QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


Đề tài:

QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ
(Lớp sáng thứ 6 – Tiết 123 – Phòng A109)

GVHD : Th.S Phùng Thế Anh
SVTH :

TP.HỒ CHÍ MINH-T6/2016


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................1
1.

Lý do chọn đề tài.................................................................................................................. 1

2.

Mục tiêu nghiên cứu. ........................................................................................................... 2

3.

Những nội dung chính: ........................................................................................................ 2

NỘI DUNG .....................................................................................................................3

bên cùng có lợi. ........................................................................................................................ 6

2.2.1.

Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đôi bên cùng có lợi. ........................ 6

2.2.2. Vai trò của tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đôi bên cùng có
lợi trong giải quyết tranh chấp quốc tế. .......................................................................... 7
2.2.3. Việt Nam giải quyết các tranh chấp quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đôi bên cùng có lợi. ........................................................... 7
2.3. Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua đối thoại, thương lượng, tuyệt đối không sử
dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. ................................................................................. 8

2.3.1. Đối thoại, thương lượng, tuyệt đối không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực. ........................................................................................................................... 8
2.3.2. Vai trò của đối thoại, thương lượng, tuyệt đối không sử dụng hoặc đe dọa sử
dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp quốc tế. ........................................................... 9
2.3.3. Việt Nam giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua đối thoại, thương lượng,
tuyệt đối không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. ...................................... 10
2.4.

Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua các biện pháp pháp lý ................................. 10

2.4.1.

Biện pháp pháp lý quốc tế là gì? ..................................................................... 10

2.4.2.

Vai trò của các biện pháp pháp lý trong giải quyết tranh chấp quốc tế. ......... 11

quốc tế để mang lại hiệu quả cao nhất cho quốc gia. Việt Nam đã và đang bước chân
vào quá trình hội nhập quốc tế với những lợi thế và thách thức lớn phải giải quyết. Tuy
nhiên, việc chọn hợp tác với ai?, trên phương diện nào?, thời điểm nào? Cũng là những
câu hỏi khó mà Đảng và Nhà nước ta phải giải quyết.
Bên cạnh đó, bất cứ sự hợp tác, thỏa thuận nào cũng đều tìm ẩn những nguy cơ
xảy ra mâu thuẫn, bất đồng và xảy ra tranh chấp. Hơn nữa, tình hình thế giới tiếp tục
chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp, bất ổn và khó lường về ngoại giao giữa các nước
trong khu vực và trên thế giới. Do đó, đường lối đối ngoại đối với mỗi quốc gia, dân tộc
có một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác ngoại giao, nó được xác định là kim
chỉ nan cho công tác đối ngoại, quyết định sự thành bại của công tác đối ngoại. Đối với
Việt Nam, qua mỗi thời kỳ cách mạng, dựa trên thực tiễn trong và ngoài nước, Đảng ta
luôn xác định đường lối đối ngoại phù hợp với điều kiện của đất nước ở thời điểm đó.
Bước vào thời kì đổi mới, trước những biến đổi đa dạng, đa chiều của tình hình thế giới
cũng như trong khu vực, và tình hình nước ta cũng biến đổi to lớn sau 30 năm tiến hành
công cuộc đổi mới, với nhận thức đúng đắn về đối ngoại thời kì mới, tại Đại hội XI của
Đảng đã xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình
và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong
cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
vững mạnh” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia,
tr.235-236).
Vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề về giải quyết tranh chấp thực sự
rất cần thiết đối với tất cả mọi người, nhất là thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của
đất nước. Để mọi người hiểu rõ hơn về quan điểm, chủ trương của Đảng và thấy rằng
việc xây dựng và bảo vệ đất nước không phải là của Đảng, của Nhà nước, của các lãnh
1


đạo cấp cao… mà là của tất cả mọi người yêu nước trên đất nước mà ta đang sống, góp
phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, vững mạnh.
2. Mục tiêu nghiên cứu.

NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KIẾN THỨC CƠ BẢN
1.

Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo.

Cơ hội: Xu thế hòa bình, hợp tác phát triển và xu thế toàn cầu hóa kinh tế tạo
điều kiện thuận lợi cho nước ta mở rộng quan hệ đối ngoại; hợp tác phát triển kinh tế.
Mặt khác, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đã nâng cao thế và lực của nước ta trên trường
quốc tế, tạo tiền đề mới cho quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế.
Thách thức: Những vấn đề toàn cầu như phân hóa giàu nghèo, dịch bệnh, tội
phạm xuyên quốc gia…gây tác động xấu đến nước ta. Ngoài ra, nền kinh tế phải chịu
sức ép cạnh tranh và tác động của thị trường thế giới, tiềm ẩn nguy cơ gây rối loạn, thậm
chí gây khủng hoảng kinh tế - tài chính. Đặc biệt, các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài
“dân chủ”, “dân quyền” chống phá chế độ chính trị, sự ổn định, phát triển của nước ta.
Mục tiêu: Lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế xã hội là lợi ích cao nhất của tổ quốc. Mở rộng đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là
để tạo thêm nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; kết hợp nội lực với các
nguồn lực từ bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện
đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;phát huy
vai trò và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ khu vực và quốc tế.
Nhiệm vụ: Giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho
công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo:
Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt
Nam.
Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương

kinh tế quốc tế.
Giải quyết tốt các vấn đề văn hóa, xã hội và môi trường trong quá trình hội nhập.
Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối
ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại.
Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với
hoạt động đối ngoại.
4


2.

Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam về giải quyết

tranh chấp quốc tế.
2.1. Giải quyết tranh chấp quốc tế trên cơ sở tôn trọng Luật pháp quốc
tế.
2.1.1. Luật pháp quốc tế là gì?
Luật pháp quốc tế: là hệ thống những nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều
chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (trước hết và chủ yếu là
giữa các quốc gia). Quốc gia là một thực thể được cấu thành bởi 3 yếu tố: dân xư, lãnh
thổ và chính quyền có chủ quyền. Nói đến quốc gia là nói đến chủ quyền quốc gia tức
là nói đến quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập
của quốc gia trong quan hệ quốc tế.
2.1.2. Vai trò của Luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp.
Luật pháp quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó liên quan trực tiếp đến sự
phát triển và tồn vong của một quốc gia khi đặt chân vào sân chơi của thế giới:
+ Là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của
mỗi chủ thể trong luật pháp quốc tế.
+ Là nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninh của một quốc
gia và quốc tế.

APEC, WTO và còn là ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hiếp Quốc.
Điều này mang lại cho Việt Nam vị trí và tiếng nói nhất định trên trường quốc tế. Đồng
thời tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế đất nước ngày càng phát triển.
2.2. Giải quyết tranh chấp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ và đôi bên cùng có lợi.
2.2.1. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đôi bên cùng có lợi.
Độc lập: là quyền bất khả xâm phạm của một quốc gia của chính người dân sinh
sống ở đó, có nghĩa là có chủ quyền tối cao. Là tình trạng không bị điều khiển, cai trị
bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng hay chủ nghĩa đế
quốc.
Chủ quyền quốc gia: là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về
mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của
quốc gia đó. Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính
trị, quân sự, ngoại giao. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị và pháp lý thiết yếu
của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và
trong hệ thống pháp luật quốc gia.

6


Toàn vẹn lãnh thổ: là bảo đảm toàn vẹn vùng đất quốc gia, vùng biển quốc gia
(nội thuỷ và lãnh hải), vùng trời quốc gia, ngoài ra còn gồm lãnh thổ quốc gia đặc biệt
của một quốc gia theo công ước quốc tế.
Đôi bên cùng có lợi: là các quốc gia liên quan cùng thực hiện một hành động,
phát ngôn,… phù hợp với công ước, nguyên tắc quốc tế giúp đem lại lợi ích cho nhau
hoặc ích nhất là lợi ích của đôi bên không bị phương hại.
2.2.2. Vai trò của tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
và đôi bên cùng có lợi trong giải quyết tranh chấp quốc tế.
Tạo ra vị thế bình đẳng giữa các quốc gia trên thế giới: mỗi quốc gia đều có
quyền hạn và nghĩa vụ như nhau trong Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, không phân biệt

Trong giải quyết các vấn đề về tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước ta
luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa
bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của hai
bên.
Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đối ngoại
quốc phòng đã chủ động, tích cực mở rộng quan hệ song phương và hoạt động trên các
diễn đàn đa phương đê phục vụ cho sự nghiệp đối ngoại chung, gớp phần giải quyết các
vấn đề về biển Đông.
2.3.

Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua đối thoại, thương

lượng, tuyệt đối không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
2.3.1. Đối thoại, thương lượng, tuyệt đối không sử dụng vũ lực
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Đối thoại là ngồi lại trao đổi với nhau những vấn đề mà các bên tham gia đối
thoại quan tâm. Trong ngoại giao, đối thoại được dùng để nói lên quan điểm của khách
quan của quốc gia mình và lắng nghe quan điểm của các bên cùng đối thoại. Mục đích
cuối cùng là đạt được sự thống nhất trong quan điểm và đi đến hành động.
Thương lượng là phương tiện dùng để giải quyết mâu thuẫn giữa các bên. Để
dung hòa các lợi ích không cùng chiều này các bên tham gia phải ngồi vào bàn đàm
phán, thương lượng. Thương lượng là hành vi và quá trình điều hòa quan hệ giữa các
bên tham gia, thông qua hiệp thương mà đi đến ý kiến thống nhất. Thương lượng là
phương tiện cơ bản giúp chúng ta đạt được những điều mà chúng ta mong muốn từ người
khác.
Sử dụng vũ lực được hiểu là sử dụng sức mạnh vũ trang để chống lại quốc gia có
độc lập chủ quyền; việc sử dụng các biện pháp khác như: kinh tế, chính trị ( phi vũ trang)

8


Hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang giữa các bên có
tranh chấp: các vấn đề tranh chấp khi được đưa ra thảo luận, bàn bạc một cách công
9


khai ít nhất là với những nước liên quan sẽ giúp cho vấn đề được đối chiếu trên quan
điểm của nhau để tìm ra điểm trái chiều, từ đó buộc các bên phải bảo vệ quan điểm đối
lập của mình bằng phương pháp luận khoa học trên nền tảng tôn trọng luật pháp quốc tế
2.3.3. Việt Nam giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua đối thoại,
thương lượng, tuyệt đối không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Việt Nam trên thực tế, đã áp dụng giải quyết các tranh chấp quốc tế thông qua
đối thoại, thương lượng, tuyệt đối không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng bạo lực khá
tốt và thường đạt nhiều kết quả tốt đẹp như mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, cũng
như các nước châu Âu đang ngày càng được phát triển.
Việt Nam kiên trì lập trường nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ của các quốc gia, phản đối các hành động sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực, chủ trương giải quyết các tranh chấp, nhất là các tranh chấp ở Biển Đông, bằng biện
pháp hòa bình trên cơ sở Luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển
năm 1982 và các quy tắc ứng xử chung ở khu vực.
Trong bối cảnh còn bất ổn và nguy cơ xung đột ở nhiều nơi trên thế giới, Việt
Nam cho rằng tất cả các quốc gia cần tôn trọng Luật pháp quốc tế, từ bỏ việc sử dụng
vũ lực hoặc đe dọa dũng vũ lực trong quan hệ quốc tế và thúc đẩy giải quyết tranh chấp
bằng các biện pháp hòa bình. Hơn lúc nào hết, các quốc gia thành viên, không phân biệt
lớn – nhỏ, giàu – nghèo đều phải tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc,
chuẩn mực, quy định của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liê hiệp quốc.
Vậy có thể kết luận rằng việc giải quyết các tranh chấp quốc tế thông qua đối
thoại, thương lượng, tuyệt đối không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng bạo lực là hết
sức cần thiết và quan trọng trong đường lối đối ngoại của Việt Nam cũng như của các
quốc gia, dân tộc trên thế giới nhằm duy trì hòa bình và đời sống ấm no cho nhân loại.
2.4.

nước khi các giải pháp chính trị, ngoại giao rơi vào bế tắc.
2.4.3. Việt Nam giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua các biện
pháp lý.
Chủ trương nhất quán của Việt Nam trong vấn đề tranh chấp quốc tế là kiên trì
thông qua các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp, trên cơ sở luật pháp và
công ước quốc tế, vận dụng tổng hợp các biện pháp đấu tranh, chủ yếu bằng chính trị,
ngoại giao và coi trọng đấu tranh pháp lý.
Đối với Việt Nam hiện nay, việc sử dụng các biện pháp pháp lý để giải quyết các
tranh chấp quốc tế là cần thiết, nhất là trong thời kì vừa qua có xảy ra tranh chấp biển
đảo với Trung Quốc.
Việc đấu tranh bằng con đường ngoại giao pháp lý là nỗ lực bền bỉ mà các nước
nhỏ như Việt Nam cần theo đuổi trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ, hay tranh chấp
trên các vùng biển. Đứng trước pháp luật, công lý, các quốc gia dù lớn hay nhỏ cũng
11


đều có vị thế bình đẳng như nhau. Cũng không thể loại trừ khả năng cuộc đấu tranh ngày
càng công khai, sử dụng công luận và công cụ pháp lý hiệu quả sẽ mở ra khả năng sử
dụng các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết tranh chấp hoặc hạn chế ít các hành
động gây hấn, các tuyên bồ yêu sách vô lí không tuân thủ Công ước Luật biển năm 1982.
Vì vậy, Việt Nam cần vận dụng linh hoạt tất cả các biện pháp hòa bình để giải quyết các
tranh chấp, đặc biệt tận dụng thế mạnh pháp lý và công luận để bảo vệ chủ quyền thiêng
liêng của Tổ quốc.
Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180/193 quốc gia thành viên Liên
Hiệp Quốc và các quan hệ quốc tế được đa dạng hóa, đa phương hóa. Đó là những tiền
đề thuận lợi cho việc huy động và kết hợp chặt chẽ hai nguồn lực to lớn - sức mạnh dân
tộc và sức mạnh thời đại - trong sự nghiệp bảo vệ đất nước hiện nay. Đồng thời với
truyền thống đề cao chính nghĩa lên hàng đầu, Việt Nam luôn cân nhắc trong mọi hành
động và tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới trong các vấn đề liên quan đến Việt Nam.
Trước khi sử dụng biện pháp pháp lý để giải quyết các tranh chấp quốc tế, Việt

quyền lãnh thổ thông qua biện pháp đàm phán như một giải pháp tối ưu hiện nay cho
các quốc gia tranh chấp ở biển Đông.
Hiện tại, chưa có một khái niệm nhất quán nào về đàm phán và Luật pháp quốc
tế cũng chưa có quy định cụ thể về quy trình, thủ tục pháp lý khi tiến hành quá trình đàm
phán để giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển. Tuy nhiên trong bối cảnh
quốc tế hiện nay, thì đàm phán là một thuật ngữ thường được nhắc tới và sử dụng phổ
biến trong đời sống quốc tế, nhất là trong quá trình đàm phán ngoại giao giữa các quốc
gia trên thế giới bởi tính chất linh hoạt của biện pháp này. Các quốc gia có thể tiến hành
đàm phán để giải quyết bất kỳ tranh chấp nào phát sinh với một hay nhiều quốc gia khác
mà không phụ thuộc vào bản chất hay nội dung của tranh chấp là gì (có thể là kinh tế,
chính trị, lãnh thổ hay biên giới). Hơn thế nữa, các quốc gia không bị ràng buộc bởi các
quy trình, thủ tục nghiêm ngặt như đối với các biện pháp tài phán mà hoàn toàn có thể
tiến hành theo mong muốn, ý chí của các bên có liên quan. Trong quá trình tiếp xúc trực
13


tiếp, các bên hữu quan có khả năng tìm hiểu lập trường của nhau rõ ràng hơn và bằng
thiện chí, có thể đi đến những giải pháp thỏa đáng cho tất cả các bên. Trong nhiều trường
hợp, đàm phán không nhất thiết phải đi đến một giải pháp cuối cùng, mà đơn thuần đóng
vai trò như một diễn đàn chung để các bên liên quan trao đổi ý kiến, xác định các vấn
đề chưa đạt được nhất trí chung cũng như thảo luận, đàm phán những vấn đề cốt lõi và
thủ tục cho việc áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp khác về sau. Chính sự linh
hoạt và tự do khá lớn mà các quốc gia có được trong quá trình áp dụng, biện pháp đàm
phán được áp dụng phổ biến hơn các biện pháp khác và thường mang lại hiệu quả trong
việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên. Có thể thấy được điều này thông qua thống
kê các hiệp định (hay điều ước) phân định trên biển tính đến ngày 25/11/2014 dưới đây:
- Khu vực Châu Phi: 29 hiệp định đã ký kết (chiếm 11,7%);
- Khu vực Châu Á: 53 hiệp định đã ký kết (chiếm 21,4%);
- Khu vực Châu Âu: 93 hiệp định đã ký kết (37,6%);
- Khu vực Châu Mỹ: 50 hiệp định đã ký kết (20,2);

trung gian, hòa giải; ủy ban điều tra và ủy ban hòa giải quốc tế; trong khuôn khổ các tổ
chức quốc tế và biện pháp ngoại giao công chúng cũng là những biện pháp quan trọng
trong quá trình giải quyết tranh chấp, song chúng chỉ là một trong các biện pháp bổ trợ
cho biện pháp đàm phán mà thôi. Thực tế thống kê về các vụ tranh chấp biển, thì chưa
có vụ tranh chấp nào chỉ sử dụng đơn thuần một trong các biện pháp trên.
Trong khi đó, việc sử dụng biện pháp đàm phán (có thể là song phương hoặc đa
phương) trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông sẽ làm sáng tỏ những bất đồng,
là cơ hội, điều kiện thuận lợi nhất để các bên tranh chấp bày tỏ quan điểm, lập trường,
yêu sách của mình về vấn đề tranh chấp và cùng nhau thương lượng, nhượng bộ để giải
quyết. Hơn thế nữa, trong quá trình đàm phán sẽ giúp Việt Nam hoàn toàn kiểm soát
được nội dung, thủ tục và tiến trình giải quyết tranh chấp mà không bị cuốn vào quá
trình tố tụng kéo dài. Và trong khi vấn đề chủ quyền giữa các quốc gia trên biển chưa
được giải quyết triệt để thì sử dụng biện pháp đàm phán để giải quyết là một trong những
hướng đi đúng đắn giúp Việt Nam tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế, từ đó có thể
xây dựng các đối sách phù hợp đồng thời có thời gian củng cố thêm cơ sở pháp lý để
bảo vệ quan điểm chính đáng của mình và phản bác những lập luận, yêu sách sai trái
của đối phương.
Chủ trương của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích của quốc gia
trên Biển Đông; giữ gìn môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước, giải quyết các
tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của
Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước quốc tế của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm
15


1982 và “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC). Thực tế, Việt Nam đã và
đang thực hiện rất tích cực biện pháp đàm phán và cần tiếp tục kiên trì thực hiện trong
tương lai.
Để biện pháp đàm phán mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình giải quyết
tranh chấp, chúng ta cần chú ý các vấn đề sau:
Một là, cần tôn trọng các nguyên tắc, tuân thủ quy định của pháp luật quốc tế một

Bảy là, do hoàn cảnh hiện nay các nước khu vực Biển Đông đều có lợi ích từ
vùng biển này nên trong đàm phán cần biết cân đối lợi ích giữa các bên để có thể đem
đến một sự công bằng tương đối cũng như bảo vệ được lợi ích hợp pháp của quốc gia
mình.
Tám là, trong đàm phán cần có lập trường vững vàng cũng như thái độ rõ ràng,
dứt khoát để kiên quyết phản đối những hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền
và quyền tài phán của các quốc gia.
Chín là, cần thỏa thuận các điều khoản là chế tài ràng buộc nghĩa vụ pháp lý của
các bên tham gia ký kết nhằm giúp các điều ước đó thực hiện và có ý nghĩa cũng như
giá trị thật sự trên thực tế.
Cuối cùng, cần đặc biệt lưu ý chuẩn bị hồ sơ đàm phán, nhất là hồ sơ pháp lý một
cách đầy đủ, chặt chẽ, khách quan, khoa học… nhằm có đủ luận cứ, luận chứng để bảo
vệ các quan điểm chính đáng của mình và phản bác những lập luận, yêu sách sai trái của
đối phương.
3. Trách nhiệm của sinh viên trong xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trong những năm qua, sinh viên cả nước dưới những chủ trưởng, chính sách của
Đảng và Nhà nước đã phát huy tài năng và sức trẻ của mình, đóng góp công sức để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hình ảnh của những con người trẻ tuổi thông minh, năng động,
giàu nhiệt huyết đang ngày đêm miệt mài học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học, tham
gia các hoạt động xã hội luôn là hình ảnh đẹp, xứng đáng được ngợi ca và khuyến khích
phát huy.
Hiện nay, hầu hết sinh viên của chúng ta đều nhận thức được vai trò, nhiệm vụ
của mình trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, họ có ý thức chuẩn bị những hành trang
cần thiết để tu thân, lập nghiệp. Sự thông minh, nhanh nhẹn và sáng tạo của tuổi trẻ đã
giúp các bạn sinh viên không còn bó hẹp phạm vi tiếp cận thông tin, giao lưu, học hỏi
trong nước mà có thể mở rộng giao tiếp, tiếp cận thông tin rộng rãi và nhanh chóng trong
khu vực và trên toàn thế giới, nắm bắt nhiều cơ hội phát triển bản thân, quảng bá hình
ảnh của Việt Nam với bạn bè quốc tế, góp phần nâng vị trí của đất nước sánh với các
cường quốc trên thế giới.
17


KẾT LUẬN
Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia thì những tranh chấp vượt ra ngoài
biên giới lãnh thổ luôn luôn ẩn hiện dưới mọi hình thức khác nhau, và ở mỗi thời kỳ thì
việc giải quyết các tranh chấp quốc tế ấy được thực hiện mang đậm đặc trưng của dấu
ấn thời đại. Nhân loại đang đứng trước thế giới của hòa bình, hợp tác cùng phát triển.
Nhưng bên dưới bề mặt phẳng phiêu ấy vẫn còn tồn tại những tranh chấp đang tiềm ẩn.
Và giải quyết các tranh chấp quốc tế sao cho lợi ích quốc gia đảm bảo không bị xâm
phạm đồng thời bình thường hóa được các mối quan hệ với các bên liên quan, giữ được
không khí ôn hòa chung, hạn chế đến mức thấp nhất có thể các tổn thất cho các bên.
Gắn liền với nó là những phương pháp mang đậm tính văn minh, nhân đạo của loài
người, dựa trên cơ sở của Luật pháp Quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, sử dụng
các biện pháp pháp lý để bảo vệ lợi ích chính đáng của chính quốc, là tôn trọng độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đôi bên cùng có lợi, sử dụng đối thoại, thương lượng,
trực tiếp đàm phám hoặc thông qua cơ quan trung gian hòa giải để truyền đạt đến nhau
ý kiến, quan điểm riêng của mỗi bên nhầm tìm ra nguyên nhân và đề đạt giải pháp xử lý
chung mà mỗi bên vẫn đảm bảo được lợi ích.
Việt Nam cũng không ngoại lệ với rất nhiều những tranh chấp mà Đảng, Nhà
nước phải đối mặt, phải giải quyết hợp lý. Nhưng nhờ sự nhìn nhận, đề đạt và vận dụng
đúng đắng, sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng trong giải quyết các tranh chấp
quốc tế, kết hợp truyền thống nhân nghĩa, yêu chuộng hòa bình lâu đời của dân tộc và
bầu không khí chung của loài người tiến bộ, chúng ta đã vượt qua được những “thử
thách” lớn về vấn đề đối ngoại của đất nước. Thực tiễn cho thấy trên trường quốc tế Việt
Nam luôn là người bạn tốt, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng
quốc tế.
Đặc biệt, trong thời kỳ toàn cầu hóa như hiện nay thì vấn đề giải quyết tranh chấp
cần được quan tâm một cách bức thiết và nhiều hơn nữa để đất nước có thể hội nhập
cùng thế giới, đồng thời bảo vệ chủ quyền, quyền lợi, lợi ích hợp pháp của đất nước.
Cũng có thể khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước ta đã đang và sẽ tiếp tục quan tâm hơn
nữa đến việc giải quyết các tranh chấp quốc tế. Đồng thời, những khuyết điểm bất cập


2.

3.

4.

Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng Sản
Việt Nam.
Một số chủ trương chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối
ngoại
Giải quyết tranh chấp quốc tế trên cơ sở tôn trọng Luật pháp
quốc tế
Giải quyết tranh chấp quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đôi bên cùng có lợi

Kiều Minh Thiện

Phạm Thanh Tuấn
Võ Thanh Cương

Lâm Thanh Sang

Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua đối thoại, thương
5.

lượng, tuyệt đối không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ

Nguyễn Đức Dũy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status