếp này sinh ra thì con người ở kiếp trước diệt, nhưng con
người ở kiếp sau không phải là con người ở kiếp trước nhưng cũng không khác với
con người ở kiếp trước. Con người không phải là một thực thể trường tồn mà chỉ là
một giả hợp của ngũ uẩn. Trong thời gian ngũ uẩn kết hợp, các việc thiện, ác được
thực hiện. Con người gây nghiệp và tạo ra một động lực làm xuất hiện nghiệp báo ở
kiếp sau.
Từ nhận thức trên, con người tu Phật lúc nào cũng phải cẩn thận trong một ý
nghĩ, lời nói việc làm.
b)

Nhân vị trong đạo Phật

Đạo Phật là đạo chủ trương tự do, bình đẳng, từ bi.
¾ Tự do theo quan niệm của Phật là con người sống trong an lạc, giải thoát,
không có áp bức, nô lệ, cũng không bị chi phối bởi ngũ dục. Con người bị ràng
buộc bởi ngoại cảnh và một phần bởi nội tâm. Những sự áp bức, những day dứt gây

¾ Người ta gọi đạo Phật là đạo từ bi, người tu hành là người giàu lòng từ bi.
Từ là hiền hòa, cho vui. Bi là thương xót, cứu khổ. Từ bi là đem lại an lạc, hạnh
phúc cho người khác, cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh, quên đi mọi ích lợi của bản
thân mình. Nhưng từ bi không phải là thủ tiêu mọi sự đấu tranh, giữ thái độ tiêu
cực, thụ động trước mọi sự bất công, áp bức, tham nhũng. Có sức mạnh hung bạo
thì phải có sức mạnh của từ bi để chống lại. Sức mạnh đó thể hiện bằng sự giáo hóa
và bằng cả bạo lực, bạo lực từ bi. Hai chữ từ bi càng đẹp biết bao nhiêu đối với
những con người thực tâm tu luyện thì càng xấu xa bao nhiêu đối với những kẻ lợi
dụng đạo để mưu cầu lợi ích cho mình. Vấn đề giải thoát là vấn đề cơ bản trong
đạo Phật vì mục đích cuối cùng của đạo Phật là giải thoát con người khỏi cuộc sống
đau khổ trong vô minh. Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm,
không ai có thể làm thay được và mỗi người phải coi sự giải thoát là cứu cánh cuối
cùng của cuộc đời.
Như vậy, đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao
quý. Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm
nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ xả sẽ kiến lập một xã hội hòa bình, an
lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể. Trái lại, con người
ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì cái gì trong tay
con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con người ấy là xã
hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.

Footer Page
of 126.triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư19tưởng

Trang 16


Header Page
20 luận

Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
¾ Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và
phát triển rộng khắp
¾ Thời nhà Lý – nhà Trần là giai đoạn cực thịnh
¾ Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái
Footer Page
of 126.triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư20tưởng

Trang 17


Header Page
21 luận
of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

¾ Từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng.
Trên bước đường truyền bá và hội nhập, Phật giáo luôn luôn cố gắng thực
hiện hai điều đó là khế lý và khế cơ. Khế lý là nói về mặt tư tưởng nhờ khế lý nên
dù ở thời gian và không gian nào, giáo lý Phật đà vẫn hợp với chân lý, tư tưởng vẫn
luôn luôn phong phú, sâu sắc mà vẫn giữ được bản chất của mình và chỉ có một vị
đó là vị giải thoát.
Khế cơ thiên về mặt lịch sử, nhờ khế cơ nên dù trong hoàn cảnh và quốc độ
nào thì sự sinh hoạt, thể hiện, truyền đạt cũng luôn luôn đa dạng. Tùy theo phong
tục tập quán của mỗi quốc gia mà vẫn không hề mất gốc (Phật giáo). Nói một cách
khác thì có thể tùy nghi phương tiện theo từng vùng miền để truyền bá giáo lý Phật

Header Page
22 luận
of 126.
Tiểu
triết học

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và
Phật Pháp Điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của
một pho tượng Phật. Nghĩa là đầy đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẻ đẹp, mà một trong
những nét tiêu biểu chính là tướng nhục kế, những khế ấn, và khuôn mặt đầy lòng
từ mẫu... Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa “tiền
Phật, hậu thần” hay “tiền Phật, hậu Mẫu”. Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh,
Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc... vào thờ trong chùa. Đa số các chùa
còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất.
2.1.2

Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo

Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với
nhau. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo. Nhiều vị thiền sư đời
Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,... đều giỏi pháp thuật và
có tài thần thông biến hóa. Thiền tông còn kết hợp với Tịnh Độ tông như là trong
việc tụng niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát.
Các điện thờ ở chùa miền Bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật, bồ
tát, la hán của các tông phái khác nhau. Các chùa miền Nam còn có xu hướng kết
hợp Tiểu thừa với Đại thừa. Nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Phật Thích
Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa; bên cạnh Phật Thích
Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng còn có áo nâu, áo

nhất” và “Vạn giáo nhất lý”.
2.2 Tính hài hòa âm dương
Sau tính tổng hợp, hài hòa âm dương là một trong những đặc tính khác của lối
tư duy nông nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật
giáo Việt Nam có phần thiên về nữ tính.
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành
“Phật ông – Phật bà”. Phật Bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị
thần hộ mệnh của vùng Nam Á nên còn được gọi là Quan Âm Nam Hải. Ngoài ra
người Việt còn có những vị Phật riêng của mình như Man Nương Phật Mẫu (tên
khác: Phật Mẫu), Quan Âm Thị Kính (tên khác: Quan Âm Tống Tử), Quan Âm
Diệu Thiện (tên khác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba).
2.3 Tính linh hoạt
Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất linh hoạt, mà nhà Phật thường
gọi là “tùy duyên bất biến; bất biến mà vẫn thường tùy duyên” nghĩa là tùy thuộc
vào tình huống cụ thể mà người ta có thể tu, giải thích Phật giáo theo các cách khác
nhau. Nhưng vẫn không xa rời giáo lý cơ bản của nhà Phật. Ví dụ: Các vị bồ tát,
các vị hòa thượng đều được gọi chung là Phật, Phật Bà Quan Âm (vốn là bồ tát),
Phật Di Lặc (vốn là hòa thượng),... Ngoài ra Phật ở Việt Nam mang dáng dấp hiền
hòa và dân dã: ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc xoăn), ông Nhịn ăn mà mặc (chỉ Thích Ca
Tuyết Sơn),... Trên đầu Phật Bà Chùa Hương còn có lọn tóc đuôi gà rất truyền
thống của phụ nữ Việt Nam.
3. Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của
người Việt

3.1 Những ảnh hưởng tích cực
Từ khi du nhập Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch sử
dân tộc, nó ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hóa, nếp sống của
người Việt. Vậy nó ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
ra sao?
3.1.1

chỉ bị tách rời nhau trong tưởng tượng. Do vậy mà người phương Đông, Việt Nam
theo đạo Phật thường để ý nhiều đến mối quan hệ, chủ yếu cảm tính, đạo đức nên
nhiều nhìn nhận sai lệch, có tính chủ quan duy ý trí. Do đó, cuộc sống người Việt
Nam thường chú ý nhiều đến quan hệ họ hàng, làng xóm, xã hội sao cho khôn khéo,
tế nhị.
Tư duy người Việt Nam ta trong truyền thống là hướng nội. Hướng ngoại
là thiên về nghiên cứu thế giới vật chất bên ngoài. Hướng nội là thiên về nghiên
cứu thế giới tinh thần bên trong. Do đạo Phật quan niệm vạn vật đồng nhất thể, nên
bản thể vũ trụ cũng tiềm ẩn trong mỗi con người. Điểm này khiến người Việt trong
cuộc sống đề cao cái tâm, lối sống tình cảm. Cách suy nghĩ và lối sống mang nặng
màu sắc tình cảm, một mặt giúp nhân dân ta trong những thời hoạn nạn, thiên tai,
địch họa... nhưng nó cũng làm hạn chế sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật.
Tư duy người Việt có thêm 1 loạt khái niệm lấy từ Phật giáo. Những khái
niệm đó góp phần làm tăng những khái niệm mang tính triết lý của người Việt,
khiến tư duy người Việt mang tính khái quát hơn, trừu tượng hơn. Nhiều từ ngữ
Phật giáo đã được người dân Việt Nam sử dụng trong đời sống hằng ngày, một
cách tự nhiên và nhuần nhuyễn, như là tiếng phổ thông, thậm chí người sử dụng nó
cũng không biết được nguồn gốc xuất xứ là Phật giáo. Thí dụ, hai chữ “tội nghiệp”
(Tội nghiệp là tội của nghiệp), “Hằng hà sa số” (là một hình ảnh Phật thường dùng
khi thuyết pháp để diễn tả số lượng rất nhiều). Từ “Bụt” trong câu “Hiền như Bụt”
vì họ quan niệm Phật như một ông Thần có rất nhiều quyền năng, nhưng lại rất là
hiền từ, chỉ cứu người chứ không bao giờ làm hại người. Thậm chí họ còn nói đùa
Footer Page
of 126.triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư24tưởng

Trang 21


Header Page

nhân tác động mạnh trong xã hội. Chúng ta dễ nhận thấy Phật giáo đã mang đến
cho người Việt những ngôi chùa cổ kính, những pho tượng bề thế rải khắp xóm
làng làm tăng lòng từ bi và hướng thiện của người bình dân. Phật giáo đã đưa đến
một trung tâm văn hóa làng một thời sôi động. Phật giáo cũng đã mang đến trong
tâm hồn người Việt một đời sống tâm linh sâu đậm từ khi du nhập cho đến nay.
Trong lịch sử, Phật giáo cũng luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc. Đến thế kỷ
XX, Phật giáo với những nhà sư Tây học đã đóng góp một phần nhỏ trong sự thành
công của cách mạng, mở ra một nước Việt Nam độc lập. Chỉ những nhà sư và tín
Footer Page
of 126.triết học Phật giáo và những ảnh hưởng …
Tư25tưởng

Trang 22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status