Header Page 1 of 126.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) đang là một bệnh phổ biến và là gánh nặng tử vong
hàng đầu trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1978, trên thế giới
tỷ lệ mắc bệnh THA chiếm khoảng 10% - 15% dân số và ƣớc tính đến 2015 là
29%. Năm 2000, có khoảng 600 triệu ngƣời mắc và 7,1 triệu trƣờng hợp tử vong
do THA (chiếm khoảng 13% tổng số tử vong toàn cầu) [1]. Trong số các trƣờng
hợp mắc bệnh và tử vong do tim mạch hàng năm có khoảng 35% - 40% nguyên
nhân là THA [2].
THA gây nhiều biến chứng nguy hiểm nhƣ: suy tim, suy vành, suy thận, tai
biến mạch máu não…đòi hỏi phải điều trị lâu dài, tốn kém về kinh tế và ảnh hƣởng
không nhỏ tới sức khỏe ngƣời bệnh. Chính vì thế THA không những ảnh hƣởng
đến chất lƣợng cuộc sống của bản thân ngƣời bệnh mà còn là gánh nặng cho gia
đình và xã hội. Tại Hoa Kỳ chi phí hàng năm cho phòng chống bệnh THA trên 259
tỷ đô la [2].
Tỷ lệ bệnh THA có xu hƣớng tăng rất nhanh không chỉ ở các nƣớc có nền
kinh tế phát triển mà ở cả các nƣớc đang phát triển. Theo WHO năm 2003 tỷ lệ
tăng huyế áp ở khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ đã khá cao chiếm 15% - 20% trong
khi đó ở Ấn Độ (2000) là 31% [3].
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi dịch tễ học với gánh nặng bệnh
tật kép: bệnh lây nhiễm vẫn cao trong khi bệnh không lây nhiễm đang tăng nhanh
(và là gánh nặng tử vong chính), trong đó có sự gia tăng gánh nặng của THA , nhất
là ở khu vực thành thị.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh THA: rối loạn lipid máu, thói quen ăn mặn, hút
thuốc, uống rƣợu, ít vận động, béo phì. Khống chế những yếu tố nguy cơ này có
thể làm giảm 80% bệnh THA [4] và có thể dự phòng đƣợc thông qua các biện pháp
can thiệp có hiệu quả.
Footer Page 1 of 126.
CHƢƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa, phân loại và triệu chứng tăng huyết áp
1.1.1. Định nghĩa tăng huyết áp
Theo Tổ chức Y tế thế giới, một ngƣời trƣởng thành đƣợc gọi là THA khi
huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và hoặc huyết áp tâm trƣơng (HATT) ≥
90mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần đƣợc bác
sĩ chẩn đoán là THA [4], [8], [9].
THA không phải là một tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với
nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác
nhau.
1.1.2. Phân độ tăng huyết áp
Có nhiều cách phân loại THA khác nhau. Ở Việt Nam, có 2 cách phân loại
đƣợc áp dụng phổ biến là phân độ THA theo WHO/ISH (năm 2003) [4], [8], [9] và
phân loại huyết theo JNC VII.
Phân loại HA ở người lớn
Loại HA
Theo WHO (2003)
Theo JNC VII
HATT
HATTr
HATT
HATTr
Độ II
160 - 179
100 - 109
≥ 160
≥ 100
Độ III
≥ 180
≥ 110
-
-
Tăng huyết áp
Bảng 1.1. Phân độ THA theo WHO và theo JNC VII
− Nếu trị số HATT và HATTr ở hai độ khác nhau thì lấy giá trị cao hơn đánh
giá
3
Footer Page 3 of 126.
Header Page 4 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 5 of 126.
Nguyên nhân THA: đa phần là THA vô căn, chỉ có 5% trƣờng hợp tìm thấy
nguyên nhân THA, hay gặp ở ngƣời trẻ nhƣ: hẹp động mạch thận, u tuyến thƣợng
thận…
1.1.4. Tổn thương cơ quan đích trong tăng huyết áp
Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân
tử vong cao nhất của THA [6].
Não: các tai biến do THA thƣờng gặp nhƣ: nhồi máu não, xuất huyết não có
thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề. Có thể chỉ gặp THA thoáng qua với các
triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA với các
triệu chứng lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội [6].
Thận: có thể gặp các tổn thƣơng: xơ vữa động mạch thận, suy thận.
Mạch máu: THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, xơ vữa hệ thống mạch
ngoại biên, phồng động mạch chủ [12].
Mắt: Soi đáy mắt có thể thấy tổn thƣơng đáy mắt [8]. Theo KeithWagenerBarker có 4 giai đoạn có tổn thƣơng đáy mắt:
− Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bong.
− Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch.
− Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc, chƣa có phù gai thị.
− Giai đoạn IV: Phù lan tỏa gai thị
5
Footer Page 5 of 126.
Header Page 6 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 7 of 126.
1.3. Một số yếu tố liên quan tới tăng huyết áp
1.3.1. Các yếu tố không thay đổi được
− Tuổi: thông thƣờng ở ngƣời trƣởng thành tuổi càng cáo, trị số HA càng cao.
THA xuất hiện thuờng xuyên hơn ở nhóm nam ≥ 55 và nữ ≥ 65 tuổi.
− Giới: nam thƣờng có tỷ lệ mắc THA cao hơn nữ. Riêng với nữ trong độ tuổi
đã mãn kinh cũng có tỷ lệ mắc THA cao.
− Chủng tộc: ngƣời châu Mỹ gốc Phi hoặc ngƣời Phi gốc châu Mỹ có nguy cơ
mắc THA cao hơn so với ngƣời gốc châu Âu.
− Tiền sử gia đình: những ngƣời có ngƣời cùng huyết thống trong gia đình bị
THA thì cũng có nguy cơ mắc THA cao hơn [14].
1.3.2. Các yếu tố có thể thay đổi được
Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đƣợc gồm: hút thuốc lá, uống rƣợu bia, chế
độ ăn nhiều muối, ít rau quả, sử dụng dầu mỡ không hợp lý, ít vận động thể lực,
béo phì (BMI ≥ 23), rối loạn lipid máu, đái tháo đƣờng…[14].
Hút thuốc lá: theo một số kết quả nghiên cứu, hút thuốc lá có liên quan tới
mức độ THA. Thuốc lá làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim lên 4 lần, đột tử lên 5
lần, nguy cơ mắc bệnh THA cao gấp 1,45 lần so với ngƣời không hút thuốc lá.
Trong thuốc lá có chứa tới hơn 4000 chất với 200 chất độc hại trong đó quan trọng
nhất là nicotin có tác dụng co mạch ngoại biên, tăng nồng độ serotonin não với
tuyến thƣợng thận gây THA [4]. Hút thuốc lá có thể gây ra cơn THA kịch phát.
Ngoài ra khí CO trong quá trình hút thuốc lá lâu dài sẽ gây lên màng xơ vữa động
mạch là nguy cơ gây THA. Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch
vành lên 50 - 60% so với ngƣời không hút [15].
Uống rƣợu bia nhiều: theo kết quả nghiên cứu trƣớc đây đã cho thấy có sự
liên quan giữa việc sử dụng rƣợu bia nhiều và THA [4], [16]. Rƣợu có thể gây rối
Bình thƣờng
18,5 ≤ BMI < 23
BMI ≥ 23
Thừa cân
Tiền béo phì
23 ≤ BMI < 30
Béo phì độ I
25 ≤ BMI < 30
Béo phì độ II
BMI ≥ 30
Bảng 1.2. Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo IDI/WPRO
Một số nghiên cứu nhận thấy béo phì có mối liên quan với các mức HA.
Nguy cơ THA ở ngƣời thừa cân, béo phì cao gấp hai lần so với ngƣời bình thƣờng
và cao gấp ba lần so với ngƣời nhẹ cân[18], [19]. Chỉ số BMI càng lớn mức độ
THA càng cao [20]. Ngoài ra, trên các đối tƣợng béo phì có sự thay đổi bất lợi về
các chỉ số sinh hóa nhƣ tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol đều có ảnh
8
Footer Page 8 of 126.
Thang Long University Library
Footer Page 9 of 126.
Header Page 10 of 126.
nhƣ: tuổi, yếu tố gia đình, béo phì, thu nhập, hút thuốc, uống rƣợu... cũng cho thấy
liên quan [25].
1.4.2. Ở Việt Nam
Năm 1960, theo điều tra của G.S.Đặng Văn Chung, tỷ lệ THA tại Việt Nam
là 2% - 3% [5]. Năm 1975, theo điều tra của Bộ Y tế, tỷ lệ THA là 2,4% [26]. Năm
1984, theo điều tra của khoa Tim mạch bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ THA là 4,5%
[26]. Năm 1992, theo điều tra của G.S.Trần Đồ Trinh và cộng sự, tỷ lệ THA là
11,7% [26]. Năm 1999, theo điều tra của G.S.Phạm Gia Khải và cộng sự, tỷ lệ
THA là 16,05% [19].
Một nghiên cứu năm 2002 thấy trong số 1716 ngƣời bị THA thì 67,5%
không hề biết về bệnh của mình, 15% biết mà không điều trị đúng, 13,5% điều trị
thất thƣờng, chỉ có 4% đối tƣợng điều trị đúng [27]. Theo Nguyễn Minh Tâm và
Nguyễn Thị Trúc điều tra 1582 ngƣời trên 18 tuổi năm 2001 tại Tiền Giang, 16,1%
đối tƣợng chƣa từng đƣợc đo HA, 58,7% có đo nhƣng không nhớ trị số HA của
mình, 10,3% nhớ con số HA nhƣng không kiểm tra thƣờng xuyên, 14,3% có ý thức
kiểm tra định kỳ [28]. Theo số liệu điều tra dịch tễ quốc gia năm 2001-2002, tỷ lệ
THA ở nam giới là 15,1% và nữ giới là 13,5% [27]. Điều tra của Viện Tim mạch
Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam
năm 2001 - 2002 (trên 5012 ngƣời) cho thấy tần suất THA ở nguời trƣởng thành là
16,5%, có 23% đối tƣợng biểt đúng nguy cơ của bệnh. Trong 818 ngƣời đƣợc phát
hiện THA, tỷ lệ THA độ I, độ II, độ III lần lƣợt là 10,2%; 4,2% và 1,9% trong đó
chỉ có 84 ngƣời dùng thuốc chiếm tỷ lệ 11,5%; tỷ lệ kiểm soát HA tốt (đƣa HA về
bình thƣờng) chỉ đạt 19,% [29].
Tỷ lệ ngƣời dân hiểu biết đúng tất cả các yếu tố nguy cơ bao gồm: hút thuốc,
uống rƣợu, chế độ ăn không hợp lý, vấn đề lƣời hoạt động thễ lực, tiền sử gia đình
Trong điều trị, ngƣời ta chú ý nhiều đến HATTr, nhƣng Tổ chức Y tế Thế
giới (WTO) cho rằng “Huyết áp tâm thu cũng là yếu tố đe dọa mạnh mẽ tƣơng
đƣơng với huyết áp tâm trƣơng”, do vậy phải bằng mọi cách không đƣợc để các
con số HA tăng quá cao. Mức HA đƣa xuống mong muốn là trong giới hạn đƣợc
quy định nghĩa là < 140/90 mmHg, tuy nhiên ở ngƣời đã bị bệnh từ lâu không
đƣợc chữa hoặc chữa không đầy đủ, HA thƣờng xuyên ở mức cao 150 - 160/95 100 mmHg, họ đã quen với mức huyết áp đó, nếu cố đƣa áp xuống thấp hơn thì có
11
Footer Page 11 of 126.
Header Page 12 of 126.
khi nguy hiểm, làm cho bệnh nhân rất khó chịu vì việc tƣới máu não dễ bị giảm với
những hậu quả không tốt, chƣa kể đến việc phải dùng nhiều thuốc phối hợp có thể
gây nên những tác dụng phụ không tốt cho họ. Tất nhiên ở mức HA đó thì các tai
biến vẫn cứ nặng hơn, tuổi thọ giảm hơn so với những bệnh nhân có mức của HA
ở trong giới hạn bình thƣờng.
12
Footer Page 12 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 13 of 126.
CHƢƠNG II - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân đến khám tại khoa KCBTYC từ tháng 5 đến tháng 8
của các lần đo.
2.2.3. Biến số nghiên cứu
2.2.3.1. Các thông tin cơ bản về các đối tượng
− Thông tin cá nhân: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn của đối tƣợng.
− Điều kiện kinh tế của hộ gia đình
2.2.3.2. Thông tin về tăng huyết áp
− Tỷ lệ THA, phân độ THA
− Các yếu tố nguy cơ THA và bệnh không lây nhiễm nói chung đƣợc đề cập
trong nghiên cứu này bao gồm: hút thuốc, uống rƣợu, béo phì.
2.2.4. Xử lý số liệu
Số liệu đƣợc nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS. Thống kê mô tả (giá trị
trung bình, phƣơng sai, tỷ lệ phần trăm) đƣợc sử dụng để mô tả đặc điểm nhóm
nghiên cứu và các biến số. Hệ số tƣơng quan (Spearman’s Rho) đƣợc sử dụng để
đánh giá mối liên quan giữa các biến số. Mức ý nghĩa thống kê sử dụng là 0,05.
2.2.5. Sai số và khống chế sai số
2.2.5.1. Sai số
− Sai số do dụng cụ, kỹ thuật đo.
− Sai số do thu nhập thông tin trong phỏng vấn, ghi chép thông tin
− Sai số do nhớ lại với các thông tin nhƣ: hút thuốc, uống rƣợu, chẩn đoán và
điều trị THA
2.2.5.2 Khống chế sai số
− Sử dụng các dụng cụ đo đạt chuẩn và đƣợc kiểm tra kỹ thƣờng xuyên.
− Ngƣời đo HA và các chỉ số nhân trắc đƣợc tập huấn lại và thống nhất kỹ
thuật đo đạc theo thƣờng quy.
− Các điều dƣỡng viên đƣợc tập huấn kỹ càng để thống nhất về quy trình thu
14
Footer Page 14 of 126.
Thang Long University Library
25 - 34
556
22,3
706
23,6
35 - 34
639
25,6
754
25,2
45 - 44
544
21,8
820
27,4
Kinh doanh, buôn bán
594
24,7
757
21,4
Lao động tự do
434
18,3
278
32,06
Nội trợ, về hƣu
484
19,4
1179
40,69
học vấn Phổ thông trung học
676
26,4
900
30,2
1088
50,6
1049
38,5
2497
52,3
2993
47,7
Nhóm
tuổi
Nam
Biểu đồ 3.1: Giới tính
Nhận xét: Tổng số BN đƣợc phát hiện THA là 1.048 ngƣời, trong đó nam có
589 BN, chiếm tỷ lệ là 56,2% cao hơn so với nữ là 43,8%.
3.2.2. Tỷ lệ tăng huyết áp theo nhóm tuổi
Nam
Tuổi
Nữ
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
25 - 34
31
5,3
7
1,5
≥ 65
210
35,3
255
55,1
Tổng
589
100
459
100
Bảng 3.2: Tỷ lệ mắc tăng huyết áp theo nhóm tuổi và giới
Nhận xét: Tỷ lệ THA tăng dần theo nhóm tuổi và ở nam cao hơn ở nữ, trừ
nhóm tuổi ≥ 65, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
17
Footer Page 17 of 126.
Header Page 18 of 126.
3.2.3. Phân độ tăng huyết áp
Footer Page 18 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 19 of 126.
3.3. Tỷ lệ mắc một số yếu tố nguy cơ
3.3.1. Tỷ lệ hút thuốc
Nhóm tuổi
Nam
Nữ
Chung
25 - 34 tuổi
50,0
1,1
22,6
35 - 44 tuổi
61,9
1,0
1,7
25,7
Bảng 3.3: Tỷ lệ hút thuốc hiện tại theo tuổi)
Nhận xét: tỷ lệ hút thuốc hiện tại ở nam cao hơn nhiều lần so với nữ. Tỷ lệ
hút thuốc tăng lên ở nhóm tuổi 35 - 54 sau đó giảm xuống ở nhóm tuổi 55 - 64 tuổi
và ≥ 65 tuổi.
3.3.2. Tỷ lệ uống rượu
Nhóm tuổi
Nam
Nữ
Chung
25 - 34 tuổi
89,6
52,4
68,7
35 - 44 tuổi
91,1
89,2
49
63,7
Bảng 3.4: Tỷ lệ có uống rượu theo tuổi, giới (%)
Nhận xét: tỷ lệ uống rƣợu tính chung là 63,7%, ở nam cao hơn so với nữ ở
tất cả các nhóm tuổi. Tỷ lệ uống rƣợu nhìn chung có xu hƣớng giảm dần theo tuổi
từ 55 - 64 tuổi và ≥ 65 tuổi.
19
Footer Page 19 of 126.
Header Page 20 of 126.
3.3.3. Tỷ lệ béo phì
Nhóm tuổi
Nam
Nữ
Chung
25 - 34 tuổi
14,2
21,5
22,7
21,8
Tổng cộng
14,6
12,4
13,8
Bảng 3.5. Tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 25) theo tuổi, giới (%)
Nhận xét: tỷ lệ béo phì tính chung là 13,8%, ở nam và nữ lần lƣợt là 14,6%
và 12,4%. Tỷ lệ béo phì có xu hƣớng tăng theo nhóm tuổi ở cả hai giới, tăng nhanh
hơn ở nữ so với nam, từ 9,3% ở nhóm tuổi 25 - 34 tuổi lên 18,0% ở nhóm tuổi 55 64. Từ nhóm tuổi 45 trở lên, tỷ lệ béo phì ở nữ cao hơn so với nam.
3.4. Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp
3.4.1. Liên quan giữa tăng huyết áp và một số yếu tố kinh tế xã hội
Trình độ
Tổng số
Tăng huyết áp
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Tiểu học trở xuống
Bảng 3.6: Tăng huyết áp theo trình độ học vấn
Nhận xét: tỷ lệ mắc THA giảm dần theo trình độ học vấn từ 29,6% ở nhóm
có trình độ học vấn tiểu học trở xuống còn 15,5% ở nhóm tốt nghiệp các trƣờng
chuyên nghiệp.
20
Footer Page 20 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 21 of 126.
Nghề nghiệp
Tổng số
Công chức, nhân viên văn phòng
Tăng huyết áp
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
779
87
11,2
21,3
Bảng 3.7: Tăng huyết áp theo nghề nghiệp
Nhận xét: số ngƣời mắc THA cao nhất ở nhóm nội trợ, hƣu trí (29,7%), thấp
nhất là nhóm công chức, nhân viên văn phòng (11,2%) và nhóm kinh doanh buôn
bán (26,1%).
3.3.2. Liên quan giữa tăng huyết áp và một số yếu tố nguy cơ
Tăng huyết áp
Có
Không
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Uống
Có
728
19,8
2950
Tăng huyết áp
Có
Hút thuốc
Không
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Có
366
25,9
1044
74,1
Không
682
< 18,5
730
17,5
3982
82,5
18,5 - 23
60
10,4
519
89,6
> 23
83
35,2
188
64,8
nghiên cứu của Nguyễn Thu Hiền tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên năm 2007 (33,3%)
[7]. Điều này có thể đƣợc giả thích do sự khác biệt về đối tƣợng nghiên cứu và
cách chọn mẫu.
Tƣơng tự nhƣ nghiên cứu của Hội Tim mạch học thành phố Hồ Chí Minh
(1999), trong nghiên cứu của tôi, đa số những ngƣời mắc THA đều ở mức độ I
(43,8%) mặc dù mắc THA độ II và độ III lần lƣợt là 40,3% và 15,4%, cao hơn so
với tỷ lệ 27,6% và 18,6% trong nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh [33], [34].
Ngoài sự khác biệt về địa dƣ và tập quán, điều này có thể có liên quan với khả
năng đƣợc phát hiện, chẩn đoán và điều trị THA.
4.1.1. Giới
Xét theo giới, tỷ lệ THA ở nam cao hơn so với nữ (56,2% so với 43,8%).
Kết quả của tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt (2003) tại
Đông Anh - Hà Nội với tỷ lệ mắc THA ở nam là 55,8%, ở nữ là 44,2% [20] và
nghiên cứu của Hoàng Văn Minh và cộng sự tại Ba vì (2002) với 58,1% nam và
41,9% nữ bị THA [32]. Tỷ lệ mắc THA ở nam cao hơn so với nữ còn đƣợc ghi
23
Footer Page 23 of 126.
Header Page 24 of 126.
nhận ở một số nghiên cứu ở các khu vực khác. Kết quả điều tra y tế quốc gia năm
2001 - 2002 cho thấy tỷ lệ THA ở nam giới là 61,2% và nữ giới là 37,9% [1] hay
theo nghiên cứu của Đào Duy An ở thị xã Kon Tum tỷ lệ THA ở nam giới là
65,38%, nữ giới là 34,62% [36]. Các công trình nghiên cứu trên thế giới cũng đều
thấy rằng THA gặp ở nam nhiều hơn ở nữ [21], [24] [36].
Trong giới hạn bài nghiên cứu này, tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn nữ
(56,2% so vớỉ 43,8%) và có nguy cơ mắc bệnh THA ở nam giới cao gấp 1,28 lần
nữ giới. Tỷ lệ nam giới mắc THA cao hơn nữ giới đã đƣợc ghi nhận trong nhiều
nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về điều này có thể giải thích bởi lối sống của nam
đổi về mạch máu với yếu tố xơ vữa động mạch và một vài yếu tố khác làm tăng
nguy cơ THA. Nguy cơ TBMMN phối hợp với tỷ lệ THA ở ngƣời già vì thế cũng
nhiều hơn so với ngƣời trẻ tuổi. Bên cạnh đó, thời gian phơi nhiễm với các yếu tố
nguy cơ lâu dài (hút thuốc lá, uống rƣợu bia đối với năm giới, sự thay đổi của
hormone đối với nữ giới hay việc lao động, tập luyện giảm sút khi tuổi tác tăng lên
đối với cả hai giới) cũng là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc THA. Đây cũng là
điều cảnh báo để bản thân những ngƣời THA hiểu đƣợc bệnh tình sẽ nặng lên theo
thời gian nên cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa việc duy trì lối sống lành mạnh và
việc tuân thủ điều trị để tránh những biến chứng lâu dài của bệnh.
4.1.3. Phân độ và tỷ lệ đối tượng mắc tăng huyết áp đã được chẩn đoán, điều trị
Trong nghiên cứu của tôi, có tới 82,6% những ngƣời THA đã biết về tình
trạng bệnh của mình, trong đó có 20,3% đối tƣợng đã đƣợc điều trị và chỉ có
17,4% đối tƣợng chƣa biết về tình trạng bệnh của mình.Kết quả này khá phù hợp
so với nghiên cứu của Phạm Gia Khải năm 2000 (21,5%) [19], nghiên cứu của
Hoàng Văn Minh năm 2002 (17,4%) [32] và nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt năm
2003 (34,6%) [20].
Kết quả này có thể đƣợc giải thích là do sự khác nhau trong nhận thức bệnh
tật của ngƣời dân, mối quan tâm về các vấn đề sức khỏe cũng nhƣ mức độ thực
hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe ở mỗi quốc gia, địa phƣơng. Mặc dù
tỷ lệ nhận biết bệnh tật nói chung và bệnh THA nói riêng đã bƣớc đầu có những
cải thiện theo chiều hƣớng tốt lên so với các nghiên cứu trƣớc nhƣng tỷ lệ không
nhận biết đƣợc bệnh tật của mình vẫn còn ở mức cao có lẽ công tác tuyên truyền
giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh THA trong cộng đồng vẫn chƣa đạt yêu cầu
25
Footer Page 25 of 126.