VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HẠNH
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
GIÁO DỤC VỊ THÀNH NIÊN VỀ HÀNH VI ỨNG XỬ
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại Huyện Thanh Trì, Hà Nội)
Chuyên ngành
: Xã hội học
Mã số
: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS ĐẶNG CẢNH KHANH
Hà Nội, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Vai trò của gia đình trong việc
giáo dục vị thành niên về hành vi ứng xử” – Nghiên cứu tại huyện Thanh
Trì – Hà Nội là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu được trích
dẫn trong đề tài đều được ghi nguồn cụ thể. Số liệu nghiên cứu được trích
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ............................................. 15
1.1 Một số khái niệm cơ bản .......................................................................... 15
1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu của đề tài ........................................ 22
1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý tuổi Vị thành niên ............................................... 26
Chƣơng 2:THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦAGIA
ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ CHO VỊ THÀNH NIÊN
TẠI HUYỆN THANH TRÌ HIỆN NAY .................................................... 33
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu, đặc điểm của vị thành niên và gia đình .. 33
2.2 Thực trạng việc thực hiện giáo dục hành vi ứng xử cho vị thành niên trong
các gia đình tại huyện Thanh Trì hiện nay ..................................................... 43
2.3 Sự tiếp nhận và ảnh hưởng của những nội dung, phương pháp giáo dục
hành vi ứng xử đến thái độ, hành vi của vị thành niên .................................. 68
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................. 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
BLDS
:
Bộ luật Dân sự
BLHS
:
Vị thành niên
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Mức độ khi xảy ra mâu thuẫn của các mối quan hệ trong gia đình (%) ....42
Bảng 2.2. Mức độ quan tâm của bố/mẹ đối với NTL (%) ...........................................49
Bảng 2.3. Tương quan Hành vi ứng xử được gia đình lựa chọn giáo dục cho NTL *
Mức sống(%) .....................................................................................................................51
Bảng 2.4. Tương quan Phương pháp giáo dục của gia đình * Trình độ học vấn của
cha/ mẹ NTL (%) ..............................................................................................................61
Bảng 2.5. Tương quan Hình thức khen thưởng * Mức sống của gia đình (%) ..........67
Bảng 2.6. Thái độ, hành vi tiếp nhận của VTN đối với nội dung, phương pháp dục
của gia đình (%) ................................................................................................................74
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1. Số thế hệ đang cùng sinh sống trong gia đình NTL (%) ........... 38
Biểu đồ 2.2. Đánh giá của VTN về mức sống của gia đình (%) .................... 39
Biểu đồ 2.3. Trình độ học vấn của bố và mẹ NTL (%) .................................. 40
Biểu đồ 2.4. Đánh giá của VTN về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia
đình NTL (%) ................................................................................................. 41
Biểu đồ 2.5. Cách xử lý của bố mẹ khi NTL không thực hiện theo yêu cầu
hoặc mắc lỗi (%) ............................................................................................ 63
Biểu đồ 2.6. Hình thức khen thưởng của gia đình đối với NTL (%) ............. 66
Biểu đồ 2.7. Tương quan Giới tính của NTL * Đánh giá về sự cần thiết của
những nội dung bố mẹ giáo dục (%) .............................................................. 70
Biểu đồ 2.8. Tương quan Tuổi của NTL* Đánh giá về sự cần thiết của những
nội dung bố mẹ giáo dục (%) ......................................................................... 70
Biểu đồ 2.9. Tương quan Giới tính của NTL* Đánh giá về sự phù hợp của
phương pháp giáo dục hành vi ứng xử (%) ................................................... 72
phụ huynh đã biến nhà trường thành“nhà giữ trẻ lớn” mà không biết rằng
chẳng gì có thể thay thế được giáo dục gia đình. Bởi lẽ, gia đình, cha mẹ là
trường học đầu tiên đối với cuộc đời mỗi con người, là môi trường gần gũi
nhất về không gian và lâu dài về thời gian có ảnh hưởng lớn tới sự hình thành,
phát triển nhân cách con trẻ.
Hiện nay, khi sự hội nhập của các nền văn hóa trên thế giới đang diễn
ra một cách nhanh chóng, sự phát triển của khoa học công nghệ đang hiện hữu
1
trong cuộc sống từng gia đình, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang dần mai
một, sự buông lỏng quản lí, giáo dục của gia đình đã và đang tác động không
nhỏ đến hành vi ứng xử của trẻ em, đặc biệt là trẻ ở tuổi vị thành niên.
Vị thành niên là một giai đoạn ngắn nhưng lại hết sức quan trọng đối
với cuộc đời của mỗi con người. Đó là giai đoạn chuyển tiếp giữa con người
với tư cách là trẻ thơ cần được bảo vệ chăm sóc và giáo dục sang con người
với tư cách là những công dân trưởng thành có thể chịu trách nhiệm trước xã
hội và luật pháp về mọi hành vi của mình. Giai đoạn chuyển tiếp tưởng chừng
giản đơn và ngắn ngủi này bao giờ cũng để lại những dấu ấn mạnh mẽ không
dễ mờ phai suốt cuộc đời của mỗi người. Từ những gì ghi nhận được từ tuổi
vị thành niên, con người bắt đầu sự dấn thân thực sự vào cuộc sống và hoàn
thiện nốt những gì được gọi là xã hội hoá trong suốt những năm tháng tiếp
theo của đời người.
Chính vì vậy, việc giáo dục trẻ lứa tuổi vị thành niên là một công việc
khó khăn, đòi hỏi tính kiên nhẫn, sự hiểu biết về các đặc điểm tâm lý lứa tuổi
này. Trong đó quá trình giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục của gia đình
là một trong những yếu tố có tính chất quyết định.Trước thực tế đó, tác giả lựa
chọn đề tài “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục vị thành niên về hành vi
ứng xử” – Nghiên cứu trường hợp tại huyện Thanh Trì, Hà Nội nhằm tìm hiểu
vai trò của gia đình trong sự phát triển toàn diện của trẻ vị thành niên.
cho quan điểm chức năng luận trong xã hội học, Durkhem nhấn mạnh tới các
chức năng của gia đình trong sự vận hành của hệ thống xã hội. Trong tác
phẩm nổi tiếng và mang tính kinh điển xã hội học của mình là “Nạn tự tử”
Durkheim đã phân tích gia đình trong điều kiện của những sai lệch chuẩn mực
xã hội mà ông gọi chung là hiện tượng “anomie”. Sự khủng hoảng của gia
đình theo Durkheim chính là việc không duy trì được các chức năng của chính
gia đình. Theo ông, nạn tự tử xuất hiện cũng là biểu hiện của chính sự phá vỡ
chức năng mà ông đã nhấn mạnh trên.
3
Các nhà Xã hội học đã phát minh quá trình xã hội hóa (Biến con người
sinh vật thành con người xã hội) và cho rằng quá trình này diễn ra đầu tiên là
trong gia đình (Điều này khá gần với quan điểm về giáo dục của Nho giáo).
Xã hội hóa là quá trình mà trong đó, trước hết các giá trị và chuẩn mực và cả
năng lực nhận thức cũng được nội tâm hóa, nghĩa là thấm sâu vào nhân cách
của các cá nhân hành động. Đó là sự lưu truyền mẫu văn hóa trong trình tự
thế hệ. Điều này xảy ra trong hành động vai trò, chủ yếu trong gia đình nhỏ
mà ở đó bố mẹ tác động đến con cái như là những “Người đại diện cho xã hội
hóa” của xã hội. [5]
Trong số những tác giả nghiên cứu về gia đình hiện đại, chúng ta có thể
kể đến Norval Glenn với hàng loạt sách được coi là bán chạy nhất trong
những sách nghiên cứu về gia đình. Norval Glenn đã dành nhiều công sức để
phân tích mổ xẻ gia đình Mỹ thông qua những phân tích định tính và định
lượng khá sâu sắc. Các chỉ báo và chỉ số xã hội học được đưa ra là khá xác
thực với một phương pháp nghiên cứu thực sự khách quan sâu sắc đã giúp chúng
ta hình dung được bộ mặt của gia đình hiện đại xoay quanh sự biến dạng của
những chuẩn mực và giá trị gia đình trước sóng gió của cuộc sống hiện đại.
Gia đình cũng trở thành mối quan tâm của các nhà giáo dục học và văn
hoá học. Giáo sư John Macionis, nhà giáo dục học người Mỹ, đã coi giáo dục
người cha và con trai. Cũng như ở Nhật Bản, những nguyên tắc này của Nho
giáo về các quan hệ gia đình được chiếu vào đời sống cộng đồng và tạo ra
một giá trị xã hội quan trọng.
Trong suốt giai đoạn trước hiện đại hoá, gia đình ở Hàn Quốc về cơ bản
vẫn là Nho giáo. Luật đăng ký gia đình do Nhật Bản thiết lập trong giai đoạn
cai trị được người Triều Tiên chấp nhận. Ngay cả sau khi giải phóng năm
1945, gia đình Hàn Quốc vẫn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của quan hệ
dòng máu và quyền lực của người đàn ông là chủ trong hộ gia đình. Ngày
5
nay, ở Hàn Quốc, quan hệ về đằng họ nội vẫn còn phổ biến. Dù đã ra ở riêng
nhưng quan hệ giữa cha mẹ và con cái đã trưởng thành vẫn là quan hệ dựa
vào nhau, và con cái thường chăm sóc bố mẹ già khi họ không thể tự chăm
sóc được. Mặc dù có những dấu hiệu ở khu vực đô thị, quan hệ gia đình và
quan hệ họ hàng dần dần yếu đi, song ảnh hưởng của Nho giáo đến gia đình
Hàn Quốc vẫn còn khá mạnh.
Có thể nói, các nghiên cứu trên đã cung cấp cho chúng ta thấy phần nào
bức tranh về gia đình trên thế giới.
2.2 Tình hình nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây, khi chúng ta chuyển sang thực hiện cơ chế
thị trường, hệ giá trị và các chuẩn mực đạo đức truyền thống đang bị thay đổi
một cách mạnh mẽ. Những quan điểm sống gắn liền với sự cạnh tranh lợi
nhuận như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, các mối quan hệ “tiền
trao cháo múc” không những chưa bị lên án mạnh mẽ mà còn lấn át các chuẩn
mực tốt đẹp. Trước thực tế đó, vấn đề giáo dục trong gia đình càng trở nên
khẩn thiết và cấp bách hơn, đặc biệt là giáo dục về hành vi ứng xử.
Ngay từ thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã viết “Gia huấn ca” để truyền dạy
cho con cháu những giá trị của văn hoá gia đình, trong đó ông đã đưa ra nhiều
nguyên tắc xây dựng gia đình vừa theo quan điểm của Nho giáo vừa kết hợp
nhân văn do Vũ Hào Quang chủ biên. Cuốn sách đã đề cập tới hiện trạng gia
đình Việt Nam một cách tương đối toàn diện và đa dạng. Đây cũng là một
công trình được biên soạn khá công phu, đề cập tới hiện trạng gia đình Việt
Nam một cách tương đối toàn diện và đa dạng, các số liệu điều tra xã hội học
có nhiều phát hiện tốt. [20]
Tiếp cận gia đình dưới góc độ các sai lệch chuẩn mực và giá trị, hai tác
giả Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh đã xuất bản cuốn sách khá công phu
có tiêu đề: “Bạo lực gia đình-một sự sai lệch giá trị”[25]. Cuốn sách đã đưa
7
ra những cảnh báo về thực trạng của hiện tượng bạo lực gia đình trong nền
kinh tế thị trường hiện nay, đồng thời tổng kết những nghiên cứu thực tiễn,
những mô hình quản lý, truyền thông, ngăn chặn bạo lực gia đình mà các tác
giả đã thực hiện. Đây cũng là cuốn sách cần được quan tâm dưới góc độ quản
lý nhà nước về gia đình.
Cuốn “Gia đình học” của hai tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý
[16] dày 690 trang khổ lớn, cập nhật nhiều thông tin lý thuyết mới về nghiên cứu
gia đình trên thế giới và Việt Nam. Các tác giả đã cố gắng tạo tiền đề và tìm một
sự thống nhất cho việc hình thành một khoa học nghiên cứu đặc thù về gia đình
là “Gia đình học”ở Việt Nam. Từ đối tượng nghiên cứu, các tác giả đã hệ thống
lại các quy luật, phạm trù, khái niệm và bộ công cụ tư duy của môn khoa học
này. Các tác giả cũng đưa ra nhiều quan điểm mới của cả thế giới và Việt Nam
rất đáng được nghiên cứu, tham khảo và tranh luận khoa học.
Mảng chủ đề về gia đình và việc chăm sóc giáo dục trẻ em cũng đã
được quan tâm chú ý nhiều. Tiêu biểu cho xu hướng này có: Đặng Cảnh
Khanh - Gia đình và việc giáo dục các giá trị truyền thống cho trẻ em”[15].
Đáng chú ý trong cuốn sách này, tác giả đã dành một phần đáng kể đề phân tích
vai trò của gia đình đối với việc giáo dục, làm hình thành nhân cách trẻ em thông
qua các giá trị truyền thống của người Việt.
hành vi ứng xử trong các gia đình tại huyện Thanh Trì hiện nay.
Phân tích vai trò của gia đình trong việc giáo dục vị thành niên về
hành vi ứng xử.
Đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường vai trò của gia đình trong
việc giáo dục vị thành niên về hành vi ứng xử.
9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan đến hành vi ứng xử
ở tuổi vị thành niên và các tài liệu có liên quan đến vai trò của gia đình trong
việc giáo dục hành vi ứng xử vị thành niên.
Hệ thống các khái niệm có liên quan đến vai trò của gia đình trong việc
giáo dục trẻ vị thành niên về hành vi ứng xử: Vai trò xã hội; hành vi ứng xử;
vị thành niên.
Hệ thống các lý thuyết xã hội học có liên quan đến vai trò của gia đình
trong việc giáo dục vị thành niên về hành vi ứng xử.
Nhận diện vai trò của gia đình trong việc giáo dục vị thành niên về
hành vi ứng xử.
Phân tích các yếu tố tác động đến vai trò của gia đình trong việc giáo
dục vị thành niên về hành vi ứng xử.
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Vai trò của gia đình trong việc giáo dục vị thành niên về hành vi ứng xử.
4.2 Khách thể nghiên cứu:
- Trẻ vị thành niên từ 15 – 17 tuổi đang sinh sống tại huyện Thanh Trì
- Bố mẹ có con ở tuổi vị thành niên đang sinh sống tại huyện Thanh
Trì, Hà Nội.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
đề cương nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên
cứu. Trước khi tiến hành điều tra khảo sát, tác giả nghiên cứu đã tiến hành
phân tích các tài liệu thu thập được có liên quan đến các vấn đề của đề tài
nghiên cứu. Trên cơ sở đó phát hiện vấn đề chưa được đề cập, chưa được làm
11
sáng tỏ từ đó hướng nghiên cứu làm rõ vấn đề còn thiếu.Tài liệu là các công
trình nghiên cứu trước đây như sách, bài báo, tạp chí… có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu.
Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp được sử dụng trong quá trình thu thập thông
tin trên địa bàn nghiên cứu. Phương pháp này được thực hiện trong quá trình
khảo sát trực tiếp trên địa bàn nghiên cứu nhằm bổ sung thêm những hiểu biết
cần thiết về môi trường sống, thái độ, hành vi biểu hiện của đối tượng được
nghiên cứu.
Phương pháp điều tra xã hội học, bao gồm:
Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket) với 200
trẻ vị thành niên (từ 15- dưới 18 tuổi). Các thông tin phục vụ mục đích nghiên
cứu được thu thập theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi được
thiết kế sẵn. Bảng hỏi được thiết kế nhằm thu thập thông tin làm rõ vai trò của
gia đình trong việc giáo dục vị thành niên về hành vi ứng xử.Toàn bộ số liệu
sau khi tiến hành điều tra được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.
Phương pháp nghiên cứu định tính
Bên cạnh phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả đã lựa chọn sử
dụng phương pháp phỏng vấn sâu với 10 cha/ mẹ có con đang ở tuổi vị thành
niên và thảo luận 4 nhóm cha mẹ và vị thành niên nhằm thu thập thông làm rõ
các ý kiến, những quan điểm, thái độ của các nhóm đối tượng khác nhau dựa
trên nguyên tắc cùng tham gia, trao đổi, thảo luận.
GIÁO DỤC VỊ THÀNH
NIÊN VỀ HÀNH VI ỨNG
XỬ
Sự tiếp nhận của VTN với
nội dung, phương pháp
giáo dục hành vi ứng xử
của gia đình
Sự ảnh hưởng nội dung,
phương pháp giáo dục hành
vi ứng xử của gia đình đến
hành vi ứng xử của VTN
13
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn tìm hiểu và áp dụng các lý thuyết xã hội học vào khảo sát, từ
đó góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về vai trò của gia đình trong
việc giáo dục vị thành niên về hành vi ứng xử.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn làm rõ thêm cơ sở lý luận về nhu cầu của trẻ vị thành niên đối
với nội dung, phương pháp giáo dục của gia đình, vai trò của gia đình trong
việc giáo dục vị thành niên về hành vi ứng xử.
Kết quả nghiên cứu được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên
cứu và học tập về những vấn đề có liên quan đến trẻ vị thành niên.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu 3 phần:
xã hội, mỗi cá nhân cần phải thực hiện những hành động nhất định. Tức là,
tương ứng với từng địa vị sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi. Mô
hình hành vi được xã hội mong đợi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã
hội đó. Vậy, vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập khách quan căn cứ
vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định, để thực hiện những quyền
và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó.[4, tr.573]
15
Như vậy vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội.
Những đòi hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội.Các
chuẩn mực này thường không giống nhau trong các loại xã hội.Vì vậy, ở các
xã hội khác nhau cùng một vị thế xã hội nhưng mô hình hành vi được xã hội
mong đợi rất khác nhau, tức là vai trò xã hội cũng khác nhau.
Để cá nhân có thể thực hiện tốt các vai trò, một mặt, các đòi hỏi, chuẩn
mực do xã hội đặt ra phải rõ ràng.Mặt khác, cá nhân phải học hỏi về các vai
trò trong quá trình xã hội hóa, tức là học hỏi về những yêu cầu, đòi hỏi mà họ
cần phải thực hiện tiếp nhận một vị thế xã hội nhất định.Tuy nhiên, không
phải bao giờ những điều mà cá nhân hiểu về vai trò và sự mong đợi của xã hội
đối với các vai trò đó cũng sẽ phù hợp với nhau.Hơn nữa, cá nhân nhiều khi
không thực hành tất cả những hiểu biết của họ về các đòi hỏi với những vai
trò trên thực tế.Chính vì thế, chúng ta thường thấy độ chênh nhất định giữa
kiến thức về vai trò, việc thực hiện vai trò và vai trò được xã hội kỳ vọng
(mong đợi).Sự chênh lệch càng nhiều chứng tỏ cá nhân càng không đáp ứng
được đời hỏi của xã hội. Cá nhân nào không thực hiện đầy đủ những đòi hỏi
của vai trò, tức là chưa thực hiện đúng vai trò của xã hội của mình thì thường
bị lên ấn vì không làm tròn bổn phận [6, tr.273].
Trong thực tế cá nhân có thể rơi vào tình huống xung đột vai trò, xảy ra
khi các kỳ vọng trái ngược nhau xuất hiện, từ hai hay nhiều địa vị mà một
sở huyết thống, nhân nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với nhau.[31, pg198]
“Gia đình là một dạng thiết chế xã hội đặc biệt liên kết con người lại
với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái. Các mối
quan hệ gia đình còn được gọi là các mối quan hệ họ hàng. Đó là những sự
liên kết ít nhất cũng là của hai người trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc
nhận nuôi con nuôi. Những người này có thể sống cùng hoặc khác một mái
nhà”. [15, tr38]
17
“Gia đình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết
thống hoặc nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng
chung sống, có ngân sách chung”. [27, tr.27]
Trong luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 của nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam (sửa đổi và bổ sung năm 2014) có nêu định nghĩa về gia đình như
sau: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và
quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các
thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết
thống hoặc con hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo
đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng
như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
Như vậy, gia đình không thể là một cá nhân mà với tư cách là một nhóm xã
hội. Ba yếu tố hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng là không thể thiếu được khi
nói đến gia đình. Trong đó là các mối quan hệ: vợ - chồng, cha mẹ - con cái, ông
bà – con cháu và anh - em…Trong nghiên cứu này, những người được khảo sát là
những người có mối quan hệ huyết thống, nghĩa dưỡng theo mô hình có bố mẹ và
con ở chung một mái nhà, có ngân sách chung và được pháp luật công nhận.